|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ TỈNH QUẢNG NGÃI Bản án số: 23/2024/HNGĐ-ST Ngày: 09 - 7 - 2024 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Trung
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Hòa và bà Trương Thị Hương
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hòa - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên toà: Ông Trần Phương Duy - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 26/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số: 67/2024/QÐST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Cẩm S, sinh năm 1984; địa chỉ: Tổ dân phố E, phường N, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi; Có mặt
Bị đơn: Anh Trần Minh K, sinh năm 1983; địa chỉ: Tổ dân phố E, phường N, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi; Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 22/02/2024 và tại phiên toà nguyên đơn chị Huỳnh Thị Cẩm S trình bày:
Chị và anh Trần Minh K tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện Đ (nay là phường P, thị xã Đ), tỉnh Quảng Ngãi vào tháng 01 năm 2011. Trong thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp, anh K thường gây gổ, đánh đập, nhục mạ vợ con dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã. Chị đã nhẫn nhịn để hàn gắn tình cảm với mong muốn con cái có tình thương của bố mẹ, nhưng mâu thuẫn vợ chồng vẫn không khắc phục được. Nay chị cảm thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Minh K.
Về con chung: Vợ chồng chị có 02 người con chung tên Trần Hoàng T, sinh ngày 11/5/2012 và Trần Cẩm T1, sinh ngày 17/5/2015. Khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi hai con chung và không yêu cầu anh K cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết
Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Trần Minh K trình bày:
Anh thừa nhận những lời trình bày của chị S về quan hệ hôn nhân cũng như mâu thuẫn vợ chồng là đúng. Về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do bất đồng quan điểm sống, đôi lúc anh nóng giận không kiềm chế bản thân nên có những lời lẽ không hay và có đôi lúc dùng tay đánh vào mặt chị S. Tuy vợ chồng có mâu thuẫn nhưng không trầm trọng; do đó việc chị S yêu cầu ly hôn thì anh không đồng ý vì anh không muốn các con thiếu tình thương của cha mẹ.
Về con chung: Vợ chồng có 02 người con chung tên Trần Hoàng T, sinh ngày 11/5/2012 và Trần Cẩm T1, sinh ngày 17/5/2015. Trường hợp vợ chồng phải ly hôn thì anh yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu T; giao cháu T1 cho chị S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; không bên nào cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết
Về nợ chung: Không có
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên theo quy định tại Điều 262 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của pháp Luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng, bị đơn không chấp hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Huỳnh Thị Cẩm S được ly hôn anh Trần Minh K.
Về con chung: Đề nghị giao 02 người con chung tên Trần Hoàng T, sinh ngày 11/5/2012 và Trần Cẩm T1, sinh ngày 17/5/2015 cho chị Huỳnh Thị Cẩm S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; chị S không yêu cầu cấp dưỡng cho con nên không xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị S và anh K không yêu cầu giải quyết tài sản chung nên không xét; chị S và anh K đều khai không có nợ chung nên không xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn chị Huỳnh Thị Cẩm S có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn anh Trần Minh K có nơi cư trú tại phường N, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.
[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Trần Minh K đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn.
[3] Về hôn nhân: Chị Huỳnh Thị Cẩm S và anh Trần Minh K tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 11/01/2011 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Đ (nay là phường P, thị xã Đ), tỉnh Quảng Ngãi; vì vậy quan hệ hôn nhân giữa chị S và anh K là hoàn toàn hợp pháp. Trong thời gian chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường cãi vã và anh K thừa nhận đôi lúc anh nóng giận không kiềm chế bản thân nên có những lời lẽ không hay và dùng tay đánh vào mặt chị S. Chị S và anh K không còn tình cảm, không còn quan tâm gì với nhau; tuy anh K không đồng ý ly hôn nhưng anh không có hướng khắc phục mâu thuẫn để thuyết phục chị S trở lại cùng chung sống, đoàn tụ. Mặt khác, Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng chị S cương quyết yêu cầu ly hôn. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị S và anh K đã ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy căn cứ vào Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho chị Huỳnh Thị Cẩm S được ly hôn anh Trần Minh K.
[4] Về con chung: Vợ chồng chị Huỳnh Thị Cẩm S và anh Trần Minh K có 02 con chung tên là Trần Hoàng T, sinh ngày 11/5/2012 và Trần Cẩm T1, sinh ngày 17/5/2015, hiện các con đang ở với cha mẹ. Nếu vợ chồng ly hôn thì anh K yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu T; giao cháu T1 cho chị S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; không bên nào cấp dưỡng cho con; chị S yêu cầu được nuôi cả hai con chung và không yêu cầu anh K cấp dưỡng cho con. Xét yêu cầu của chị S, anh K về nuôi con chung khi ly hôn, thấy rằng: Cháu T và cháu T1 đều có nguyện vọng ở với mẹ; hiện chị S có nơi ở và việc làm ổn định. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho các cháu, Hội đồng xét xử nhận thấy nên giao cháu T và cháu T1 cho chị S trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục; chị S không yêu cầu cấp dưỡng cho con nên không xem xét.
[5] Về tài sản chung: Chị S và anh K đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.
[6] Về nợ chung: Anh K, chị S khai không có nợ chung nên không xem xét.
[7] Về án phí: Căn cứ theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Huỳnh Thị Cẩm S phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn.
[8] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;
- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho chị Huỳnh Thị Cẩm S được ly hôn anh Trần Minh K.
2. Về con chung: Giao các con Trần Hoàng T, sinh ngày 11/5/2012 và Trần Cẩm T1, sinh ngày 17/5/2015 cho chị Huỳnh Thị Cẩm S trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ đối với con chung mà không ai được cản trở. Sau khi ly hôn đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình.
3. Về tài sản chung: Chị S, anh K không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.
4. Về nợ chung: Anh K, chị S khai không có nợ chung nên không xem xét.
5. Về án phí: Chị Huỳnh Thị Cẩm S phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm ly hôn; được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí chị S đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí số 0001781 ngày 06 tháng 3 năm 2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.
6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Minh Trung |
Bản án số 23/2024/HNGĐ-ST ngày 09/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn
- Số bản án: 23/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sương khởi kiện ly hôn Kiên
