Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ TĨNH

Bản án số: 23/2024/DS-PT

Ngày: 12 - 9 - 2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thương Huyền

Các Thẩm phán: Ông Hồ Đức Quang

Ông Hoàng Ngọc Tùng

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Soan - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Hoà - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 16/2024/TLPT-DS ngày 09 tháng 8 năm 2024 về việc ”Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2024/QĐ – PT ngày 14 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 30/2024/QĐ - PT ngày 29 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

*Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Á (A), địa chỉ trụ sở: D N, phường E, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn: Ông Từ Tiến P; chức vụ: Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Đình L, chức vụ: Phó giám đốc phòng quản lý nợ Ngân hàng TMCP Á (Văn bản ủy quyền số 1285/UQ-QLN.22 ngày 05/7/2022).

Người đại diện được ủy quyền lại của nguyên đơn: Ông Trần Xuân K, chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ 2 (Văn bản ủy quyền số 326/UQ-QLN.24 ngày 07/03/2024); có mặt.

* Bị đơn:

  • Ông Phan Đình D; sinh năm: 1988; địa chỉ: Thôn Q, xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt.
  • Bà Nguyễn Thị X; sinh năm: 1988; địa chỉ: Thôn Q, xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt.

* Người kháng cáo: Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Á (A).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 20/02/2023 và trong quá trình tố tụng đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Á (A) trình bày:

Ông Phan Đình D và bà Nguyễn Thị X có quan hệ tín dụng với Ngân hàng TMCP Á – Chi nhánh thị xã H từ năm 2018 cho đến nay và dư nợ theo Hợp đồng tín dụng số HLI.CN.2174.061218 ngày 07/12/2018 và Hợp đồng cấp tín dụng số HLI.CN.2697.190121 ngày 20/01/2021 để ký kết vay số tiền: 400.000.000 đồng, mục đích vay: Sản xuất kinh doanh – Bổ sung vốn lưu động – Bổ sung vốn lưu động kinh doanh gỗ nội thất; phương thức cho vay: theo hạn mức tín dụng; phương thức giải ngân: Được quy định trong từng khế ước nhận nợ cụ thể; thời hạn hiệu lực của hợp đồng: 24 tháng, kể từ ngày ký hợp đồng (20/01/2021); thời hạn vay: Được ghi trên mỗi khế ước nhận nợ, tối đa không quá 09 tháng, kể từ ngày kế tiếp giải ngân; lãi suất trong hạn: Được quy định trong từng khế ước nhận nợ cụ thể; lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn; lãi suất phạt chậm trả: 10%/năm.

Để đảm bảo cho khoản vay, hai bên đã ký kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số HLI.BĐCN.284.160718 ngày 17/7/2018 đối với thửa đất số 146, tờ bản đồ số 14, địa chỉ: thôn Q, xã Đ (nay là xã T), huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Phan Đình D và bà Nguyễn Thị X theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CO 098087, số vào sổ cấp GCN: 01213 ĐT/CH-2018 do UBND huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh cấp ngày 11/6/2018 cho ông Phan Đình D và bà Nguyễn Thị X.

Sau khi ký hợp đồng, ngày 01/3/2022 Ngân hàng TMCP Á đã giải ngân cho ông D bà X vay số tiền là 400.000.000 đồng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, ông Phan Đình D và bà Nguyễn Thị X vi phạm nghĩa vụ trả nợ với Ngân hàng TMCP Á. Do đó, căn cứ thỏa thuận giữa hai bên về việc chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn và chuyển nợ quá hạn, thì ngày 01/9/2022, khoản vay theo Khế ước nhận nợ số 03/HLI.CN.2697.190121: 356047319 đáo hạn (đến hạn thanh toán hết nợ gốc và lãi) nhưng ông Phan Đình D và bà Nguyễn Thị X không thanh toán hết nợ cho Ngân hàng TMCP Á. Do đó vào ngày 02/9/2022, Ngân hàng TMCP Á đã chuyển nợ quá hạn đối với toàn bộ nợ gốc chưa thanh toán của khoản vay theo khế ước nhận nợ nêu trên.

Nguyên đơn Ngân hàng TMCP Á giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu Tòa án buộc:

  • Ông Phan Đình D và bà Nguyễn Thị X trả cho Ngân hàng TMCP Á tổng số nợ còn thiếu tính đến ngày 12/03/2024 số tiền là 485.670.252 đồng (gồm: vốn gốc 388.000.000 đồng, lãi trong hạn 10.574.347 đồng, lãi quá hạn 85.399.496 đồng, phạt chậm trả lãi 1.696.409 đồng).
  • Ông Phan Đình D và bà Nguyễn Thị X còn phải tiếp tục trả tiền lãi, phạt chậm trả lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại thỏa thuận về các điều khoản và điều kiện tín dụng chung, hợp đồng cấp tín dụng, khế ước nhận nợ tính kể từ ngày 13/03/2024 đến ngày trả hết nợ.
  • Thứ tự trả nợ: Vốn gốc, phạt chậm trả lãi, lãi quá hạn, lãi trong hạn.
  • Nếu ông Phan Đình D và bà Nguyễn Thị X không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì tài sản bảo đảm được cơ quan có thẩm quyền xử lý để thu hồi nợ là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 146, tờ bản đồ số 14, địa chỉ: thôn Q, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Phan Đình D và bà Nguyễn Thị X.
  • Buộc ông Phan Đình D và bà Nguyễn Thị X phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Á số tiền xem xét thẩm định tại chỗ là: 7.000.000 đồng.

2. Đối với bị đơn ông Phan Đình D và bà Nguyễn Thị X:

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã tống đạt và niêm yết hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập cũng như các văn bản tố tụng khác theo quy định của pháp luật để đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho ông D bà X nhưng ông D bà X không có mặt tại Tòa án để làm việc, nên Tòa án không thu thập được lời khai của ông D bà X.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2024/DS-ST ngày 12/03/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh đã căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 157; Điều 158 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 398, Điều 401, Điều 463, Điều 466, Điều 357; khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015; Điều 91, Điều 95, Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm b khoản 1 Điều 3, Điều 6, điểm b khoản 1 Điều 24; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 cuả Ủy ban thường vụ Quốc hội, xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Á về việc buộc ông Phan Đình D và bà Nguyễn Thị X trả tiền nợ gốc và lãi theo Hợp đồng tín dụng số HLI.CN.2174.061218 ngày 07/12/2018 và Hợp đồng cấp tín dụng số HLI.CN.2697.190121 ngày 20/01/2021.

Buộc ông Phan Đình D và bà Nguyễn Thị X phải liên đới trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Á tổng số tiền nợ tính đến ngày 12/03/2024 số tiền là 485.670.252 đồng (Bốn trăm tám mươi lăm triệu sáu trăm bảy mươi nghìn hai trăm năm mươi hai đồng), gồm: vốn gốc 388.000.000 đồng (Ba trăm tám mươi tám triệu đồng), lãi trong hạn 10.574.347 đồng (Mười triệu năm trăm bảy tư nghìn ba trăm bốn bảy đồng), lãi quá hạn 85.399.496 đồng (T mươi lăm triệu ba trăm chín mươi chín nghìn bốn trăm chín sáu đồng), phạt chậm trả lãi số tiền 1.696.409 đồng (Một triệu sáu trăm chín sáu nghìn bốn trăm linh chín đồng).

Kể từ ngày 13/03/2024, ông Phan Đình D và bà Nguyễn Thị X phải tiếp tục trả khoản tiền lãi theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số HLI.CN.2174.061218 ngày 07/12/2018 và Hợp đồng cấp tín dụng số HLI.CN.2697.190121 ngày 20/01/2021 đối với số tiền nợ gốc chưa thanh toán cho đến khi ông D bà X thanh toán hết số nợ gốc cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Á.

Trường hợp ông Phan Đình D và bà Nguyễn Thị X không trả nợ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần Á có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản thế chấp của ông D bà X theo Hợp đồng thế chấp sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số HLI.BĐCN.284.160718 ngày 17/7/2018 đối với thửa đất số 146, tờ bản đồ số 14, địa chỉ: thôn Q, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Phan Đình D và bà Nguyễn Thị X theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CO 098087, số vào sổ cấp GCN: 01213 ĐT/CH-2018 do UBND huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh cấp ngày 11/6/2018 cho ông Phan Đình D và bà Nguyễn Thị X để thu hồi nợ.

Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của ông D bà X đối với Ngân hàng Thương mại cổ phần Á. Nếu số tiền thu được không đủ để trả nợ thì ông D bà X vẫn phải trả hết số nợ còn lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Á.

2. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án.

Bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

- Ngày 10/4/2024 nguyên đơn kháng cáo bản án số 01/2024/DS-ST ngày 12/03/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.

Những vấn đề cụ thể trong đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết bao gồm:

Ngân hàng TMCP Á yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm tuyên phần xử lý tài sản thế chấp như sau: Ngân hàng Thương mại cổ phần Á có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản là “Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” tại thửa đất số 146, tờ bản đồ số 14; địa chỉ: Thôn Q, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Phan Đình D và bà Nguyễn Thị X để thu hồi nợ.

Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn vẫn giữa nguyên đơn nội dung đơn kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã phân tích đánh giá các chứng cứ của vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm, nội dung đơn kháng cáo của nguyên đơn đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 308 BLTTDS năm 2015 không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Á (A), giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm số 01/2024/DS-ST ngày 12/03/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng. Bị đơn ông Phan Đình D và bà Nguyễn Thị X đăng ký cư trú tại huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. Do đó, căn cứ theo quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền và xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp và tư cách tham gia tố tụng của đương sự.

Đơn kháng cáo của nguyên đơn gửi đến Toà án cấp sơ thẩm quá hạn luật định tuy nhiên được chấp nhận theo thủ tục kháng cáo quá hạn nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

Tại phiên toà phúc thẩm bị đơn ông Phan Đình D và bà Nguyễn Thị X đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Đây là phiên toà mở lần thứ 2, do đó Hội đồng xét xử phúc thẩm vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

[2] Xét nội dung kháng cáo của nguyên đơn hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:

Toà án cấp sơ thẩm tuyên về việc xử lý tài sản thế chấp trong trường hợp bị đơn không thanh toán khoản nợ theo hợp đồng tín dụng. Toà án cấp sơ thẩm đã căn cứ theo hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp được ký kết giữa nguyên đơn và bị đơn để tuyên đối với phần xử lý tài sản thế chấp đã đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn vì vậy nguyên đơn kháng cáo đề nghị Toà án cấp phúc thẩm tuyên về phần xử lý tài sản thế chấp theo đơn kháng cáo của nguyên đơn là không có căn cứ để chấp nhận.

Từ những phân tích trên, xét thấy không đủ căn cứ để chấp nhận nội dung kháng cáo của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Á (A).

- Án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định pháp luật

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS năm 2015 không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Á (A), giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm số 01/2024/DS-ST ngày 12/03/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 148, Điều 157; Điều 158; Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Điều 357; Điều 398, Điều 401, Điều 463, Điều 466; khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015; Điều 91, Điều 95, Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng sửa đổi, bổ sung năm 2017. Khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Á về việc buộc ông Phan Đình D và bà Nguyễn Thị X trả tiền nợ gốc và lãi theo Hợp đồng tín dụng số HLI.CN.2174.061218 ngày 07/12/2018 và Hợp đồng cấp tín dụng số HLI.CN.2697.190121 ngày 20/01/2021.

Buộc ông Phan Đình D và bà Nguyễn Thị X phải liên đới trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Á tổng số tiền nợ tính đến ngày 12/03/2024 số tiền là 485.670.252 đồng (Bốn trăm tám mươi lăm triệu sáu trăm bảy mươi nghìn hai trăm năm mươi hai đồng), gồm: vốn gốc 388.000.000 đồng (Ba trăm tám mươi tám triệu đồng), lãi trong hạn 10.574.347 đồng (Mười triệu năm trăm bảy tư nghìn ba trăm bốn bảy đồng), lãi quá hạn 85.399.496 đồng (T mươi lăm triệu ba trăm chín mươi chín nghìn bốn trăm chín sáu đồng), phạt chậm trả lãi số tiền 1.696.409 đồng (Một triệu sáu trăm chín sáu nghìn bốn trăm linh chín đồng).

Kể từ ngày 13/03/2024, ông Phan Đình D và bà Nguyễn Thị X phải tiếp tục trả khoản tiền lãi theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số HLI.CN.2174.061218 ngày 07/12/2018 và Hợp đồng cấp tín dụng số HLI.CN.2697.190121 ngày 20/01/2021 đối với số tiền nợ gốc chưa thanh toán cho đến khi ông D bà X thanh toán hết số nợ gốc cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Á.

Trường hợp ông Phan Đình D và bà Nguyễn Thị X không trả nợ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần Á có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản thế chấp của ông D bà X theo Hợp đồng thế chấp sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số HLI.BĐCN.284.160718 ngày 17/7/2018 đối với thửa đất số 146, tờ bản đồ số 14, địa chỉ: thôn Q, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Phan Đình D và bà Nguyễn Thị X theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CO 098087, số vào sổ cấp GCN: 01213 ĐT/CH-2018 do UBND huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh cấp ngày 11/6/2018 cho ông Phan Đình D và bà Nguyễn Thị X để thu hồi nợ.

Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của ông D bà X đối với Ngân hàng Thương mại cổ phần Á. Nếu số tiền thu được không đủ để trả nợ thì ông D bà X vẫn phải trả hết số nợ còn lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Á.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án.

2. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Phan Đình D và bà Nguyễn Thị X phải liên đới trả cho Ngân hàng TMCP Á số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là: 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng).

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Phan Đình D và bà Nguyễn Thị X phải nộp số tiền 24.283.512 đồng (Hai mươi bốn triệu, hai trăm tám mươi ba nghìn năm trăm mười hai đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Á số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền số 0013219 ngày 10/10/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.

4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Á (A) phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm nhưng nguyên đơn đã nộp theo biên lại số 0007405 ngày 10/7/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đức Thọ nên được khấu trừ.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - TAND huyện Đức Thọ;
  • - VKSND huyện Đức Thọ;
  • - Chi cục THADS huyện Đức Thọ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS VA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thương Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2024/DS-PT ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 23/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Phan Đình Dần và bà Nguyễn Thị Xuân có quan hệ tín dụng với Ngân hàng TMCP Á Châu – Chi nhánh thị xã Hồng Lĩnh từ năm 2018 cho đến nay và dư nợ theo Hợp đồng tín dụng số HLI.CN.2174.061218 ngày 07/12/2018 và Hợp đồng cấp tín dụng số HLI.CN.2697.190121 ngày 20/01/2021 để ký kết vay số tiền: 400.000.000 đồng, mục đích vay: Sản xuất kinh doanh – Bổ sung vốn lưu động – Bổ sung vốn lưu động kinh doanh gỗ nội thất; phương thức cho vay: theo hạn mức tín dụng; phương thức giải ngân: Được quy định trong từng khế ước nhận nợ cụ thể; thời hạn hiệu lực của hợp đồng: 24 tháng, kể từ ngày ký hợp đồng (20/01/2021); thời hạn vay: Được ghi trên mỗi khế ước nhận nợ, tối đa không quá 09 tháng, kể từ ngày kế tiếp giải ngân; lãi suất trong hạn: Được quy định trong từng khế ước nhận nợ cụ thể; lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn; lãi suất phạt chậm trả..
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger