|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG TỈNH VĨNH PHÚC |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 23/2025/HNGĐ-ST Ngày: 14 tháng 4 năm 2025 V/v “Ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Đỗ Thành Công.
Các Hội thẩm nhân dân: Vũ Thị Thanh Hương, ông Phùng Văn Thông
Thư ký phiên toà: ông Lê Xuân Chín - Thư ký Toà án
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường tham gia phiên toà: ông Tạ Việt Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 359/2024/TLST- HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2024 về việc “tranh chấp hôn nhân gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 2002, có mặt
Nơi cư trú: Thôn T, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự:
- Ông Phạm Quốc H1, sinh năm 1997, có mặt
Địa chỉ: Số C P, KĐT H, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc.
-
Bị đơn: Anh Trần Hữu K, sinh năm 2001, vắng mặt
Nơi cư trú: Thôn P, xã S, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 12/11/2024, những lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Thu H trình bày:
Về tình cảm vợ chồng: Chị và anh Trần Hữu K kết hôn ngày 17/10/2023, trước khi kết hôn có được tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V (nay là S), huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Sau khi kết hôn, chị về làm dâu và chung sống với gia đình anh K tại Thôn P, xã V (nay là S), huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.
Quá trình chung sống, thời gian đầu tình cảm vợ chồng hạnh phúc, không có mâu thuẫn gì. Tuy nhiên chỉ được một thời gian ngắn, xuất phát từ những mâu thuẫn, bất đồng trong quan điểm sống, cuộc sống của vợ chồng đã phát sinh những rạn nứt. Từ những cuộc cãi vã nhỏ nhặt, lâu dần trở nên càng ngày càng lớn và thậm chí còn xảy ra xô xát. Đặc biệt là khoảng mấy tháng gần đây cuộc sống hôn nhân của vợ chồng không những không được cải thiện mà càng ngày càng xấu đi, quá trình chung sống chị nhận thấy anh K không yêu thương, chăm sóc hai mẹ con nên đã quyết định ly thân. Không những vậy, trong thời gian chị nghỉ sau sinh chưa đi làm được anh K đi làm có lương cũng không đưa cho chị. Do chị không có chi phí để lo cho con cũng như trang trải cuộc sống gia đình nên khi cháu K1 đủ 06 tháng chị quyết định đi làm nhưng lại bị gia đình chồng ngăn cản. Sau khi ly thân chị nhận thấy anh K không có sự thay đổi, vẫn rất vô tâm và không có ý muốn hàn gắn quan hệ hôn nhân mặc dù chị đã nhiều lần đến tận nơi anh K làm việc để nói chuyện với anh K để tìm hướng giải quyết nhưng vẫn không thể tìm được tiếng nói chung. Một nguyên nhân mâu thuẫn nữa, là anh K và gia đình anh K rất coi thường gia đình chị, nên giữ hai bên cũng mâu thuẫn, căng thẳng. Chị nhận thấy hành vi của anh K đã vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.
Khi ly thân, chị có đưa cháu K1 về nhà ngoại để cho cháu được ở gần với mẹ cho tiện trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu. Tuy nhiên, anh K và gia đình bên nội ngăn cản không cho cháu K1 đi cùng, giành quyền nuôi con, không cho cháu K1 ở cùng với chị. Vì vậy, trong thời gian rảnh chị có tranh thủ về nhà chồng để thăm cháu khoảng 2-3 lần/tuần. Khi cháu ốm thì chị có xin nghỉ làm để chăm sóc cháu một vài ngày. Chị nhận thấy trong quá trình nuôi dưỡng anh Trần Hữu K không chăm no đến bữa ăn, giấc ngủ cho con, không quan tâm đến con mà đẩy trách nhiệm cho ông bà nội. Do không được chăm sóc cẩn thận, chu đáo với sức đề kháng kém nên gần đây cháu K1 liên tục bị ốm và phải vào điều trị tại bệnh viện. Nhiều lần chị xuống thâm và đón cháu về thì lại bị gia đình bên nội ngăn cản không cho đón cháu về. Con ốm, con đau mà không được ở gần chăm sóc nên chị rất xót ruột. Do quá bức xúc trước hành vi của chồng và thương con còn quá nhỏ nên ngày 16/11/2024, chị có làm đơn gửi đến UBND xã V đề nghị UBND xã có biện pháp can thiệp yêu cầu anh Trần Hữu K giao cháu Trần Hữu K1 cho chị chăm sóc, nuôi dưỡng nhưng vẫn không được.
Ngày 06/12 và ngày 14/12/2024, chị có đến gia đình anh K để đón cháu K1 về gia đình chị chơi nhưng anh K và gia đình anh không đồng ý để chị đón cháu. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh K.
Về con chung: Chị và anh K có 01 con chung là cháu Trần Hữu K1, sinh ngày 16/4/2024. Hiện cháu K1 đang ở cùng với anh K tại xã V. Ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trần Hữu K1. Về điều kiện nuôi con, hiện nay mức thu nhập của chị là 8.000.000 đồng (tám triệu đồng) đủ điều kiện về kinh tế và thời gian tối thiểu để chăm lo cho cháu K1. Ngoài ra, khi được trực tiếp nuôi dưỡng cháu K1 thì bố mẹ chị sẽ hỗ trợ chị trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng cháu. Theo chị được biết là chồng chị đi làm tại cửa hàng H2 tại đường M, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc có thu nhập khoảng 8.000.000 đồng đồng/tháng. Bên cạnh đó, theo tìm hiểu thì chị mức chi phí trung bình để chăm sóc một đứa trẻ tại xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc là khoảng 6.000.000 đồng/tháng (sáu triệu đồng/tháng).
Do vậy, chị đề nghị anh K phải đóng góp nuôi con với chị từ 02 triệu đến 03 triệu đồng/01 tháng, tính từ tháng 05/2025 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, có khả năng lao động kiếm sống.
Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ và công sức: Chị và anh K không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Chị xin chịu nộp toàn bộ.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự của nguyên đơn là ông Phạm Quốc H1 và ông Phùng Quốc V trình bày:
Đồng ý với nội dung nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu H trình bày. Đề nghị Tòa án giải quyết cho chị H được ly hôn anh K.
Về con chung, giải quyết cho chị H được nuôi cháu Trần Hữu K1, sinh ngày 16/4/2024 (con dưới 36 tháng tuổi).
Về cấp dưỡng nuôi: Đề nghị anh K phải đóng góp nuôi con với chị từ 02 triệu đến 03 triệu đồng/ 01 tháng.
Các nội dung khác: Nhất trí với quan điểm của chị H.
Bị đơn anh Trần Hữu K vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm, nhưng quá trình giải quyết vụ án trình bày:
Về tình cảm vợ chồng: Về thời gian, thủ tục kết hôn, quá trình chung sống, thời gian vợ chồng ly thân như chị H trình bày là đúng.
Nguyên nhân mâu thuẫn là do vào tháng 10/2024, chị H có nói chị muốn đi làm nhưng anh không đồng ý vì lý do chị H đang nuôi con nhỏ, cần thêm thời gian để nuôi dưỡng. Vì vậy, anh nói chị H ở nhà để nuôi con cho đến khi cứng cáp thì mới đi làm nhưng chị H không đồng ý nên vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Chị H đã bỏ về gia đình bố mẹ đẻ chị tại thôn T, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Ngoài nội dung sự việc như trên, vợ chồng anh cũng không có đánh cãi chửi nhau.
Nay anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, anh yêu cầu được đoàn tụ để cùng nhau nuôi dạy con cái.
Về con chung: Anh và chị H có 01 con chung là cháu Trần Hữu K1, sinh ngày 16/4/2024. Hiện cháu K1 đang ở cùng với anh K tại xã V. Nếu ly hôn, anh yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trần Hữu K1. Anh không yêu cầu chị H không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về điều kiện nuôi con, anh đang làm nhân viên tại Đại lý H3 ủy quyền Nhung Hồng, tại địa chỉ: Phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc với mức thu nhập hàng tháng là 8.500.000₫ – 9.000.000đ/tháng.
Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ và công sức: Anh và chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
Về thủ tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký Tòa án, HĐXX, thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn là anh K chưa chấp hành đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, còn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
Về nội dung vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
- - Cho chị H và anh K được ly hôn.
- - Về con chung: Giao cháu Trần Hữu K1, sinh ngày 16/4/2024 cho chị H nuôi dưỡng. Anh K phải cấp dưỡng nuôi con là 02 triệu đồng/01 tháng, tính từ tháng 05/2025 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, có khả năng lao động kiếm sống.
- - Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Về án phí: Đề nghị giải quyết theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị Thu H khởi kiện anh Trần Hữu K tranh chấp về quan hệ hôn nhân và gia đình. Bị đơn cư trú tại xã V (nay là xã S), huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Theo các quy định tại các Điều 28, 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường.
Bị đơn là anh Trần Hữu K vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do; đã được tống đạt QĐXX, Quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ. Do vậy, HĐXX tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Thu H và anh Trần Hữu K là hôn nhân tiến bộ, hợp pháp có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn với nhau, các bên đã có thời gian chung sống hòa thuận, hạnh phúc và đã có 01 con chung cùng nhau.
Tuy nhiên, trong cuộc sống hàng ngày đã phát sinh những bất hòa mâu thuẫn mà nguyên nhân một phần do trong cuộc sống hôn nhân, các bên không hiểu nhau, không chia sẻ với nhau những khó khăn trong cuộc sống; các bên không có sự tin yêu, chăm sóc nhau; lại cộng thêm mâu thuẫn giữa hai bên gia đình; làm cho cuộc hôn nhân ngột ngạt, không hạnh phúc; chị H là nữ giới, được phân tích, hòa giải nhiều nhưng vẫn kiên quyết ly hôn.
Do vậy, việc chị H xin ly hôn anh K là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên cần được chấp nhận.
Về con chung: vợ chồng có 01 con chung là cháu Trần Hữu K1, sinh ngày 16/4/2024. Hiện đang do anh K nuôi dưỡng tại xã S.
Xét cả hai bên đương sự đều có nguyện vọng nuôi con; các bên đều có đủ điều kiện vật chất, tài chính, tinh thần để nuôi dạy con chung. Tuy nhiên hiện cháu K1 chưa đủ 36 tháng tuổi, rất cần sự chăm sóc, nuôi dưỡng của người mẹ. Cần giao cho chị H trực tiếp nuôi con và cũng chấp nhận yêu cầu của chị, cần buộc anh K phải đóng góp nuôi con chung cùng chị H với mức 02 triệu đồng/ 01 tháng.
Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thu H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Anh K phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
4. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tố tụng, nội dung vụ án là phù hợp với thực tế và pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51 và khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Luật hôn nhân và gia đình. Điều 26 Luật thi hành án dân sự. Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự. Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thu H và anh Trần Hữu K.
-
Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Thu H được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là cháu Trần Hữu K1, sinh ngày 16/4/2024 (hiện cháu đang sinh sống cùng anh K).
Buộc anh Trần Hữu K phải đóng góp nuôi con chung cùng chị H với mức 2.000.000 đồng/01 tháng; bắt đầu từ tháng 05 năm 2025 cho đến khi cháu K1 đủ 18 tuổi và có khả năng lao động tự túc được.
Vì quyền lợi của con chung, sau khi ly hôn, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức đóng góp nuôi con. Bên không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định, không ai được cản trở.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và chị hà có yêu cầu thi hành án, nếu anh K không đóng góp đủ số tiền nuôi con theo quyết định nêu trên, thì hàng tháng phải chịu khoản tiền lãi theo quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
- Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức: các bên không đề nghị giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
-
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thu H phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ số tiền 300.000đ đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số: 0005264 ngày 27/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Tường. Xác nhận chị H đã nộp đủ án phí.
Buộc anh Trần Hữu K phải nộp 300.000 đồng án phí sơ thẩm.
- Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa Đỗ Thành Công |
Bản án số 23/2025/HNGĐ-ST ngày 14/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 23/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thu Hà và anh Trần Hữu Kiên
