Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 23/2024/DS-ST

Ngày: 19/8/2024

V/v : “Tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Việt Hùng;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thục và ông Ngô Văn Bê;

-Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Hải Yến - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang: Ông Lương Thất Tùng – Kiểm sát viên trung cấp.

Trong ngày 19/8/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 82/2023/TB-TLVA ngày 07/12/2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 32/2024/QĐXXST-DS ngày 20/6/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 33/2024/QĐ-PT ngày 19/7/2024 giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn: Ông Phạm Trí H, sinh năm 1970 (có mặt)
  • Địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  • * Bị đơn: Ông Khâu Súng K (người Trung Quốc) – sinh năm 1977 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
  • Địa chỉ: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  • * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
  • - Bà Nông Thị L – sinh năm 1984 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
  • Địa chỉ: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  • - Bà Phạm Thị N – sinh năm 1983 (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Tổ dân phố M, Thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn ông Phạm Trí H trình bày:

Ông có mối quan hệ làm ăn buôn bán với vợ chồng ông Khâu Súng K và bà Nông Thị L. Ông Khâu S K là người Trung Quốc lấy vợ người Việt Nam là bà Nông Thị L, hiện vợ chồng ông K bà L sinh sống tại thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Vợ chồng ông K làm nghề buôn bán hoa quả từ Việt Nam sang Trung Quốc. Cuối tháng 3 năm 2022, ông K nhận hợp đồng với ông vận chuyển 01 xe công ten nơ quả mít tươi từ tỉnh Tiền Giang đến cảng K, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Do ông K vi phạm hợp đồng, hàng đến chậm, muộn theo thỏa thuận nên dẫn đến hoa quả bị kém chất lượng. Do đó, ông K đã thỏa thuận với tôi mua lại toàn bộ xe hàng và có trách nhiệm thanh toán cho ông tổng số tiền là 600.000.000 đồng (Sáu trăm triệu đồng chẵn), trong đó bao gồm: 316.000.000 đồng (Ba trăm mười sáu triệu đồng) toàn bộ giá trị hàng hóa, 74.000.000 đồng (Bảy mươi tư triệu đồng) chi phí cước xe và 210.000.000 đồng (Hai trăm mười triệu đồng) vỏ tàu biển.

Ngày 9/4/2022, bà Phạm Thị N – sinh năm 1983 – Cư trú tại: Tổ dân phố M, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang đã thỏa thuận miệng với ông về việc ông chịu trách nhiệm làm thủ tục nộp thuế cô ta thông quan hàng hóa (quả mít tươi) của bà N tại cửa khẩu Đ, Lạng Sơn để đi đường sắt sang Pò C, Trung Quốc. Tổng số tiền xe mít của bà N là 371.871.000 (Ba trăm bảy mươi mốt triệu tám trăm bảy mươi mốt nghìn đồng), trong đó tiền hàng là 291.871.000 đồng (Hai trăm chín mươi mốt triệu tám trăm bảy mươi mốt nghìn đồng) và tiền cước xe là 80.000.000 đồng (Tám mươi triệu đồng). Ba ngày sau bà N nhờ người khác làm thủ tục nộp thuế và thông quan đưa xe đi qua cửa khẩu H2 sang Trung Quốc bán rồi quay lại nói với ông rằng hàng không đi được phải quay về nội địa bán rẻ, thu được 130 triệu đồng. Sau đó, bà N đã quay lại phạt tôi vì không thông quan được xe hàng của bà và buộc tôi phải có trách nhiệm thanh toán cho bà N số tiền 241.000.000 đồng (Hai trăm bốn mươi mốt triệu đồng).

Ngày 17/4/2022, tại nhà của ông K, lúc đó có mặt vợ chồng ông K bà L cùng với bà N và ông, bà L đã viết giấy với nội dung vợ chồng ông K bà L còn nợ lại ông số tiền 359.000.000 đồng (Ba trăm năm mươi chín triệu đồng). Tại buổi làm việc hôm đó, vợ chồng ông K bà L đã giao cho ông số tiền 359.000.000 đồng (Ba trăm năm mươi chín triệu đồng), ông xác nhận chữ viết “A H1 đã nhận 359.000.000 đồng” cùng chữ ký ở cuối là của ông.

Khi ký giấy ông không đọc kỹ nội dung, vợ chồng ông K bà L và bà N đã ép ông ký, nói rằng nếu ông không ký thì không trả ông tiền, tuy nhiên ông không có căn cứ gì chứng minh bị ông bà Kiên L1 ép buộc. Sau khi ký giấy, ông đã làm đơn tố cáo vợ chồng ông K bà L1 sang cơ quan công an huyện C, tỉnh Lạng Sơn và được cơ quan công an hướng dẫn làm thủ tục khởi kiện dân sự.

Nay ông xác định xe hàng của bà N không liên quan gì đến xe hàng của ông K nên ông không đồng ý việc ông K khấu trừ số tiền đã nợ ông sang xe hàng của bà N. Vì vậy, tại phiên tòa ngày hôm nay, ông đề nghị Tòa án giải quyết buộc vợ chồng ông K bà L1 phải có trách nhiệm thanh toán cho ông H1 số tiền gốc còn nợ

là 241.000.000 đồng (Hai trăm bốn mươi mốt triệu đồng chẵn) và tiền lãi theo quy định của Ngân hàng N1 kể từ thời điểm tháng 4/2022 đến thời điểm xét xử sơ thẩm (tháng 8 năm 2024) là 27 tháng với mức lãi suất là 0,83%/tháng. Tính tròn là 54.000.000 đồng (Năm mươi tư triệu đồng) tiền lãi. Tổng cả gốc và lãi 295.000.000 đồng (Hai trăm chín mươi lăm triệu đồng).

Tại Biên bản lấy lời khai và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Khâu Súng K trình bày:

Vào cuối tháng 3 năm 2022, ông có thỏa thuận miệng với ông H1 nhận vận chuyển 01 xe công ten nơ hoa quả (quả mít) từ tỉnh Tiền Giang đến cảng K, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Do dịch Covid 19 nên hàng đến muộn, chậm thời gian thỏa thuận nên dẫn đến toàn bộ số hoa quả bị hư hỏng. Vì vậy, ông đồng ý bồi thường cho ông H1 số tiền 600.000.000 (Sáu trăm triệu đồng chẵn) là tổng giá trị xe hàng của ông H1.

Ngày 9/4/2022, ông H1 có thỏa thuận miệng với bà N về việc chịu trách nhiệm làm thủ tục nộp thuế thông quan cô ta 01 xe hàng của bà N (trong đó có vốn góp của gia đình ông) xuất phát từ cửa khẩu Đ, Lạng Sơn đi đường sắt sang Pò C, Trung Quốc. Do bên Trung Quốc không cho thông quan nên hàng của chị N bị hỏng, phải quay về nội địa bán rẻ, thua lỗ 241.000.000 đồng (Hai trăm bốn mươi mốt triệu đồng). Ông không có căn cứ gì chứng minh xe hàng của bà N có vốn góp của gia đình ông và việc không thông quan được xe hàng của bà N là do lỗi của ông H1. Tất cả mọi giao dịch đều là thỏa thuận miệng. Vì vậy, ông và bà N đã phạt ông H1 số tiền 241.000.000 đồng do không thực hiện đúng thỏa thuận. Ông chỉ còn nợ lại ông H1 359.000.000 đồng (Ba trăm năm mươi chín triệu đồng) và ông đã thanh toán đủ cho ông H1 số tiền trên. Việc phạt tiền và thanh toán được thể hiện tại Giấy thanh toán tiền hàng ngày 17/4/2022 mà ông đã giao nộp bản gốc cho Tòa án.

Đối với yêu cầu khởi kiện của ông H1 buộc ông phải trả cho ông H1 số tiền còn nợ từ việc vận chuyển hàng hóa là 241.000.000 (Hai trăm bốn mươi mốt triệu đồng) và tiền lãi theo quy định của Ngân hàng N1 kể từ thời điểm tháng 4 năm 2022 đến khi xét xử sơ thẩm thì ông không đồng ý.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nông Thị L trình bày:

Bà là vợ của ông Khâu S K. Bà xác nhận toàn bộ chữ viết trong Giấy thanh toán ngày 17/4/2022 là của bà (trừ chữ viết ở dòng cuối “A H1 đã nhận = 359.000.000 đồng” và chữ ký là của ông H1). Bà nhất trí với ý kiến của ông K, không đồng ý đối với yêu cầu khởi kiện của ông H1.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị N trình bày:

Bà nhất trí với trình bày của vợ chồng ông K bà L. Bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông H1.

Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã tiến hành lấy lời khai của các đương sự trong vụ án liên quan đến quá trình thỏa thuận vận chuyển hàng hóa.

Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã tiến hành hòa giải giữa các đương sự nhưng không thành.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn thay đổi một phần nội dung khởi kiện, chỉ yêu cầu bị đơn là ông Khâu S K có nghĩa vụ thanh toán cho ông số tiền còn nợ; bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, giữ nguyên quan điểm đã trình bày, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu ý kiến:

- Về chấp hành pháp luật tố tụng của Tòa án: Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ các trình tự thủ tục tố tụng theo quy định Bộ L2. Thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền; tòa án xác định quan hệ tranh trấp là “Hợp đồng vận chuyển tài sản” là đảm bảo đúng quy định tại khoản 3 Điều 26 BLTTDS; xác định đúng, đủ người tham gia tố tụng; thu thập đầy đủ tài liệu chứng cứ liên quan đến việc giải quyết vụ án; đã thực hiện các thủ tục mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải; ra quyết định đưa vụ án ra xét xử và tiến hành các thủ tục tố tụng khác đảm bảo theo quy định tại Điều 203 BLTTDS.

- Về chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nông Thị L: Đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định tại Điều 70, 71, 72, 73 Bộ LTTDS. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị N thực hiện chưa đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX xử, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Trí H buộc ông K phải có trách nhiệm thanh toán cho ông H số tiền gốc còn nợ là 241.000.000 đồng (Hai trăm bốn mươi mốt triệu đồng chẵn) và tiền lãi theo quy định của Ngân hàng N1 kể từ thời điểm tháng 4/2022 đến thời điểm xét xử sơ thẩm (tháng 8 năm 2024) là 27 tháng với mức lãi suất là 0,83%/tháng. Tính tròn là 54.000.000 đồng (Năm mươi tư triệu đồng) tiền lãi. Tổng cả gốc và lãi 295.000.000 đồng (Hai trăm chín mươi lăm triệu đồng).

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Khâu Súng K phải chịu 14.750.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn là ông Phạm Trí H yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Khâu S K phải có trách nhiệm thanh toán cho ông H số tiền gốc còn nợ từ việc vận chuyển hoa quả là 241.000.000 đồng (Hai trăm bốn mươi mốt triệu đồng chẵn) và và tiền lãi theo quy định của Ngân hàng N1 kể từ thời điểm tháng 4/2022 đến thời điểm xét xử sơ thẩm (tháng 8 năm 2024) là 27 tháng với mức lãi suất là 0,83%/tháng. Tính tròn là 54.000.000

đồng (Năm mươi tư triệu đồng) tiền lãi. Tổng cả gốc và lãi 295.000.000 đồng (Hai trăm chín mươi lăm triệu đồng). Bị đơn ông Khâu S K là người nước ngoài. Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xác định quan hệ pháp luật giải quyết là “Tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa”. Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Về thủ tục tố tụng: Các đương sự đã được triệu tập hợp lệ 02 lần, bị đơn ông Khâu S K và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nông Thị L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt do bận công việc, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị N vắng mặt không có lý do. HĐXX căn cứ vào Khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án theo quy định.

[3]. Về nội dung vụ án:

[3.1]. Về hiệu lực của hợp đồng: Ông Phạm Trí H đã liên hệ với ông K1 Súng K để thỏa thuận về thời gian vận chuyển 01 xe hàng hoa quả (quả mít) từ tỉnh Tiền Giang đến cảng K, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc, hai bên chỉ thỏa thuận miệng mà không lập hợp đồng. Hai bên đều thống nhất trình bày về thỏa thuận này. Tại thời điểm giao kết, các bên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và nội dung không trái pháp luật, đạo đức xã hội nên nội dung thỏa thuận nêu trên có hiệu lực pháp luật phù hợp với quy định tại Điều 531 Bộ luật Dân sự.

[3.2]. Xét nội dung tranh chấp, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Trí H:

Ông yêu cầu ông K phải có trách nhiệm thanh toán cho ông số tiền gốc còn nợ từ việc vận chuyển hàng hóa là 241.000.000 đồng (Hai trăm bốn mươi mốt triệu đồng chẵn) và tiền lãi theo quy định của Ngân hàng N1 kể từ thời điểm tháng 4/2022 đến thời điểm xét xử sơ thẩm (tháng 8 năm 2024) là 27 tháng với mức lãi suất là 0,83%/tháng. Tính tròn là 54.000.000 đồng (Năm mươi tư triệu đồng) tiền lãi. Tổng cả gốc và lãi 295.000.000 đồng (Hai trăm chín mươi lăm triệu đồng).

Theo các chứng cứ ông H cung cấp và lời khai của các đương sự, xác nhận giữa ông H và ông K đã thỏa thuận miệng với nhau về việc ông K nhận vận chuyển cho ông H 01 xe công ten nơ quả mít tươi từ tỉnh Tiền Giang đến cảng K, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Do ông K vi phạm hợp đồng, hàng đến chậm, muộn theo thỏa thuận nên dẫn đến hoa quả bị kém chất lượng. Do đó, ông K đã thỏa thuận với ông H mua lại toàn bộ xe hàng và có trách nhiệm thanh toán cho ông H tổng số tiền là 600.000.000 đồng (Sáu trăm triệu đồng chẵn), trong đó bao gồm: 316.000.000 đồng (Ba trăm mười sáu triệu đồng) toàn bộ giá trị hàng hóa, 74.000.000 đồng (Bảy mươi tư triệu đồng) chi phí cước xe và 210.000.000 đồng (Hai trăm mười triệu đồng) vỏ tàu biển. Nội dung này ông K và vợ là bà L đều thừa nhận. Theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015: “2. Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Như vậy, việc ông H thuê ông K vận

chuyển 01 xe công ten nơ hoa quả, giá trị thiệt hại của xe hàng là 600.000.000 đồng như ông H trình bày là có thật.

Đối với yêu cầu khởi kiện của ông H về việc buộc ông K phải thanh toán cho ông số tiền gốc còn nợ từ việc vận chuyển hàng hóa là 241.000.000 (Hai trăm bốn mươi mốt triệu đồng), HĐXX thấy rằng: Sau khi ông H và ông K thống nhất về việc ông K có trách nhiệm bồi thường cho ông H toàn bộ giá trị xe hàng bị hỏng là 600.000.000 (Sáu trăm triệu đồng) do ông K vận chuyển chậm muộn, không đúng thời gian như thỏa thuận thì vào ngày 17/4/2022, tại nhà của vợ chồng ông K bà L, ông H đã được vợ chồng ông K bà L thanh toán số tiền 359.000.000 đồng (Ba trăm năm mươi chín triệu đồng). Nội dung này hai bên đều thống nhất trình bày và đã được thể hiện trong Giấy thanh toán tiền hàng ngày 17/4/2022 do các bên cung cấp. Như vậy, xác định số tiền gốc mà ông K chưa thanh toán cho ông H từ việc vận chuyển hàng hóa là: 600.000.000 đồng - 359.000.000 đồng = 241.000.000 đồng. Tại phiên tòa, ông H vẫn giữ nguyên yêu cầu trên.

Từ những chứng cứ như trên, căn cứ Điều 530, Điều 531, Điều 534, khoản 1 Điều 541 Bộ luật dân sự 2015 và khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H, buộc ông K phải có trách nhiệm thanh toán cho ông H số tiền gốc còn nợ từ việc vận chuyển hàng hóa là 241.000.000 đồng.

Đối với số tiền lãi ông H đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông K phải thanh toán cho ông kể từ thời điểm tháng 4/2022 đến thời điểm xét xử sơ thẩm (tháng 8 năm 2024) là 27 tháng với mức lãi suất là 0,83%/tháng. Tính tròn là 54.000.000 đồng (Năm mươi tư triệu đồng) tiền lãi, Hội đồng xét xử xét thấy:

Theo quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự 2015: “1. Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. 2. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật này; nếu không có thỏa thuận thì được thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này” thì ông K là bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Do ông H và ông K không thỏa thuận về lãi suất nên lãi suất chậm trả được thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tức là “ lãi suất được xác định bằng 50 % lãi suất giới hạn” – không quá 10%/năm = 0,83%/tháng của khoản tiền chậm trả.

Ông H yêu cầu tính lãi từ thời điểm tháng 4/2022 đến thời điểm xét xử sơ thẩm (tháng 8 năm 2024) tương đương với 27 tháng và mức lãi suất 0,83%/tháng là phù hợp quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự 2015.

Từ những phân tích trên cần chấp nhận toàn bộ yêu cầu tính lãi của ông H như sau: 0,83% x 241.000.000 đồng x 27 tháng = 54.008.100 đồng. Ông H tính tròn là 54.000.000 đồng (Năm mươi tư triệu đồng chẵn).

Tổng cả gốc và lãi ông K có trách nhiệm thanh toán cho ông H là 241.000.000 đồng + 54.000.000 đồng = 295.000.000 đồng (Hai trăm chín mươi lăm triệu đồng chẵn).

[3.3]. Xét lời khai của ông K bà L về việc không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông H vì cho rằng ông H có lỗi trong việc không thông quan được xe hàng của bà Phạm Thị N (trong đó có một phần vốn góp của ông bà) theo thỏa thuận nên đã phạt ông H 241.000.000 đồng, số tiền ông bà còn phải thanh toán cho ông H là 359.000.000 đồng và ông bà đã thanh toán đầy đủ nên không còn nợ ông H. Trong quá trình giải quyết, ông K bà L không chứng minh được ông H có lỗi trong việc không thông quan được xe hàng của bà N. Theo quy định tại khoản 2 Điều 91 BLTTDS: “Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó”.

Hơn nữa, đây là quan hệ tranh chấp giữa ông H và bà N, không liên quan đến tranh chấp giữa ông H và ông K bà L. Ông H cũng không đồng ý việc ông K khấu trừ số tiền đã nợ ông sang xe hàng của bà N. Do đó, lời khai của ông K bà L không có căn cứ để chấp nhận.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn ông Khâu S K có nghĩa vụ trả cho ông H số tiền còn nợ là 295.000.000 đồng (Hai trăm chín mươi lăm triệu đồng) là phù hợp với quy định tại các Điều 530, Điều 531, Điều 534, khoản 1 Điều 541 Bộ luật dân sự 2015.

[7]. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Do yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Trí H là có căn cứ và được chấp nhận toàn bộ nên căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Khoản 1, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị đơn ông Khâu S K phải chịu 14.750.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

[8]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273; khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 530, Điều 531, Điều 534, khoản 1 Điều 541 Bộ luật dân sự 2015; Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 280, Điều 357 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Trí H, buộc bị đơn ông Khâu S K phải thanh toán cho ông H số tiền gốc còn nợ từ việc vận chuyển hàng hóa là 241.000.000 đồng (Hai trăm bốn mươi mốt triệu đồng chẵn) và tiền lãi là 54.000.000 đồng (Năm mươi tư triệu đồng chẵn). Tổng cả gốc và lãi 295.000.000 đồng (Hai trăm chín mươi lăm triệu đồng chẵn).
  2. Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi suất của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự, trừ trương hợp pháp luật có quy định khác.

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Khâu S Kiên phải chịu 14.750.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo:
  5. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - Cổng thông tin điện tử;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Giang;
  • - Các đương sự, người tham gia tố tụng;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Việt Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2024/DS-ST ngày 19/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa

  • Số bản án: 23/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger