|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án: 23/2024/ HS-ST. Ngày: 26 - 11-2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA – TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hoa
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồng Vân
Ông Nguyễn Ngọc Dũng
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Minh Phương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên toà: Ông Hà Trọng Lam - Kiểm sát viên.
Ngày 26/11/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 29/2024/HSST ngày 28/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2024/QĐXXST - HS ngày 15 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Cao Văn H - Sinh năm 1993; căn cước công dân số: [...]; Giới tính: Nam; ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: xóm X, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Thanh H1 và bà Bùi Thị H2; có vợ: Võ Thị G (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2015; tiền án: Ngày 26/10/2022 bị Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tiền sự: Không; nhân thân: Năm 2018 bị Công an thành phố V, tỉnh Nghệ An xử phạt hành chính về hành vi “Cố ý nhận hàng hóa nhập lậu”, năm 2021 bị Công an xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An xử phạt hàn chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/8/2024 đến ngày 23/8/2024 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Anh Nguyễn Văn S – Sinh năm 1982 (đã chết).
- Người đại diện hợp pháp cho bị hại: Chị Bùi Thị H3 – Sinh năm 1987 Trú tại; thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, vợ anh S ( vắng mặt) .
- Bị đơn dân sự: Công ty TNHH -, Địa chỉ; số A, T, khối A, phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thị Quỳnh N- phó giám đốc Ông Lê Nam N1 - Giám đốc. ( vắng mặt)
- Người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Cao Thanh H1 - Sinh năm 1966 ( bố bị cáo). Trú tại; Xóm X, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An ( có mặt).
- Anh Nguyễn Sỹ S1 - Sinh năm 1986. Trú tại; phố F, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt).
- Ngân hàng TMCP S3 – Chi nhánh N2 phòng G1. Địa chỉ: Số G, phố T, phường T, Quận H, thành phố Hà Nội; Đại diện ông Phạm Ngọc H4 – Giám đốc phòng giao dịch.( vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bị cáo Cao Văn H bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Hồi 17h38' ngày 14/8/2024, Cao Văn H có giấy phép lái xe hợp lệ (hạng E), điều khiển xe ô tô khách BKS: 37B-028.78, chủ xe là Công ty TNHH -, ở số A T, thành phố V, tỉnh Nghệ An, chạy trên đường Đ, theo hướng Hà Nội – Nghệ An (hướng Đông – T), khi vào vòng xuyến siêu thị B, thuộc phường Đ, thành phố T do không giảm tốc độ đến mức an toàn và không chú ý nhường đường cho xe đi từ bên trái vòng xuyến nên đã đâm va vào xe mô tô BKS: 36B2-491.69 do anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1982, ở thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa điều khiển chạy trên đường Đ, theo hướng N - Bắc và xe ô tô BKS: 30H-040.58 do Nguyễn Sĩ S2, sinh năm 1986, ở phố F, phường Q, thành phố T điều khiển chạy trên đường Đ, theo hướng N - B đang lưu thông trong khu vực vòng xuyến phía trước bên trái xe ô tô 37B-028-78.
Hậu quả anh S bị đâm va, kẹt giữa hai xe ô tô và tử vong tại chỗ; hai xe ô tô bị hư hỏng nhẹ (BL: 37->41; 146->151; 182->192).
Sau khi vụ tai nạn xảy ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, Phòng PC09 Công an tỉnh T và các lực lượng liên quan tổ chức khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám nghiệm phương tiện và xác minh thu thập tài liệu, chứng cứ liên quan. Kết quả khám nghiệm hiện trường:
Hiện trường vụ tai nạn giao thông xảy ra tại Km 326+500 Quốc lộ A vòng xuyến BigC (chim H), phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Vòng xuyến BigC có các hướng đi như sau: Hướng T là Đại lộ Hùng Vương đi cầu H, hướng Đ là Đại lộ H đi Nghệ An, hướng T là Đại lộ L đi Bưu điện tỉnh T, hướng Đông Bắc là Đại lộ N đi cầu Nguyệt Viên.
Hiện trường chính vụ tai nạn giao thông xảy ra tại phần đường thuộc hướng Bắc vòng xuyến BigC. Mặt đường được rải nhựa tương đối bằng phẳng có kích thước rộng không đồng đều, đoạn rộng nhất 30m. Đường thông thoáng không bị che khuất tầm nhìn. Vòng xuyến BigC có đường kính rộng 80m. Mặt đường được phân chia thành nhiều làn đường chuyển hướng đi khác nhau bằng vạch kẻ đường 2.1 (vạch đơn nét đứt màu trắng). Lấy vị trí mốc Km 326+500 nằm trên dải phân cách cứng hướng Đông Bắc vòng xuyến làm điểm mốc (dải phân cách giữa vòng xuyến với đường chuyển hướng từ Đại lộ N đi Đại lộ H hướng đi cầu H). Lấy tâm vòng xuyến BigC làm điểm chuẩn. Mở rộng hiện trường về phía Đông theo hướng Đại lộ Nguyễn Hoàng cách điểm mốc 150m có biển báo P127 (Tốc độ tối đa cho phép 50km/h). Quá trình khám nghiệm xác định vị trí nạn nhân, phương tiện và các dấu vết, vật chứng như sau:
(1) Cách điểm mốc về hướng T 9,3m trên mặt đường cách điểm chuẩn 67,5m là đầu vết tỳ trượt dạng song song, tổng KT trong diện (20,4x0,5)m. Vết có chiều Đông Bắc - T, bề mặt vết bám dính chất màu đen (dạng cao su). Cuối vết trùng với vị trí bánh trước bên trái xe ô tô BKS 37B-028.78 đỗ trên mặt đường.
(2) Cách đầu vết (1) về hướng T 5,2m trên mặt đường, cách điểm chuẩn 62,2m là đầu vết tỳ trượt KT trong diện (15,9x0,3)m. Vết có chiều Đông Bắc - T, bề mặt vết bám dính chất màu đen (dạng cao su). Cuối vết trùng với vị trí bánh trước bên phải xe ô tô BKS 37B-028.78 dừng đỗ trên mặt đường.
(3) Vị trí xe ô tô BKS 37B-028.78 dừng đỗ cuối cùng trên mặt đường. Đầu xe quay hướng T, đuôi xe quay hướng Đông Bắc. Hình chiếu tâm trục bánh trước bên trái cách điểm chuẩn 56,1m; hình chiếu tâm trục bánh ngoài cùng phía sau bên trái cách điểm chuẩn 58,6m.
(4) Cách hình chiếu tâm trục bánh trước bên trái xe ô tô BKS 37B-028.78 về hướng Đông 2,5m, trên mặt đường cách điểm chuẩn 56,7m là điểm đầu chùm vết cà trượt không liên tục, không rõ hình KT trong diện (4,1x0,35)m, vết có chiều Đ - Tây. Cuối vết trùng với vị trí xe mô tô BKS 36B2-491.69 ngã trái trên mặt đường.
(5) Vị trí xe mô tô BKS 36B2-491.69 nằm ngã trái trên mặt đường. Đầu xe quay hướng T, đuôi xe quay hướng Đông Nam. T trục bánh trước cách mép chuẩn 56,3m; tâm trục bánh sau cách mép chuẩn 55,3m.
(6) Vị trí nạn nhân tử vong tư thế ngồi úp gục, mặt tiếp giáp trên mặt đường. Đầu nạn nhân quay hướng Tây, cách tâm trục bánh trước xe mô tô BKS 36B2-491.69 về hướng Bắc 1,2m; cách điểm chuẩn 55,1m; hai tay co giơ ngang đầu, hai chân co gập ngang bụng, phần mông phải tiếp giáp yên xe mô tô BKS 36B2-491.69.
(7) Vị trí xe ô tô BKS 30H-040.58 dừng đỗ cuối cùng trên mặt đường. Đầu xe quay hướng Tây, đuôi xe quay hướng Đông. Hình chiếu tâm trục bánh sau bên phải cách tâm trục bánh sau xe mô tô BKS 36B2-491.69 về hướng T 0,8m; hình chiếu tâm trục bánh trước bên trái cách điểm chuẩn 53,1m; hình chiếu tâm trục bánh sau bên trái cách điểm chuẩn 53,3m (BL: 37->41).
Kết quả khám nghiệm phương tiện: Tại Bản giám định số 3212/KL-KTHS ngày 04/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:
- Va chạm giữa xe ô tô BKS 37B-028.78 với xe mô tô BKS 36B2-491.69: Điểm va chạm đầu tiên: Mặt trước ngoài bên trái ba đờ sốc trước xe ô tô BKS 37B-028.78 với mặt ngoài cánh yếm bên phải, ốp nhựa bên phải thân xe mô tô BKS 36B2-491.69. Tại thời điểm va chạm xe ô tô BKS 37B-028.78 có hướng chuyển động từ phải sang trái so với hướng chuyển động của xe mô tô BKS 36B2-491.69. Vị trí va chạm giữa hai phương tiện nằm trước đầu chùm vết cà trượt số (4) được thể hiện trong biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường, trong khu vực vòng xuyến BigC, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
- Va chạm giữa xe mô tô BKS 36B2-491.69 với xe ô tô BKS 30H-040.58: Điểm va chạm đầu tiên: Mặt trên ốp nhựa đầu xe, gương chiếu hậu bên phải xe mô tô BKS 36B2-491.69 với mặt ngoài phần sau chắn bùn bánh trước bên phải, mặt trước dưới cánh cửa trước bên phải (cách mặt trước ba đờ sốc trước 120cm) xe ô tô BKS 30H-040.58. Tại thời điểm va chạm xe mô tô BKS 36B2-491.69 trong trạng thái ngã nghiêng trái trên mặt đường. Vị trí va chạm giữa hai phương tiện nằm sau đầu chùm vết cà trượt số (4) được thể hiện trong biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường, trong khu vực vòng xuyến BigC, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
- Va chạm giữa xe ô tô BKS 37B-028.78 với xe ô tô BKS 30H-040.58: Điểm va chạm đầu tiên: Mặt ngoài trước bên trái trán xe, cụm đèn chiếu sáng phía trước bên trái xe ô tô BKS 37B-028.78 với mặt ngoài phần sau chắn bùn bánh trước bên phải, phần trước cánh cửa trước bên phải, mặt trước gương chiếu hậu bên phải (cách mặt trước ba đờ sốc trước 123cm) xe ô tô BKS 30H-040.58. Tại thời điểm va chạm xe ô tô BKS 30H-040.58 có hướng chuyển động từ trái sang phải, chếch cùng chiều so với hướng chuyển động của xe ô tô BKS 37B-028.78. Vị trí va chạm giữa hai phương tiện nằm sau đầu chùm vết cà trượt số (4), được thể hiện trong biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường, trong khu vực vòng xuyến B, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
- Không đủ cơ sở xác định vận tốc của các phương tiện tại thời điểm xảy ra tai nạn (BL: 107->114).
Kết quả khám nghiệm tử thi Nguyễn Văn S: Tại Bản kết luận giám định tử thi số 3065/KLGĐTT-PC09 ngày 22/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận nguyên nhân chết của Nguyễn Văn S: Đa chấn thương (BL: 80, 81, 83, 84).
Kết quả kiểm tra nồng độ cồn và ma tuý: Tại Bản kết luận giám định số 3112/KL-KTHS ngày 27/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Mẫu máu của Nguyễn Văn S niêm phong gửi giám định không có cồn (BL: 92). Cơ quan CSĐT Công an thành phố T đã phối hợp với Cán bộ Đội Cảnh sát giao thông trật tự Công an thành phố T sử dụng thiết bị chuyên dụng để tiến hành kiểm tra nồng độ cồn đối với Cao Văn H, kết quả: Cao Văn H không có nồng độ cồn trong khí thở (BL: 177, 178). Tại Bản kết luận giám định số 6315/KL-KTHS ngày 28/8/2024 của V Bộ C kết luận: Không tìm thấy chất ma tuý và sản phẩm chuyển hoá của chất ma tuý trong mẫu máu ghi thu của Cao Văn H gửi giám định (BL: 101). Tại Bản kết luận giám định số 3502/KL-KTHS ngày 24/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Không phát hiện dấu vết chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong một tệp video của một đĩa DVD gửi giám định. Trích xuất 03 ảnh từ tệp video gửi giám định (BL: 124).
- Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo Cao Văn H cùng với chủ phương tiện đã tự thỏa thuận và bồi thường cho gia đình nan nhân anh Nguyễn Văn S tổng số tiền 300.000.000 đồng và không có yêu cầu gì về bồi thường. Chị Bùi Thị H3 (vợ anh S) là người đại diện cho gia đình bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Cao Văn H (BL: 153->155, 163, 164).
Đối với xe ô tô BKS: 30H-040.58 sau tai nạn bị hư hỏng nhẹ, các bên đã tự thỏa thuận giải quyết xong và không có yêu cầu, đề nghị gì về bồi thường dân sự (BL: 151A). Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại xe ô tô BKS: 37B-028.78; xe ô tô BKS: 30H-040.58 và xe mô tô BKS: 36B2-491.69 cùng các giấy tờ liên quan cho chủ sở hữu hợp pháp (BL: 56, 69, 75).
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như kết luận của Cơ quan điều tra và nội dung truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa.
Cáo trạng số 316/CTr - VKS ngày 25/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố bị cáo Cao Văn H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của BLHS.
Phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của BLHS đề nghị xử phạt từ 18 đến 24 tháng tù.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến điều kiện, hoàn cảnh khi phạm tội và cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất để cải tạo tốt sớm trở thành người lương thiện.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa và của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và không có khiếu nại gì cần được tiến hành theo thủ tục chung.
[2]. Căn cứ định tội đối với bị cáo: Trên cơ sở lời khai của bị cáo tại phiên tòa và lời khai trước đây bị cáo đã khai tại Cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng và tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cở sở kết luận:
Vào hồi 17h38' ngày 14/8/2024, Cao Văn H có giấy phép lái xe hợp lệ (hạng E), điều khiển xe ô tô khách BKS: 37B-028.78 chạy trên đường Đ, theo hướng Hà Nội – Nghệ An (hướng Đông - T), khi vào vòng xuyến siêu thị B1, thuộc phường Đ, thành phố T do không giảm tốc độ đến mức an toàn và không chú ý nhường đường cho xe đi từ bên trái vòng xuyến nên đã đâm va vào xe mô tô BKS: 36B2-491.69 do anh Nguyễn Văn S điều khiển chạy trên đường Đ, theo hướng N - Bắc và xe ô tô BKS: 30H-040.58 do Nguyễn Sĩ S2 điều khiển chạy trên đường Đ, theo hướng N - B đang lưu thông trong khu vực vòng xuyến phía trước bên trái xe ô tô 37B-028-78. Hậu quả anh S bị đâm va, kẹt giữa hai xe ô tô và tử vong tại chỗ, do: Đa chấn thương.
Như vậy, hành vi của bị cáo đã vi phạm Điều 12, khoản 2 Điều 24 Luật Giao thông đường bộ và phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của BLHS.
[3]. Tính chất vụ án: Tội phạm do bị cáo gây ra thuộc loại tội nghiêm trọng, bị cáo có giấy phép lái xe hợp lệ, tham gia giao thông trong điều kiện thời tiết khô ráo, mặt đường phẳng, không có vật cản che khuất, đến khu vực có biển báo vòng xuyến nơi giao nhau rộng nhưng do không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ nên đã gây tai nạn, hậu quả làm chết một người, tài sản hư hỏng nhẹ.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm đến các quy định về an toàn giao thông đường bộ, còn xâm phạm đến tính mạng, tài sản của người khác. Tính chất của vụ án là nghiêm trọng cần phải được xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung.
[4]. Về trách nhiệm hình sự (TNHS) của bị cáo: Cao Văn H có 01 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích. Tuy nhiên, thực hiện hành vi phạm tội lần này thuộc loại tội phạm nghiêm trọng do vô ý cho nên bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS là tái phạm.
Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS là sau khi phạm tội bị cáo đã đầu thú, tích cực động viên gia đình tự nguyện bồi thường thiệt hại, thành khẩn khai báo, đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ TNHS cho bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ được áp dung cho bị cáo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của BLHS.
Căn cứ nhân thân, tính chất mức độ hành vi phạm tội trong vụ án này bị cáo có lỗi khi điều khiển xe đến khu vực có biển báo do không chú ý quan sát gây hậu quả nghiêm trọng, bị cáo có nhân thân xấu, do đó cần áp dụng Điều 38 của BLHS để cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian, vì có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS cho nên khi lượng hình cần giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.
[5]. Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện hợp pháp của gia đình bị hại, gia đình bị cáo, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã thỏa thuận bồi thường xong phần thiệt hại, các bên không có yêu cầu gì thêm nghĩ nên công nhận đã giải quyết xong phần dân sự.
[6]. Đối với xe ô tô BKS: 30H-040.58, xe ô tô BKS: 37B-028.78 và xe mô tô BKS: 36B2-491.69. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại xe ô tô BKS: 37B-028.78; xe ô tô BKS: 30H-040.58 và xe mô tô BKS: 36B2-491.69 cùng các giấy tờ liên quan cho chủ sở hữu hợp pháp là đúng quy định của pháp luật, cần chấp nhận.
[7]. Án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ; điểm a, khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của BLHS để áp dụng cho bị cáo.
Căn cứ Điều 136 của BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án để áp dụng cho bị cáo.
- Tuyên bố: Bị cáo Cao Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Xử phạt: Bị cáo Cao Văn H 18 ( mười tám) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/8/2024.
- Về trách nhiệm dân sự: Công nhận đại diện hợp pháp cho bị hại, đại diện gia đình bị cáo, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thỏa thuận, thống nhất bồi thường xong phần thiệt hại.
- Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Cao Văn H phải chịu 200.000 đồng.
Quyết định bản án được thi hành theo Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm bị cáo, người có quyền, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đại diện hợp pháp của bị hại, bị đơn dân sự, người có quyền, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc ngày niêm yết bản án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hoa |
Bản án số 23/2024/ HS-ST ngày 26/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA – TỈNH THANH HÓA về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 23/2024/ HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA – TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cao văn H
