Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LÀO CAI

TỈNH LÀO CAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2024/DS-ST

Ngày 20/8/2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hà Thị Anh.

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Kim Minh;

Bà Vũ Thị Hòa;

Thư ký phiên toà: Ông Phùng Mạnh Cường - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Hoàng Văn Lĩnh - Kiểm sát viên.

Ngày 19, 20 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Lào Cai,Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 40/2024/TLST- DS ngày 28 tháng 03 năm 2024 về việc kiện “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2024/QĐXXST- DS ngày 15 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 29A/2024/QĐST-DS ngày 31 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Vũ Tiến C

Nơi cư trú: Thôn Thống Nhất, xã Thống Nhất, thành phố Lào Cai.

Nơi ở: Thôn Văn Liên, xã Văn Phú, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái. Có mặt tại phiên tòa.

Bị đơn: Ông Phạm Vũ B;

Địa chỉ: Tổ C, phường D, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền theo ủy quyền của bị đơn: Ông Vương Ngọc L.

Địa chỉ: Số G đường T, tổ D, phường D, thành phố L. Có mặt tại phiên tòa

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị T, địa chỉ: Tổ C, phường D, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn trình bày:

Ngày 18/9/2022 ông Phạm Vũ B có vay của của ông Vũ Tiến C số tiền là 150.000.000 đồng, thời gian vay là 12 tháng tính từ ngày 18/9/2023, trong giấy vay không thỏa thuận về lãi suất, lãi suất hai bên tự thỏa thuận miệng với nhau. Nhưng đã hết thời hạn trả nợ ông B vẫn không trả được số tiền gốc nào. Trước khi cho ông B vay thì ông C đã nói chuyện và hỏi ý kiến bà T,T nhất trí để ông B vay tiền ông C. Vì vậy việc vay tiền số tiền 150 triệu đồng theo giấy vay tiền trên là nghĩa vụ của

cả hai vợ chồng ông Phạm Vũ BPhạm Thị T. Đến nay nguyên đơn đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông BT phải có trách nhiệm trả cho ông C số tiền gốc là 150.000.000 đồng và khoản tiền lãi chậm trả tính từ ngày 19/9/2023 đến ngày 19/8/2024 là 11 tháng, tính lãi suất 10%/năm là 15.000.000 đồng, tổng cộng là 165.000.000 đồng.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Vương Ngọc L trình bày:

Ngày 18/11/2020 ông Phạm Vũ B có vay của ông Vũ Tiến C số tiền là 350 triệu đồng, đến ngày 20/5/2021 ông B đã trả cho ông C được số tiền 200 triệu đồng. Sau đó do khó khăn nên ông B đã xin ông C là không tính lãi suất, ông C cũng đồng ý, nhưng do tin tưởng nhau nên hai bên không viết lại giấy vay tiền. Đến ngày 18/9/2022 ông Vũ Tiến C mới đề nghị ông B viết lại giấy vay tiền. Theo giấy vay tiền ngày 18/9/2022 ông Phạm Vũ B còn nợ ông Vũ Tiến C số tiền là 150 triệu đồng, nhưng không tính lãi suất, thời hạn vay là 12 tháng tính từ ngày 18/9/2022. Từ ngày 20/5/2021 đến ngày 13/01/2024 ông Phạm Vũ B đã chuyển trả cho ông Vũ Tiến C (chuyển tiền mặt, chuyển khoản) số tiền là 99 triệu đồng. Vì vậy tính đến nay ông Phạm Vũ B chỉ còn nợ ông Vũ Tiến C số tiền là 51 triệu đồng. Do giấy vay không ghi lãi suất nên ông Phạm Vũ B không nhất trí trả tiền lãi chậm trả cho ông C.

Ngoài ra ông Phạm Vũ B xác định khoản tiền vay trên là ông vay của ông Vũ Tiến C và bà Trần Thị T1 (vợ cũ của ông C) và là khoản vay riêng để làm ăn của ông B không liên quan đến vợ ông là bà Phạm Thị T.

Tại bản tự khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị T có ý kiến như sau: Năm 2020 chồng bà là Phạm Vũ B có vay tiền của ông Vũ Tiến C mục đích để ông B làm ăn riêng, cụ thể vay để làm công việc gì, vay bao nhiêu tiền thì bà T không biết. Đến ngày 20/5/2021 bà T thấy chồng là ông Phạm Vũ B nói là đã trả được cho ông C 200 triệu đồng, còn nợ lại 150 triệu đồng do việc làm ăn gặp nhiều khó khăn nên ông B đã xin ông C không tính lãi. Trong thời gian ông B vay tiền của ông C,T là vợ nên cũng có lần ông B cũng nhờ bà T chuyển tiền qua tài khoản cho ông C.T xác định cũng không ký bất kỳ giấy tờ gì với ông C. Vì vậy bà T không nhất trí liên đới cùng ông B trả khoản nợ trên cho ông C.

Tại biên bản lấy lời khai bà Trần Thị T1 có ý kiến như sau: Bà T1 là vợ cũ của ông C, ông bà đã ly hôn năm 2023. Trước kia ông C có cho ông B vay số tiền 350 đồng, sau đó ông B đã trả cho ông C 200 triệu đồng, còn nợ lại 150 triệu đồng, cụ thể ông C và ông B thỏa thuận đối với số tiền 150 triệu đồng như thế nào bà T1 không biết. Khoản vay trên ông C cho ông B vay khi ông bà chưa ly hôn nên đó là khoản tiền chung của vợ chồng. Tuy nhiên khi ly hôn ông bà đã tự thỏa thuận đối với khoản tiền 150 triệu đồng đã cho ông B nợ, ông C có toàn quyền đòi nợ, bà T1 không có quyền lợi liên quan gì. Vì vậy đến nay ông Vũ Tiến C khởi kiện đối với ông Phạm Vũ BT1 không có ý kiến gì, không liên quan gì đến vụ án.

Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn giữ nguyên ý kiến.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai: Quá trình giải quyết vụ án các thủ tục tố tụng được tiến hành đầy đủ, đúng quy định. Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Việc chấp hành pháp luật của các đương sự đúng quy định pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 147; khoản 3 điều 26; điểm a khoản 1 điều 35; Điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 463; Điều 466; khoản 2 điều 468 Bộ luật Dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Vũ Tiến C.

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bà Phạm thị T2 phải có trách nhiệm liên đới cùng ông Phạm Vũ B trả cho ông Vũ Tiến C số tiền đã vay.

Tuyên án phí, quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Vũ Tiến C khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Phạm Vũ B và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị T phải có trách nhiệm trả số tiền gốc đã vay là 150.000.000 đồng theo giấy vay tiền ghi ngày 18/9/2022 và yêu cầu tính lãi suất chậm trả. Vì vậy, quan hệ pháp luật của vụ án được xác định là tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai theo khoản 3 điều 26; điểm a khoản 1 điều 35; điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[1.2] Về việc vắng mặt của các đương sự:

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị T vắng mặt tại phiên tòa, không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Dân sự, Tòa án xét xử vụ án vắng mặt bà Phạm Thị T.

[2] Xét nội dung vụ án:

Căn cứ lời khai của các đương sự và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, xét thấy: Ngày 18/11/2020 Nguyên đơn ông Vũ Tiến C cho bị đơn ông Phạm Vũ B vay số tiền 350 triệu đồng, thời gian vay là 06 tháng, lãi suất 2%. Ngày 20/5/2021 ông B đã trả cho ông C được 200 triệu tiền gốc, số tiền gốc còn nợ lại là 150 triệu đồng. Ngày 18/9/2022 hai bên thỏa thuận thống nhất viết thành một giấy vay nợ mới với nội dung: Ông Phạm Vũ B vay của ông C số tiền 150 triệu đồng, thời gian vay 12 tháng tính từ ngày 18/9/2022, không có nội dung thỏa thuận lãi suất cho vay. Giấy vay tiền trên là do ông Phạm Vũ B viết hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc.

Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Vũ Tiến C cung cấp 04 bản phô tô nói chuyện giữa tài khoản zalo của ông C và tài khoản zalo ông C lưu tên là “B d T3” nội dung trao đổi về việc lãi suất và cung cấp “Sổ phụ chi tiết kiêm báo nợ/báo có” của tài khoản số 3999206061953 mang tên ông Vũ Tiến C tại Ngân hàng TMCP Q. Xét thấy từ ngày 17 đến ngày 21 hàng tháng (từ tháng 9 năm 2022 đến tháng 7 năm 2023) ông B đều chuyển cho ông C số tiền 3 triệu đồng, riêng tháng 11,12/2023 và tháng 1/2024 ông B chuyển cho ông C mỗi tháng 5 triệu đồng nhưng nội dung chuyển tiền ghi “Phạm Vu B1 chuyen tien”. Các cuộc nói chuyện trong zalo đều là bản phô tô, ngoài ra người đại diện theo ủy quyền của bị đơn không thừa nhận đó là

cuộc nói chuyện giữa ông B và ông C nên không có căn cứ nào để xác thực đó có phải là nói chuyện giữa ông B và ông C không? Mặt khác thông tin qua zalo nói chuyện về lãi suất nhưng không nói rõ tính lãi suất của khoản tiền nào?cụ thể tính bao nhiêu %? Số tiền hàng tháng ông B chuyển cho ông C không ghi rõ là chuyển trả cho khoản tiền nào? Trả cho khoản gốc hay khoản lãi?. Ngoài giấy vay tiền hai bên đã ký kết ngày 18/9/2022, không có tài liệu nào khác để chứng minh, do đó xác định đây là hợp đồng vay tài sản không tính lãi theo khoản 4 điều 466 Bộ luật Dân sự. Vì vậy từ 18/9/2022 đến 18/9/2023 ông Phạm Vũ B chuyển trả ông Vũ Tiến C (11 tháng) số tiền 33 triệu đồng cần khấu trừ vào số tiền gốc, số tiền gốc ông Phạm Vũ B còn nợ lại là: 117.000.000 đồng.

Đối với yêu cầu buộc bà Phạm Thị T là vợ ông Phạm Vũ B phải có trách nhiệm liên đới trả cho ông Vũ Tiến C số tiền gốc và số tiền lãi phát sinh. Xét thấy, tại giấy vay tiền ghi ngày 18/9/2022, giấy tờ vay tiền chỉ có ông B ký, không có chữ ký của bà T. Bị đơn ông Phạm Vũ B xác định khoản vay trên là khoản vay cá nhân ông B để làm ăn không liên quan đến bà T. Theo Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình vợ chồng chỉ phải chịu trách nhiệm đối với các khoản vay phát sinh do vợ chồng cùng xác lập. Do vậy không có căn cứ xác định trách nhiệm của bà Phạm Thị T đối với các khoản tiền cho vay giữa ông B và ông C.

Đối với ý kiến của người đại diện theo ủy quyền của bị đơn cho rằng: Khoản vay trên là khoản vay chung của ông C,T1 và từ ngày 20/5/2021 đến tháng 05/2024 ông Phạm Vũ B đã chuyển cho ông Vũ Tiến C tổng số tiền là 99 triệu đồng. Xét thấy lời khai của ông C và bà T1 đều xác định khi ông bà ly hôn đã tự thỏa thuận quyền đòi nợ đối với ông B,T1 xác định không còn quyền lợi gì liên quan đến khoản tiền 150 triệu đồng đã cho ông B vay. Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đã giao nộp danh sách chuyển tiền từ 18/9/2022 đến tháng 5/2024, bị đơn không nộp được chứng cứ nào khác nên chỉ xác định số tiền nguyên đơn ông C đã chuyển cho bị đơn ông B tổng cộng là 48 triệu đồng và không có căn cứ xem xét đối với số tiền mà ông B cho rằng đã chuyển cho ông C là 51 triệu đồng.

Từ những phân tích trên, cần chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Vũ Tiến C buộc bị đơn ông Phạm Vũ B phải có trách nhiệm trả số tiền gốc đã vay là 117 triệu đồng tiền gốc là có căn cứ theo điều 463, điều 466 Bộ luật Dân sự 2015.

Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Vũ Tiến C về việc buộc bà Phạm Thị T phải có trách nhiệm liên đới cùng ông Phạm Vũ B trả khoản vay trên cho ông Vũ Tiến C;

[4] Về lãi suất: Nguyên đơn yêu cầu tính lãi suất chậm trả kể từ ngày 19/09/2023 đến 19/8/2024 là 11 tháng, lãi suất tính 10%/năm là: 15.000.000 đồng.

Xét thấy, giấy vay tiền ghi ngày 18/9/2022 không có thỏa thuận về lãi suất. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định đây là hợp đồng vay tiền không có lãi suất, lãi suất chậm trả được tính theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự, tính 10%/năm là phù hợp. Tuy nhiên sau ngày 19/9/2023 bị đơn ông Phạm Vũ B tiếp tục chuyển trả cho nguyên đơn ông C 03 lần, mỗi lần 5 triệu đồng, khi chuyển cũng không ghi là chuyển trả khoản gốc hay khoản lãi, vì vậy cần tính lãi chậm trả phát sinh, sau khi khấu trừ tiền lãi, tiếp tục khấu trừ vào khoản gốc cụ thể, cách tính như sau:

Từ 19/9/2023 đến 20/11/2023: Phát sinh lãi: 02 tháng là 1.950.000 đồng.

Ngày 21/11/2023 trả được 5 triệu đồng, khấu trừ số tiền lãi là 1.950.000 đồng, còn lại 3.050.000 đồng khấu trừ vào gốc còn: 113.950.000 đồng.

Từ 22/11/2023 đến 18/12/2023 trả được 5 triệu đồng gồm: 949.583 đồng tiền lãi và 4.050.417 đồng tiền gốc, số gốc còn: 109.899.583 đồng.

Từ 19/12/2023 đến 13/01/2024 trả được 5 triệu đồng gồm: 915.829 đồng tiền lãi và 4.084.171 đồng tiền gốc, số gốc còn: 105.815.412 đồng.

Từ 14/01/2024 đến 20/8/2024 (ngày xét xử) tiền lãi chậm trả tính tròn 7 tháng là 6.172.565 đồng.

Tổng gốc và lãi ông Phạm Vũ B còn nợ ông Vũ Tiến C là: 111.987.977 đồng.

[5] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần yêu cầu không được chấp nhận, bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các khoản 3 điều 26; điểm a khoản 1 điều 35; điểm a khoản 1 điều 39; Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 463; Điều 466; khoản 2 điều 468 Bộ luật Dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Vũ Tiến C. Buộc bị đơn ông Phạm Vũ B phải có nghĩa vụ trả cho ông Vũ Tiến C số tiền gốc đã vay là: 105.815.412 đồng (Một trăm linh năm triệu tám trăm mười lăm nghìn bốn trăm mười hai đồng), tiền lãi là 6.172.565 đồng (Sáu triệu một trăm bảy mươi hai nghìn năm trăm sáu mươi lăm đồng). Tổng cộng là: 111.987.977 đồng (Một trăm mười một triệu chín trăm tám mươi bảy nghìn chín trăm bảy mươi bảy đồng).
  2. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chậm thi hành án tương ứng với thời gian chậm thi hành án theo quy định tại Điều 357; Điều 468 Bộ luật Dân sự.

    Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Vũ Tiến C về việc buộc bị đơn ông Phạm Vũ B phải trả số tiền tổng cộng 53.012.023 đồng (Năm mươi ba triệu không trăm mười hai nghìn không trăm hai mươi ba đồng) trong đó: tiền gốc là 44.184.588 đồng (Bốn mươi bốn triệu một trăm tám mươi tư nghìn năm trăm tám mươi tám đồng) và tiền lãi là 8.827.435 đồng (tám triệu tám trăm hai mươi bảy nghìn bốn trăm ba mươi lăm đồng).

    Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Vũ Tiến C về việc buộc người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị T phải có trách nhiệm liên đới cùng bị đơn Ông Phạm Vũ B trả cho nguyên đơn ông Vũ Tiến C số tiền gốc và tiền lãi phát sinh.

  3. Về án phí: Buộc bị đơn ông Phạm Vũ B phải chịu 5.599.398 đồng (Một trăm mười ba triệu một trăm linh chín nghìn sáu trăm bốn mươi bảy đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Nguyên đơn ông Vũ Tiến C phải chịu 2.650.601 đồng (Hai triệu sáu trăm năm mươi nghìn sáu trăm linh một đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm
  1. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Hòa Nguyễn Kim M

Hà Thị A

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lào Cai;
  • - VKS ND tỉnh Lào Cai;
  • - VKSND thành phố Lào Cai;
  • - Chi cục THADS thành phố Lào Cai;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS; TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Thị Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2024/DS-ST ngày 20/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 23/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông C khởi kiện đòi ông B số tiền là 150 triệu đồng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger