Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GIAO THỦY

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2024/HS-ST

Ngày: 23 - 4 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ông Ngọc Lễ.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Lê Thanh Giang;
  • Bà Phùng Thị Quỳnh .

Thư ký phiên tòa: Tại điểm cầu trung tâm: Bà Đặng Thị Ngoan; tại điểm cầu thành phần: Ông Đặng Văn P.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Tại điểm cầu trung tâm: Bà Đào Thị Y - Kiểm sát viên; Tại điểm cầu thành phần: Bà Ngô Thị T - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 4 năm 2024, Tại điểm cầu trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 23/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn T1; sinh năm 1971, tại huyện G, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Xóm H, xã B, huyện G, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T2 (đã chết) con bà Trần Thị C; vợ Nguyễn Thị S có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 06-12-2015 bị Toà án nhân dân huyện Giao Thuỷ xử phạt 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Bị bắt tạm giữ ngày 27- 12- 2023, chuyển tạm giam từ ngày 30-12-2023 đến nay; bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N “có mặt tại điểm cầu thành phần”.

* Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị H - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N “có mặt”.

* Người chứng kiến:

  • - Ông Vũ Đức T3 “vắng mặt”;
  • - Anh Hoàng Xuân N “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 9h40' ngày 27- 12- 2023, Tổ tuần tra Công an xã B, huyện G đang làm nhiệm vụ tại khu vực đường dong xóm H xã B, huyện G phát hiện Nguyễn Văn T1 có biểu hiện nghi vấn. Tổ tuần tra đã yêu cầu kiểm tra hành chính đối với T1. Quá trình kiểm tra T1 đã tự giác nộp cho tổ tuần tra 01 gói nhỏ bên ngoài gói bằng giấy lịch vạn niên, bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng. T1 khai đó là gói heroine T1 cất giấu với mục đích để sử dụng cho bản thân. Tổ tuần tra đã tiến hành lập biên bản, niêm phong vật chứng thu giữ (ký hiệu A), bàn giao vật chứng cùng đối tượng cho cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện G giải quyết theo thẩm quyền.

Tại Bản kết Luận giám định số:155/KL/GĐKTHS ngày 29-12-2023 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 01 gói nhỏ bên ngoài gói bằng giấy lịch vạn niên, trong phong bì thư được niêm phong ký hiệu A gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Heroine, khối lượng mẫu A: 0,183gam.

Tại Cáo trạng số 24/CT-VKS ngày 27-3-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố đối với Nguyễn Văn T1 và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s, điểm p khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. xử phạt Nguyễn Văn T1 từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối bị cáo; căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy đã hoàn trả sau giám định.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày lời bào chữa, đề nghị Hội đồng xét xử

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s, điểm p khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất trong khung đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo Nguyễn Văn T1 thừa nhận hành vi phạm tội đã nêu, không bào chữa, tranh luận gì, ăn năn, hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt tù, và xin miễn hình phạt bổ sung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, và kết luận giám định về số ma túy thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Ngày 27-12-2023, Nguyễn Văn T1 đã cất giữ trái phép 0,183 gam heroine để sử dụng cho bản thân thì bị bắt giữ. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Do đó hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý". Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ pháp luật.

[3]Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Năm 2015 bị cáo đã bị Toà án xét xử có tội, nay đã được xoá án tích nên bị cáo là người có nhân thân xấu; bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định của Bộ luật hình sự; bị cáo thành khẩn khai báo, bản thân là người khuyết tật nặng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s và điểm p khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[4] Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn, đủ tác dụng cải tạo bị cáo thành người có ích cho gia đình và xã hội đồng thời răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có tài sản giá trị, bản thân nghiện ma túy, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: Số ma túy thu giữ trong vụ án là vật nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu cho tiêu hủy.

[7] Về nguồn gốc số heroine: Quá trình điều tra không đủ căn cứ kết luận ai là người bán ma túy cho bị cáo nên không có cơ sở xem xét.

[8] Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn T1 bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo Nguyễn Văn T1 có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s, điểm p khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 01 năm 09 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ: 27-12-2023.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn trả mẫu vật sau giám định (được ghi chi tiết tại Biên bản giao nhận vật chứng số: 41/2024 ngày 28-3-2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giao Thủy).

3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Văn T1 phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về kháng cáo: Căn cứ các điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Nguyễn Văn T1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - TAND tỉnh Nam Định;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Nam Định;
  • - VKSND huyện Giao Thủy;
  • - VKSND tỉnh Nam Định;
  • - Chi cục THADS huyện Giao Thủy;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ông Ngọc Lễ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2024/HS-ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH về tàng trữ trái phép chất ma túy (criminal case)

  • Số bản án: 23/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt Nguyễn Văn Tú xử phạt 01 năm 09 tháng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger