TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ A - TỈNH GIA LAI ————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
Bản án số 23/2024/HNGĐ-ST Ngày 20/9/2024 “V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ A - TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Bích Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Thị Kia;
- Bà Võ Thị Trúc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Dung – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Gia Lai.
Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 79/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2024/QĐXX-ST ngày 02/8/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1981; nơi thường trú: Tổ B, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai; có mặt;
- Bị đơn: Anh Lê Quốc D, sinh năm 1977; nơi thường trú: Tổ B, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu T trình bày: Chị và anh Lê Quốc D tự nguyện kết hôn có đăng ký kết hôn Ủy ban nhân dân phường A, thị xã A vào ngày 23/6/2005. Vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cãi nhau. Anh D thường xuyên uống rượu về đập phá đồ đạc, cầm dao dọa chém chị. Chị đã nhẫn nhịn nhiều lần nhưng anh D vẫn không thay đổi. Sau khi chị nộp đơn ly hôn, tuy anh D trình bày không đồng ý ly hôn nhưng anh D vẫn không thay đổi, vẫn uống rượu và dùng lời nói xúc phạm đến chị, đập phá đồ đạc, hiện nay tình cảm vợ chồng không còn nữa nên chị T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Lê Quốc D.
Về con chung: Chị và anh D có 2 con chung là Lê Trung K, sinh ngày 23/5/2006 và Lê Trung T1, sinh ngày 15/8/2012. Cháu K đã trên 18 tuổi và tự lập được, chị T yêu cầu trực tiếp nuôi cháu T1, không yêu cầu anh D phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Lời khai có tại hồ sơ của bị đơn anh Lê Quốc D thể hiện: Anh và chị Nguyễn Thị Thu T tự nguyện kết hôn có đăng ký kết hôn như chị T trình bày. Trong quá trình chung sống vợ chồng anh cũng có mâu thuẫn, cãi nhau nhưng không đến mức trầm trọng. Anh vẫn mong muốn vợ chồng tiếp tục cùng nhau chung sống để nuôi dạy con nên anh không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị T.
Về con chung: Anh và chị T có 02 con chung là Lê Trung K, sinh ngày 23/5/2006 và Lê Trung T1, sinh ngày 15/8/2012. Cháu K đã trên 18 tuổi và tự lập được, anh yêu cầu trực tiếp nuôi cháu T1, không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung nghĩa vụ chung về tài sản: Anh D không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu T yêu cầu ly hôn và có tranh chấp về nuôi con với anh Lê Quốc D; nơi thường trú: Tổ B, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thì đây là vụ án về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Gia Lai.
[2] Bị đơn anh Lê Quốc D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn anh Lê Quốc D.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu T và anh Lê Quốc D tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật nên là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống chị T và anh D phát sinh mâu thuẫn nên chị T yêu cầu ly hôn với anh D. Anh D mặc dù không đồng ý ly hôn nhưng cả hai bên đều đã không cố gắng gỡ bỏ mâu thuẫn để tiếp tục chung sống cùng nhau. Nhiều lần Tòa án hòa giải nhưng anh D không đến. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh D là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Thu T với anh Lê Quốc D.
[4] Về việc nuôi con: Chị T và anh D có 2 con chung là Lê Trung K, sinh ngày 23/5/2006 và Lê Trung T1, sinh ngày 15/8/2012. Cháu K đã trên 18 tuổi và tự lập được. Cháu T1 còn nhỏ tuổi cần có sự chăm sóc, giáo dục của mẹ, cháu T1 có nguyện vọng sống cùng với mẹ; xét chị T có công việc thu nhập ổn định đủ điều kiện nuôi con. Do vậy cần chấp nhận yêu cầu của chị T giao cho chị T trực tiếp nuôi con là cháu Lê Trung T1.
[5] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị T và anh D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn. Bị đơn anh Lê Quốc D không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 55, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 119 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cụ thể như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận chị Nguyễn Thị Thu T ly hôn với anh Lê Quốc D.
- Về việc nuôi con: Giao cho chị Nguyễn Thị Thu T trực tiếp nuôi con là cháu Lê Trung T1, sinh ngày 15/8/2012, khi cháu T1 chưa thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Nếu người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Trên cơ sở lợi ích của con, các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc cấp dưỡng nuôi con.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thu T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ, theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0013098 ngày 03 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã A, chị T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Anh Lê Quốc D không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 20/9/2024. Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Bích Thảo |
Bản án số 23/2024/HNGĐ-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ A - TỈNH GIA LAI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 23/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ A - TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị T yêu cầu ly hôn với anh D
