|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG HINH TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 23/2024/HS-ST
Ngày: 20/8/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG HINH, TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bàn Thị Tiên;
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Ksor Y Thư;
Ông Phạm Xuân Lai.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Công Luân–Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sông Hinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Minh – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 19/2024/TLST-HS ngày 24/6/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2024/QĐXXST-HS ngày 24/7/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 04/2024/HSST-QĐ ngày 09/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên đối với bị cáo:
Lê Đức P, sinh ngày 15 tháng 6 năm 1993 tại huyện P, tỉnh Phú Yên; nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Phụng S, sinh năm 1969 và bà Lê Thị M, sinh năm 1968; có vợ: Bùi Thị Như G, sinh năm 1989; con: có 02 con (lớn nhất sinh năm 2018, nhỏ nhất sinh năm 2021); tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên toà.
- Bị hại:
Ông Kiều Xuân M1, sinh năm 1993; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
Ông Trần Văn D, sinh năm 1965; nơi cư trú: D3-11-BlockD Chung cư E, P, phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bà Lê Thị T, sinh năm 1990; nơi cư trú: D3-11-BlockD Chung cư E, P, phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Ông Phạm Văn T1, sinh năm 1971; nơi cư trú: Buôn T, xã Đ, huyện S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Bà Lương Thị Hồng G1, sinh năm 1985; nơi cư trú: Buôn T, xã Đ, huyện S, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
Bà Bùi Thị Như G, sinh năm 1989; nơi cư trú: Khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người làm chứng: Ông Lê Văn C, sinh năm 1977; nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện S, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Năm 2022, Lê Đức P môi giới cho Kiều Xuân M1, sinh năm 1993, trú tại thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng và vợ chồng Trần Văn D, sinh năm 1965, trú tại D3-11-BlockD C/c E, phố Q, phường B quận T, thành phố Hồ Chí Minh nhận chuyển nhượng đất rẫy trồng cây keo vào tháng 9/2020 ở thôn T, xã Đ, huyện S. Đến tháng 7/2023, P cần tiền để trả nợ và biết M1 và D là người ở tỉnh khác ít đến thăm rẫng keo, không có người quản lý nên nảy sinh ý định trộm cắp cây keo bán lấy tiền trả nợ. Sau đó, P liên hệ với vợ chồng Phạm Văn T1, Lương Thị Hồng G1 nói dối có rẫy keo chủ cần bán để T1 và G1 tin tưởng và đồng ý mua keo với giá 500.000.000 đồng. Từ ngày 10/11/2023 đến ngày 13/11/2023, G1 tiến hành thuê người khai thác cây keo đã mua với diện tích 21.260,2m² bị M1 phát hiện, làm đơn báo cáo Cơ quan CSĐT Công an huyện S (Bút lục: 01-17,23-31, 89-134).
Kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTS ngày 29/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên huyện S kết luận: 21.260,2 m² cây keo trồng tháng 9/2020, mật độ 3020 cây/ha giá trị thiệt hại là 104.882.643 đồng. (Bút lục 33-35).
Cáo trạng số 20/CT-VKS, ngày 24/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Hinh đã truy tố Lê Đức P về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Hinh tham gia phiên tòa giữ nguyên nội dung cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Đức P phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; các điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Đức P từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung. Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị ghi nhận sự thỏa thuận bồi thường giữa bị cáo và bị hại số tiền 200.000.000đ (đã bồi thường xong); buộc bị cáo có trách nhiệm trả lại cho ông Phạm Văn T1 và bà Lương Thị Hồng G1 số tiền 500.000.000đ. Vật chứng: Không có.
Ý kiến của bị hại:
Ông Kiều Xuân M1 trình bày: Ông và vợ chồng ông Trần Văn D, Nguyễn Thị T2 cùng sở hữu chung 01 đám đất, keo khoảng 12ha tại xã Đ, huyện S. Ngày 13/11/2023 chị T2 nhờ ông Lê Văn C thăm rẫy dùm thì được biết có người đang cắt đám keo. Sáng ngày 14/11/2023, chị T2 đến kiểm tra rẫy thì có Lê Đức P nhắn tin qua zalo thừa nhận P là người đã bán keo của ông bà cho vợ chồng ông Phạm Văn T1 bà Lương Thị Hồng G1. Sau đó, ông làm đơn trình báo công an, quá trình điều tra xác định diện tích thiệt hại 21.260,2m² cây keo trồng tháng 9 năm 2020, giá trị thiệt hại 104.882.643đ. Nay P đã bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của các ông bà là 200.000.000đ nên không yêu cầu gì thêm, xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với P.
Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Lương Thị Hồng G1 trình bày: Bà và P có quen biết xã hội, khoảng tháng 7 năm 2023 P có gọi điện nói có đám keo chủ cần bán, không nói chủ là ai. Sau đó bà và P đến đám keo để xem và thoả thuận giá bán là 500.000.000đ, sau khi chốt giá bà đưa trước cho P 100.000.000đ, phần còn lại bà chuyển nhiều lần vào tài khoản ngân hàng cho P và đã đưa đủ cho P 500.000.000đ. Khoảng tháng 11 năm 2023 bà bắt đầu thuê nhân công khai thác keo, đến ngày 13/11/2023 bà nghe tin P bán keo cho bà mà không thông qua chủ nên đã dừng hoạt động khai thác. Bản thân bà do tin tưởng lời P (vì giữa bà và P cũng đã từng mua bán keo như vậy nên tin tưởng) nên đã mua keo mà không có sự đồng ý của chủ. Nay bà yêu cầu P trả lại cho bà số tiền 500.000.000đ. Số tiền bán keo thu được 60.000.000đ đã chi hết toàn bộ (cụ thể chi thuê công chặt phôi 20.000.000đ, chi thuê công cắt keo, máy cưa, xe chở keo là 40.000.000đ).
Ông Phạm Văn T1 trình bày: thống nhất với trình bày của vợ Lương Thị Hồng G1.
Bà Bùi Thị Như G trình bày: Việc P tự ý bán keo của ông M1 và vợ chồng ông D không nói cho bà biết khi sự việc bị phát hiện bà mới biết. Số tiền bán keo P không đưa cho bà nên cũng không biết cụ thể bao nhiêu, không có ý kiến gì khác.
Người làm chứng Lê Văn C trình bày: Ngày 13/11/2023 Lê Thị T (là người trước đây mua rẫy keo của ông) gọi điện cho ông để bán keo, vì trước đó ông có thấy có người khai thác cây keo T nên ông có nói bận rồi con gọi làm gì. Lúc này T mới nói chưa bán, đến hôm sau T từ thành phố Hồ Chí Minh ra Sông H để kiểm tra rẫy keo thì phát hiện có người khai thác nên làm đơn trình báo công an.
Quá trình điều tra và bị cáo, bị hại, kiểm sát viên, bị cáo, bị hại không có ý kiến gì về Kết luận định giá tài sản.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Hinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Trong thời gian từ ngày 10/11/2023 đến ngày 13/11/2023, tại thôn T, xã Đ, huyện S, Lê Đức P đã có hành vi lén lút bán trộm cây keo đã mua đã cắt số lượng cây keo trồng trên diện tích 21.260,2m² của. Kiều Văn M2 và vợ chồng Trần Văn D với giá trị tài sản trộm cắp là 104.882.643 đồng.
Hành vi của P đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Điểm c Khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
c) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Hinh truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất mức độ hành vi phạm tội:
Bị cáo có năng lực pháp luật và hành vi, nhận thức được việc bán trộm cây keo của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vì mục đích có tiền trả nợ cá nhân đã lén lút (đối với chủ sở hữu) bán trộm cây keo của các bị hại và người mua đã cắt bán diện tích keo 21.260,2m² với giá trị 104.882.643 đồng. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ nên cần xử lý tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã tự nguyện bồi thường xong theo yêu cầu của bị hại. Đồng thời, bị cáo có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà yên tâm cải tạo.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo và gia đình đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại; được bị hại có đơn xin bãi nại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
[6] Đối với hành vi của ông Phạm Văn T1 và bà Lương Thị Hồng G1: Khi mua keo do bị cáo bán, ông T1 bà G1 không biết là tài sản do bị cáo trộm cắp nên cơ quan cảnh sát điều tra không xem xét trách nhiệm hình sự đối với ông T1 bà G1 là có căn cứ.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584 và Điều 589 Bộ luật dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận bồi thường giữa bị cáo và bị hại số tiền 200.000.000đ (bị cáo đã bồi thường xong). Căn cứ Điều 166 Bộ luật dân sự buộc bị cáo trả lại cho ông Phạm Văn T1 và bà Lương Thị Hồng G1 số tiền 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng).
[8] Về vật chứng: Không có.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 24.000.000đ (hai mươi bốn triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố bị cáo Lê Đức P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Đức P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584 và Điều 589 Bộ luật dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận bồi thường giữa bị cáo và bị hại số tiền 200.000.000đ (bị cáo đã bồi thường xong). Áp dụng Điều 166 Bộ luật dân sự buộc bị cáo trả lại cho ông Phan Văn T3 và bà Lương Thị Hồng G1 số tiền 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lê Đức P phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 24.000.000đ (hai mươi bốn triệu đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA BÀN THỊ TIÊN |
Bản án số 23/2024/HS-ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG HINH, TỈNH PHÚ YÊN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 23/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG HINH, TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Đức Ph
