Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHONG ĐIỀN

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2024/HS-ST

Ngày 20-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đạt.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Đoàn Thị Lành.
  2. Bà Lê Thị Na

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Chiến, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị P - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 21/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2024 và Thông báo ấn định lại thời gian xét xử số 1455/TB-TA ngày 04/7/2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Hoàng Thị T (tên gọi khác: Không); giới tính: Nữ; sinh ngày 29/8/1977 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Tổ dân phố T, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ học vấn: 9/12; con ông Hoàng P1, sinh năm 1946 và bà Phan Thị H, sinh năm 1954; có chồng là Nguyễn Thiện C, sinh năm 1967 (đã chết); có 03 con, con lớn nhất, sinh năm: 2005; con nhỏ nhất, sinh năm: 2015; Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con đầu; tiền án, tiền sự: Không có; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/01/2024 và thay thế biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh từ ngày 12/01/2024 đến hết ngày 19/04/2024 thì được áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.
  2. Họ và tên: Lê Thị Ngọc A (tên gọi khác: Không); giới tính: Nữ; sinh ngày 01/11/1984 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Thôn H, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 5/12; con ông Lê D (đã chết) và bà Nguyễn Thị C1, sinh năm 1957; có chồng là Lê Văn Q, sinh năm 1984; có 02 con, con lớn nhất, sinh năm: 2010; con nhỏ nhất, sinh năm: 2011; Gia đình có 10 anh chị em, bị cáo là con thứ bảy; tiền án, tiền sự: Không có; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/01/2024 và thay thế biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh từ ngày 12/01/2024 đến hết ngày 19/04/2024 thì được áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.
  3. Họ và tên: Phan Thị N (tên gọi khác: Không); giới tính: Nữ; sinh ngày 12/02/1968 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Thôn V, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: 5/12; con ông Phan Công T1 và bà Nguyễn Thị T2 (đều đã chết); có chồng là Nguyễn Tuấn G (đã chết); có 02 con, con lớn nhất, sinh năm: 2010; con nhỏ nhất, sinh năm: 2011; Gia đình có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ ba; tiền án, tiền sự: Không có; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 19/01/2024 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.
  4. Họ và tên: Võ Thị H1 (tên gọi khác: Không); giới tính: Nữ; sinh ngày 25/7/1992 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Thôn H, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 5/12; con ông Võ Văn M, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1967; chồng: Trần Xuân B (đã ly hôn năm 2022); có 02 con, con lớn nhất, sinh năm: 2009; con nhỏ nhất, sinh năm: 2012; Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ hai; tiền án, tiền sự: Không có; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 19/01/2024 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.

· Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Hoàng Công S, sinh năm 1969; địa chỉ: Tổ dân phố K, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (có mặt).

· Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan của chị Bùi Thị Thanh H3:

  • + Anh Hoàng Nhi Á, sinh năm 1983; địa chỉ: Tổ dân phố K, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế - là chồng của chị H3 (có mặt).
  • + Ông Bùi H4 và bà Trần Thị L; địa chỉ: Số H Đ, thị trấn A, huyện A, tỉnh Thừa Thiên Huế - là cha, mẹ đẻ của chị H3 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 17 giờ 50 phút ngày 10/01/2024, tổ Công tác Công an huyện P phối hợp với Công an thị trấn Phong Điền tuần tra tại tổ dân phố K, thị trấn P, phát hiện, bắt quả tang tại quán tạm hoá Á, Bùi Thị Thanh H3 (chủ quán) đang có hành vi ghi số lô, số đề cho Hoàng Công S với số tiền đánh bạc 310.000 đồng, quá trình mở rộng điều tra, Công an huyện P phát hiện:

Trong ngày 10/01/2024, Hoàng Thị T sử dụng tài khoản zalo “HTphongdien”, số điện thoại đăng ký là 0838.941.xxx, tự đứng ra làm cái lô đề và bàn bạc thống nhất với Lê Thị Ngọc A, có tên tài khoản zalo “Anh PM”, Phan Thị N, tên tài khoản zalo “Lộc Phát T3” và Bùi Thị Thanh H3 tên tài khoản zalo “Tạp Hóa Á” sẽ nhận ghi số lô, số đề từ các người chơi, sau đó tổng hợp lại chuyển cho T qua zalo để được hưởng tiền hoa hồng theo thoả thuận H3 và N nhận được 7% (70.000₫/1.000.000₫) tiền hoa hồng trên tổng số tiền đánh, còn Anh hưởng 2% (20.000đ/1.000.000đ) trên tổng số tiền đánh, khi chuyển số lô, số đề đến cho T thì T nhắn tin trả lời “Ok” thì giao dịch xem như đã thành công. Sau khi có kết quả sổ xố thì T và cái dưới của mình tự tính toán tiền thắng, thua và xác nhận với nhau rồi giao nhận tiền trực tiếp hoặc thông qua tài khoản vào ngày hôm sau.

Cách thức ghi số đề dựa trên kết quả xổ số kiến thiết của các đài miền B, miền T và miền N. Người chơi sẽ lựa chọn các con số gồm loại số 2 chân (số có 02 chữ số) và 3 chân (số có 03 chữ số) để cá cược rồi chọn cách đánh và đài xổ số kiến thiết tuỳ thích. Sau khi có kết quả mở thưởng, đối chiếu các con số và đài xổ số đã cá cược để tính tỉ lệ thắng thua như sau:

- Đối với các đài xổ số miền T và miền N:

  • + Đánh 18 lô có nghĩa là lấy hai số cuối từ giải 8 đến giải đặc biệt, nếu trúng 01 lô thì lấy số tiền đánh nhân cho 5 thành số tiền thắng được.
  • + Đánh 17 lô có nghĩa là lấy ba số cuối từ giải 7 đến giải đặc biệt, nếu trúng 01 lô thì lấy số tiền đánh nhân cho 600 rồi chia cho 17 thành tiền thắng được.
  • + Đánh thượng 6 lô có nghĩa là lấy ba số cuối từ giải 5, giải 6, giải 7 và giải đặc biệt, nếu trúng vào 01 lô thì lấy số tiền đánh nhân cho 600 rồi chia cho 6 thành tiền thắng được.
  • + Đánh số đầu 02 số có nghĩa là lấy hai số cuối của giải 8, nếu trúng thì lấy tiền đánh nhân cho 70 thành tiền thắng được.
  • + Đánh số đuôi 02 số có nghĩa là lấy hai số cuối của giải đặc biệt, nếu trúng thì lấy số tiền đánh nhân cho 70 thành tiền thắng được.
  • + Đánh số đuôi 3 số hay còn gọi là đặc biệt có nghĩa là lấy ba số cuối của giải đặc biệt, nếu trúng thì lấy số tiền đánh nhân cho 600 thành tiền thắng được.

- Đối với đài miền B:

  • + Đánh 27 lô có nghĩa là lấy hai số cuối từ giải 7 đến giải đặc biệt, nếu trúng vào 01 lô thì lấy số tiền đánh nhân cho 70 rồi chia cho 27 thành tiền thắng được.
  • + Đánh 23 lô có nghĩa là lấy ba số cuối từ giải 6 đến giải đặc biệt, nếu trúng vào 01 lô thì lấy số tiền đánh nhân cho 600 rồi chia cho 23 thành tiền thắng được.
  • + Đánh thượng 04 lô có nghĩa là lấy số cần đánh so với các số ở giải sáu và 03 số đuôi giải đặc biệt, nếu trúng 01 lô thì lấy số tiền đánh nhân cho 150 thành tiền thắng được.
  • + Đánh thượng 10 lô có nghĩa là lấy số cần đánh so với các số ở giải sáu, giải năm và ba số cuối giải đặc biệt, nếu trúng 01 lô thì lấy số tiền đánh nhân cho 600 rồi chia 10 thành tiền thắng được.
  • + Đánh đầu 2 số có nghĩa là lấy các số của giải 7; nếu trúng 01 lô thì lấy số tiền đánh nhân cho 70 rồi chia 4 thành tiền thắng được.
  • + Đánh ở đuôi 2 số có nghĩa là lấy hai số cuối của giải đặc biệt, nếu trúng thì lấy tiền đánh nhân cho 70 thành tiền thắng được.
  • + Đánh ở đuôi 3 số hay còn gọi là đặc biệt có nghĩa là lấy ba số cuối của giải đặc biệt, nếu trúng thì lấy tiền đánh nhân cho 600 thành tiền thắng được.
  • + Đánh xuyên 2 có nghĩa là so cặp số đánh với 2 số cuối từ giải 7 đến giải đặc biệt, nếu trúng 01 lô (nghĩa là trùng với cả cặp số đánh) thì lấy số tiền đánh nhân cho 10 thành tiền thắng được.
  • + Đánh xuyên 3 có nghĩa là so 03 cặp số đánh với 2 số cuối từ giải 7 đến giải đặc biệt, nếu trúng 01 lô (nghĩa là trùng với cả ba cặp số đánh) thì lấy số tiền đánh nhân cho 40 thành tiền thắng được.
  • + Đánh xuyên 4 có nghĩa là so 04 cặp số đánh với 2 số cuối từ giải 7 đến giải đặc biệt, nếu trúng 01 lô (nghĩa là trùng với cả bốn cặp số đánh) thì lấy số tiền đánh nhân cho 100 thành tiền thắng được.

Các bị can và các đối tượng thống nhất các số đề cá cược ghi ở phần “3 đài” thì tiền cược chia đều cho từng đài cá cược.

Quá trình điều tra xác định trong ngày 10/01/2024, tang số hành vi “Tổ chức đánh bạc và đánh bạc” của các đối tượng bằng hình thức ghi lô đề, cụ thể:

1. Hoàng Thị T nhận lô đề từ Lê Thị Ngọc A như sau:

- Đài miền nam:

  • + Đài xổ số tỉnh Sóc Trăng: Số tiền con bạc đánh 6.335.000 đồng, số tiền con bạc thắng 0 đồng. Tổng số tiền dùng để đánh bạc là 6.335.000 đồng.
  • + Đài xổ số tỉnh Đồng Nai: Số tiền con bạc đánh 6.335.000 đồng, số tiền con bạc thắng 0 đồng. Tổng số tiền dùng để đánh bạc là 6.335.000 đồng.
  • + Đài xổ số thành phố Cần Thơ: Số tiền con bạc đánh 6.335.000 đồng, số tiền con bạc thắng 1.000.000 đồng. Tổng số tiền dùng để đánh bạc là 7.335.000 đồng.

Tổng tang số T đánh bạc với Anh đài miền N là: 20.005.000 đồng.

- Đài miền trung:

  • + Đài xổ số tỉnh Khánh Hòa: Số tiền con bạc đánh 12.435.000 đồng, số tiền con bạc thắng 0 đồng. Tổng số tiền dùng để đánh bạc là 12.435.000 đồng.
  • + Đài xổ số thành phố Đà Nẵng: Số tiền con bạc đánh 10.435.000 đồng, số tiền con bạc thắng 10.000.000 đồng. Tổng số tiền dùng để đánh bạc là 20.435.000 đồng.

Tổng tang số T đánh bạc với Anh đài miền T là: 32.870.000 đồng.

+ Đài xổ số miền B: Số tiền con bạc đánh 42.004.000 đồng, tại thời điểm Cơ quan Công an phát hiện bắt giữ thì chưa có kết quả mở thưởng nên tang số đánh bạc trong lần này là 42.004.000 đồng.

Tổng tang số TA chuyển nhận lô đề với nhau là: 94.879.000 đồng.

Xác định số tiền thu lợi bất chính của T khi nhận số lô đề từ Anh: Là tổng số tiền số tiền thực tế T nhận từ Anh trừ đi số tiền T phải trả cho người chơi trúng và trả tiền hoa hồng cho Anh (2%), cụ thể:

  • - Số tiền thực tế nhận: 6.335.000 đồng + 6.335.000 đồng + 6.335.000 đồng + 12.435.000 đồng + 10.435.000 đồng = 41.847.000 đồng.
  • - Số tiền trả cho người chơi trúng: 11.000.000 đồng.
  • - Số tiền hoa hồng trả cho A: (6.335.000 đồng + 6.335.000 đồng + 6.335.000 đồng + 12.435.000 đồng + 10.435.000 đồng + 42.004.000 đồng) x 2% = 1.677.580 đồng.
  • - Số tiền thu lợi bất chính của T là: 41.847.000 đồng - 11.000.000 đồng - 1.677.580 đồng = 29.197.420 đồng.

Tiền thu lợi bất chính của Anh là: 1.677.580 đồng.

2. Hoàng Thị T nhận lô đề từ Phan Thị N như sau:

- Đài miền nam:

  • + Đài xổ số tỉnh Sóc Trăng: Số tiền con bạc đánh 6.890.000 đồng, số tiền con bạc thắng 3.000.000 đồng. Tổng số tiền dùng để đánh bạc là: 9.890.000 đồng.
  • + Đài xổ số tỉnh Đồng Nai: Số tiền con bạc đánh 6.890.000 đồng, số tiền con bạc thắng 7.500.000 đồng. Tổng số tiền dùng để đánh bạc là: 14.390.000 đồng.
  • + Đài xổ số thành phố Cần Thơ: Số tiền con bạc đánh 6.890.000 đồng, số tiền con bạc thắng 4.500.000 đồng. Tổng số tiền dùng để đánh bạc là: 11.390.000 đồng.

Tổng tang số T đánh bạc với N đài miền N là: 35.670.000 đồng.

- Đài miền trung:

  • + Đài xổ số tỉnh Khánh Hòa: Số tiền con bạc đánh 11.410.000 đồng, số tiền con bạc thắng 10.000.000. Tổng số tiền dùng để đánh bạc: 21.410.000 đồng.
  • + Đài xổ số thành phố Đà Nẵng: Số tiền con bạc đánh 11.410.000 đồng, số tiền con bạc thắng 7.000.000. Tổng số tiền dùng để đánh bạc: 18.410.000 đồng.

Tổng tang số T đánh bạc với N đài miền T là: 39.820.000 đồng.

+ Đài xổ số miền B: Số tiền con bạc đánh 15.440.000 đồng, tại thời điểm Cơ quan Công an phát hiện bắt giữ thì chưa có kết quả mở thưởng nên tang số đánh bạc trong lần này là 15.440.000 đồng.

Tổng tang số T đánh bạc với N là: 90.930.000 đồng.

Xác định số tiền thu lợi bất chính của T khi nhận số lô đề từ Nhuận: Là tổng số tiền số tiền thực tế T nhận từ N trừ đi số tiền T phải trả cho người chơi trúng và trả tiền hoa hồng cho N (7%), cụ thể:

  • - Số tiền thực tế nhận: 6.890.000 đồng + 6.890.000 đồng + 6.890.000 đồng + 11.410.000 đồng + 11.410.000 đồng = 43.490.000 đồng.
  • - Số tiền trả cho người chơi trúng: 3.000.000 đồng + 7.500.000 đồng + 4.500.000 đồng + 10.000.000 đồng + 7.000.000 đồng = 32.000.000 đồng.
  • - Số tiền hoa hồng trả cho N: (6.890.000 đồng + 6.890.000 đồng + 6.890.000 đồng + 11.410.000 đồng + 11.410.000 đồng + 15.440.000 đồng) x 7% = 4.125.000 đồng.
  • - Số tiền thu lợi bất chính của T là: 43.490.000 đồng - 32.000.000 đồng - 4.125.000 đồng = 7.365.000 đồng.

Tiền thu lợi bất chính của N là: 4.125.000 đồng.

3. Hoàng Thị T nhận lô đề từ Bùi Thị Thanh H3 như sau:

- Đài miền nam:

  • + Đài xổ số tỉnh Sóc Trăng: Số tiền con bạc đánh 143.000 đồng, số tiền con bạc thắng 0 đồng. Tổng số tiền dùng để đánh bạc là: 143.000 đồng.
  • + Đài xổ số tỉnh Đồng Nai: Số tiền con bạc đánh 143.000 đồng, số tiền con bạc thắng 0 đồng. Tổng số tiền dùng để đánh bạc là: 143.000 đồng.
  • + Đài xổ số thành phố Cần Thơ: Số tiền con bạc đánh 143.000 đồng, số tiền con bạc thắng 0 đồng. Tổng số tiền dùng để đánh bạc là: 143.000 đồng.

Tổng tang số T đánh bạc với H3 đài miền N là: 429.000 đồng.

- Đài miền trung:

  • + Đài xổ số tỉnh Khánh Hòa: Số tiền con bạc đánh 979.500 đồng, số tiền con bạc thắng 0 đồng. Tổng số tiền dùng để đánh bạc là: 979.500 đồng.
  • + Đài xổ số thành phố Đà Nẵng: Số tiền con bạc đánh 1.369.500 đồng, số tiền con bạc thắng 0 đồng. Tổng số tiền dùng để đánh bạc là: 1.369.500 đồng.

Tổng tang số T đánh bạc với H3 đài miền T là: 2.349.000 đồng.

- Đài xổ số miền B: Số tiền con bạc đánh 808.000 đồng, tại thời điểm Cơ quan Công an phát hiện bắt giữ thì chưa có kết quả mở thưởng nên tang số đánh bạc trong lần này là 808.000 đồng.

Tổng tang số T đánh bạc với H3 là: 3.586.000 đồng.

Xác định số tiền thu lợi bất chính của T khi nhận sô lô đề từ H3: Là tổng số tiền thực tế T nhận từ H3 trừ đi số tiền T phải trả cho người chơi trúng và trả tiền hoa hồng cho H3 (7%), cụ thể:

  • - Số tiền thực tế nhận: 429.000 đồng + 2.349.000 đồng = 2.778.000 đồng.
  • - Số tiền trả cho người chơi trúng: 0 đồng.
  • - Số tiền hoa hồng trả cho H3: (429.000 đồng + 2.349.000 đồng + 808.000 đồng) x 7% = 251.020 đồng.
  • - Số tiền thu lợi bất chính của T là: 2.778.000 đồng - 251.020 đồng = 2.562.980 đồng.

Tiền thu lợi bất chính của H3 là: 251.020 đồng.

Như vậy, tổng tang số T đứng ra nhận lô đề của A, NH3 là: 189.395.000 đồng nhằm thu lợi bất chính với tổng số tiền: 29.197.420 đồng + 7.365.000 đồng + 2.562.980 đồng = 39.125.400 đồng.

4. Đối với Võ Thị H1: Là người trực tiếp mua các số lô, số đề từ Lê Thị Ngọc A như sau:

- Đài miền nam:

  • + Đài xổ số tỉnh Sóc Trăng: Số tiền đánh 6.005.000 đồng, số tiền thắng 0 đồng. Tổng số tiền dùng để đánh bạc là: 6.005.000 đồng.
  • + Đài xổ số tỉnh Đồng Nai: Số tiền đánh 6.005.000 đồng, số tiền thắng 0 đồng. Tổng số tiền dùng để đánh bạc là: 6.005.000 đồng.
  • + Đài xổ số thành phố Cần Thơ: Số tiền đánh 6.005.000 đồng, số tiền thắng 0 đồng. Tổng số tiền dùng để đánh bạc là: 6.005.000 đồng.

Tổng số tiền H1 đánh bạc với Anh đài miền N là: 18.015.000 đồng.

- Đài miền trung:

  • + Đài xổ số tỉnh Khánh Hòa: Số tiền đánh 12.235.000 đồng, số tiền thắng 0 đồng. Tổng số tiền dùng để đánh bạc là: 12.235.000 đồng.
  • + Đài xổ số thành phố Đà Nẵng: Số tiền đánh 10.235.000 đồng, số tiền thắng 10.000.000 đồng. Tổng số tiền dùng để đánh bạc là: 20.235.000 đồng.

Tổng số tiền H1 đánh bạc với Anh đài miền T là: 32.470.000 đồng.

- Đài xổ số miền B: Số tiền đánh 39.904.000 đồng, tại thời điểm Cơ quan Công an phát hiện bắt giữ thì chưa có kết quả mở thưởng nên tang số đánh bạc trong lần này là 39.904.000 đồng.

Tổng số tiền H1 đánh bạc với Anh là: 90.389.000 đồng.

Võ Thị H1 tự mình trực tiếp mua các số lô, số đề từ Lê Thị Ngọc A với tổng tang số là 90.389.000 đồng (trong đó số tiền H1 đánh bạc là 80.389.000 đồng, số tiền H1 thắng bạc là 10.000.000 đồng).

Vật chứng đã thu giữ gồm:

  • 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng hiệu Iphone 8 plus có vỏ bên ngoài màu trắng, số IMEI: 355324081938644, bên trong có gắn thẻ sim số 0838941915, bên ngoài có ốp nhựa màu tím đã qua sử dụng tạm giữ của Hoàng Thị T.
  • 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng hiệu Iphone 6 plus có vỏ bên ngoài màu trắng, số IMEI: 354390061254055, bên trong có gắn thẻ sim số 0965470059, bên ngoài có ốp nhựa màu đen đã qua sử dụng tạm giữ của Hoàng Thị T.
  • 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng hiệu Iphone 12 Promax có vỏ bên ngoài màu vàng, bên trong có gắn thẻ sim số 0832746146 đã qua sử dụng tạm giữ của Lê Thị Ngọc A.
  • 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng hiệu Oppo Rero7 Z 5G có vỏ bên ngoài màu xanh, số seri: 82946379, số IMEI 1: 869447054113694, số IMEI 2: 869447054113688 đã qua sử dụng tạm giữ của Võ Thị H1.
  • 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng hiệu Iphone 7 plus có vỏ bên ngoài màu đen, số IMEI: 356695082181907 đã qua sử dụng tạm giữ của Phan Thị N.
  • 01 (một) điện thoại di động N2 có vỏ bên ngoài màu đen, số IMEI: 350438131825265 đã qua sử dụng tạm giữ của Hoàng Công S.
  • 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng hiệu Iphone 7 có vỏ bên ngoài màu hồng, số IMEI: 350438131825265 đã qua sử dụng tạm giữ của Bùi Thị Thanh H3.
  • 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng hiệu Iphone 8 Plus có vỏ bên ngoài màu vàng, số IMEI: 354830095839140 đã qua sử dụng tạm giữ của Bùi Thị Thanh H3.
  • Tiền do Ngân hàng N3 phát hành: 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) tạm giữ của Bùi Thị Thanh H3.

Các vật chứng hiện đang tạm giữ tại Cơ quan thi hành án dân sự huyện P để phục vụ việc xét xử, thi hành án.

Quá trình điều tra, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội và không có ý kiến, khiếu nại gì về các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan và người tiến hành tố tụng.

Tại Bản Cáo trạng số: 20/CT-VKS ngày 08-5-2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế đã quyết định truy tố Hoàng Thị T, Lê Thị Ngọc A, Phan Thị N về tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm c khoản 1 Điều 322 và truy tố Võ Thị H1 về tội “Đánh bạc” theo điểm c khoản 2 Điều 322 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị:

  • - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, tuyên bố các bị cáo Hoàng Thị T, Lê Thị Ngọc A, Phan Thị N phạm tội “Tổ chức đánh bạc”, xử phạt bị cáo Hoàng Thị T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù, phạt bổ sung từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng; xử phạt bị cáo Lê Thị Ngọc A từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, xử phạt bị cáo Phan Thị N từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù.
  • - Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, tuyên bố bị cáo Võ Thị H1 pham tội “Đánh bạc” xử phạt bị cáo Võ Thị H1 từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015,

  • - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) là tiền sử dụng để đánh bạc.
  • - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng hiệu Iphone 6 plus có vỏ bên ngoài màu trắng, bên ngoài có ốp nhựa màu đen đã qua sử thu giữ của Hoàng Thị T; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax có vỏ bên ngoài màu vàng, đã qua sử dụng tạm giữ của Lê Thị Ngọc A; 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo Rero7 Z 5G có vỏ bên ngoài màu xanh, đã qua sử dụng thu giữ của Võ Thị H1; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7 plus có vỏ bên ngoài màu đen, đã qua sử dụng thu giữ của Phan Thị N.
  • - Trả lại 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 8 plus có vỏ bên ngoài màu trắng, bên ngoài có ốp nhựa màu tím, 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng hiệu Iphone 6 plus có vỏ bên ngoài màu trắng, bên ngoài có ốp nhựa màu đen đã qua sử thu giữ của Hoàng Thị T;
  • - Trả lại 01 (một) điện thoại di động N2 có vỏ bên ngoài màu đen, số IMEI: 350438131825265 cho ông Hoàng Công S do không sử dụng vào việc phạm tội.
  • - Trả lại 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng hiệu Iphone 7 có vỏ bên ngoài màu hồng, số IMEI: 350438131825265 đã qua sử dụng, 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng hiệu Iphone 8 Plus có vỏ bên ngoài màu vàng, số IMEI: 354830095839140 đã qua sử dụng, thu giữ của Bùi Thị Thanh H3 cho chị Bùi Thị Thanh H3, do không sử dụng vào việc phạm tội.
  • - Buộc Lê Thị Ngọc A phải nộp lại số tiền do Anh đã thu của những người đánh bạc nhưng chưa chuyển cho T là 13.036.000 đồng, để sung công vào ngân sách nhà nước.
  • - Buộc Phan Thị N phải nộp lại số tiền do N đã thu của những người đánh bạc nhưng chưa chuyển cho T là 58.930.000 đồng, để sung công vào ngân sách nhà nước.
  • - Truy thu số tiền do Võ Thị H1 dùng vào việc đánh bạc với Lê Thị Ngọc A là 70.839.000 đồng, để sung công vào ngân sách nhà nước..

Tại phiên tòa, các bị cáo đều khai nhận hành vi phạm tội; không có khiếu nại gì về các quyết định, hành vi tố tụng. Trong lời bào chữa tại phiên tòa, các bị cáo đều không có ý kiến gì về hành vi, tội danh, chỉ đề nghị xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

Nói lời sau cùng tại phiên tòa, các bị cáo đều xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về quyết định, hành vi tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Các quyết định, hành vi tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai trong quá trình điều tra, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án nên có cơ sở kết luận:

Trong ngày 10/01/2024, Hoàng Thị T, Lê Thị Ngọc A, Phan Thị N đã có hành vi tổ chức đánh bạc bằng hình thức nhận ghi số lô đề cho người đánh bạc và Võ Thị H1 có hành vi đánh bạc bằng hình thức ghi số lô đề, cụ thể:

Hoàng Thị T là người tổ chức cho người khác đánh bạc bằng hình thức nhận số lô, đề từ Lê Thị Ngọc A, Phan Thị N, Bùi Thị Thanh H3 chuyển đến với tổng số tiền là 189.395.000 đồng. Sau khi chi trả tiền trúng thưởng, tiền hoa hồng, T thu lợi bất chính số tiền là 39.125.400 đồng.

Lê Thị Ngọc A là người tổ chức cho người chơi khác đánh bạc bằng hình thức nhận số lô, đề từ những người chơi bạc, sau đó chuyển cho Hoàng Thị T để nhận 02% tiền hoa hồng. Tổng số tiền A chuyển cho T ghi đề là 94.879.000 đồng, thu lợi bất chính là 1.677.580 đồng.

Phan Thị N là người tổ chức cho người chơi khác đánh bạc bằng hình thức nhận số lô, đề từ những người chơi bạc, sau đó chuyển cho Hoàng Thị T để nhận 07% tiền hoa hồng. Tổng số tiền N chuyển cho T ghi đề là 90.930.000 đồng, thu lợi bất chính là 4.125.000 đồng.

Như vậy, hành vi tổ chức để các người chơi đánh bạc bằng hình thức ghi số lô, đề của các bị cáo Hoàng Thị T, Lê Thị Ngọc APhan Thị N phạm vào tội “Tổ chức đánh bạc” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Hành vi của bị cáo Võ Thị H1 là người trực tiếp thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức ghi số lô, đề với số tiền là 80.389.000 đồng, đã thắng bạc 10.000.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 90.389.000 đồng. Nên phạm vào tội “Đánh bạc” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, vai trò của các bị cáo:

Xét năng lực hành vi của các bị cáo, thấy rằng các bị cáo đều là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vì ham muốn thu lợi bất chính được thua bằng tiền dưới hình thức lô đề. Hành vi của các bị cáo ảnh hưởng đến tình hình quản lý trật tự xã hội tại đại phương, nên cần phải xử lý nghiêm.

Xét vai trò các bị cáo không có sự câu kết, bàn bạc, phân công trách nhiệm chặt chẽ nên mang tính chất đồng phạm giản đơn. Trong vụ án thì T là người tổ chức, kết nối với các bị cáo khác nhằm mục đích ghi số lô, đề từ người chơi rồi chuyển về cho T, nên phải chịu mức hình phạt cao hơn các bị cáo khác trong vụ án này. Bị cáo AN là người tổ chức ghi số lô, đề cho người chơi khác sau đó chuyển lại cho T, nên chịu trách nhiệm ngang nhau và thấp hơn bị cáo T. Về tội “Đánh bạc”, bị cáo H1 đánh bạc với bị cáo A, nên chịu trách nhiệm về hành vi của mình.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Về tình tiết tăng nặng: Đại diện Viện kiểm sát cho rằng các bị cáo T, A, NH1 đều phạm vào tình tiết tăng nặng định khung hình phạt “Phạm tội từ 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuy nhiên tại phiên toà cũng như lời khai giữa các bị cáo T, AN, cũng như các tin nhắn qua lại giữa các bị cáo đều thể hiện việc thanh toán số tiền thắng thua tất cả các lô đề được giao nhận một lần vào sáng hôm sau, nên Hội đồng xét xử việc không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội từ 02 lần trở lên” đối với các bị cáo. Đối với bị cáo H1 khi đánh bạc với A cũng thỏa thuận việc thanh toán số tiền thắng thua vào ngày hôm sau, ngoài ra việc xác định tình tiết định khung cho bị cáo là tổng số tiền bị cáo dùng để đánh bạc nên hành vi của bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “phạm tội từ 02 lần trở lên”.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, thực sự ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo Thanh chồng chết và đang nuôi con nhỏ là lao động chính trong gia đình; bị cáo A có mẹ là người có công với cách mạng được tặng huy chương kháng chiến hạng nhì; bị cáo N chồng chết và đang nuôi con nhỏ là lao động chính trong gia đình, có một người con bị khuyết tật bẩm sinh; bị cáo H1 đã ly hôn đang nuôi 02 người con là lao động chính, nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Các bị cáo Hoàng Thị T, Lê Thị Ngọc A, Phan Thị NVõ Thị Hà phạm tội nghiêm trọng nên cần áp dụng hình phạt tù. Tuy nhiên, lần phạm tội này là lần phạm tội lần đầu của bị cáo, các bị cáo từ trước đến nay chưa vi phạm pháp luật, vì vậy khi áp dụng hình phạt cần xem xét với mức hình phạt tương ứng cho các bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xét thấy:

  • - Trả lại 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 8 plus có vỏ bên ngoài màu trắng, bên ngoài có ốp nhựa màu tím, 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng hiệu Iphone 6 plus có vỏ bên ngoài màu trắng, bên ngoài có ốp nhựa màu đen đã qua sử thu giữ của Hoàng Thị T;
  • - Trả lại 01 (một) điện thoại di động N2 có vỏ bên ngoài màu đen, số IMEI: 350438131825265 cho ông Hoàng Công S do không sử dụng vào việc phạm tội.
  • - Trả lại 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng hiệu Iphone 7 có vỏ bên ngoài màu hồng, số IMEI: 350438131825265 đã qua sử dụng, 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng hiệu Iphone 8 Plus có vỏ bên ngoài màu vàng, số IMEI: 354830095839140 đã qua sử dụng, thu giữ của Bùi Thị Thanh H3 cho chị Bùi Thị Thanh H3, do không sử dụng vào việc phạm tội.
  • - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng hiệu Iphone 6 plus có vỏ bên ngoài màu trắng, bên ngoài có ốp nhựa màu đen đã qua sử thu giữ của Hoàng Thị T; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax có vỏ bên ngoài màu vàng, đã qua sử dụng tạm giữ của Lê Thị Ngọc A; 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo Rero7 Z 5G có vỏ bên ngoài màu xanh, đã qua sử dụng thu giữ của Võ Thị H1; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7 plus có vỏ bên ngoài màu đen, đã qua sử dụng thu giữ của Phan Thị N.
  • - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) là tiền sử dụng để đánh bạc.
  • - Buộc Lê Thị Ngọc A phải nộp lại số tiền do Anh đã thu của những người đánh bạc nhưng chưa chuyển cho T cụ thể: (Đài miền N 19.005.000 đồng + miền T 22.870.000 đồng + miền Bắc 42.000.000 đồng) = 83.875.000 đồng – số tiền H1 chưa chuyển cho Anh 70.839.000 đồng = 13.036.000 đồng, do vậy Anh phải nộp lại số tiền 13.036.000 đồng để sung công vào ngân sách nhà nước.
  • - Buộc Phan Thị N phải nộp lại số tiền do N đã thu của những người đánh bạc nhưng chưa chuyển cho T cụ thể (Đài miền N 20.670.000 đồng + miền T 22.820.000 đồng + miền Bắc 15.440.000 đồng) = 58.930.000 đồng, do vậy N phải nộp lại số tiền 58.930.000 đồng để sung công vào ngân sách nhà nước.
  • - Truy thu số tiền do Võ Thị H1 dùng vào việc đánh bạc với Lê Thị Ngọc A là 70.839.000 đồng, để sung công vào ngân sách nhà nước..

[6] Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Các bị cáo Hoàng Thị T, Lê Thị Ngọc APhạm Thị N1 phạm tội “Tổ chức đánh bạc”. Bị cáo Võ Thị H1 phạm tội “Đánh bạc”.

  • - Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với Hoàng Thị T.
  • Xử phạt bị cáo Hoàng Thị T 02 (hai) năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/01/2024 đến ngày 20/01/2024.
  • Phạt bổ sung số tiền 20.000.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.
  • - Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với Lê Thị Ngọc APhan Thị N.
  • Xử phạt bị cáo Lê Thị Ngọc A 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/01/2024 đến ngày 02/02/2024.
  • Xử phạt bị cáo Phan Thị N 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
  • - Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với Võ Thị H1.
  • Xử phạt bị cáo Võ Thị H1 03 (ba) năm tù về tội “Đánh bạc”. Thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
  • - Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015,
  1. - Trả lại 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 8 plus có vỏ bên ngoài màu trắng, bên ngoài có ốp nhựa màu tím, 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng hiệu Iphone 6 plus có vỏ bên ngoài màu trắng, bên ngoài có ốp nhựa màu đen đã qua sử thu giữ của Hoàng Thị T;
  2. - Trả lại 01 (một) điện thoại di động N2 có vỏ bên ngoài màu đen, số IMEI: 350438131825265 cho ông Hoàng Công S do không sử dụng vào việc phạm tội.
  3. - Trả lại 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng hiệu Iphone 7 có vỏ bên ngoài màu hồng, số IMEI: 350438131825265 đã qua sử dụng, 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng hiệu Iphone 8 Plus có vỏ bên ngoài màu vàng, số IMEI: 354830095839140 đã qua sử dụng, thu giữ của Bùi Thị Thanh H3 cho chị Bùi Thị Thanh H3, do không sử dụng vào việc phạm tội.
  4. - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng hiệu Iphone 6 plus có vỏ bên ngoài màu trắng, bên ngoài có ốp nhựa màu đen đã qua sử thu giữ của Hoàng Thị T; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax có vỏ bên ngoài màu vàng, đã qua sử dụng tạm giữ của Lê Thị Ngọc A; 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo Rero7 Z 5G có vỏ bên ngoài màu xanh, đã qua sử dụng thu giữ của Võ Thị H1; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7 plus có vỏ bên ngoài màu đen, đã qua sử dụng thu giữ của Phan Thị N.
  5. (Các vật chứng được Cơ quan điều tra Công an huyện P chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 20/5/2024)
  6. - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) là tiền sử dụng để đánh bạc, theo ủy nhiệm chi lập ngày 17/5/2024 thuộc tài khoản số 3949.0.1054083.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
  7. - Buộc Lê Thị Ngọc A phải nộp lại số tiền do Anh đã thu của những người đánh bạc nhưng chưa chuyển cho T là 13.036.000 đồng, để sung công vào ngân sách nhà nước.
  8. - Buộc Phan Thị N phải nộp lại số tiền do N đã thu của những người đánh bạc nhưng chưa chuyển cho T là 58.930.000 đồng, để sung công vào ngân sách nhà nước.
  9. - Truy thu số tiền do Võ Thị H1 dùng vào việc đánh bạc với Lê Thị Ngọc A là 70.839.000 đồng, để sung công vào ngân sách nhà nước..
  10. - Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án,
  11. Các bị cáo Hoàng Thị T, Lê Thị Ngọc A, Phan Thị NVõ Thị H1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  12. 5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂNTHẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Đạt

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh TT Huế;
  • - VKSND tỉnh TT Huế;
  • - Sở Tư pháp tỉnh TT Huế;
  • - VKSND huyện Phong Điền;
  • - Công an huyện Phong Điền;
  • - CCTHADS huyện Phong Điền;
  • - Các bị cáo; NCQLNVLQ;
  • - Lưu: HSVA, THAHS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2024/HS-ST ngày 20/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về hình sự (tổ chức đánh bạc và đánh bạc)

  • Số bản án: 23/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng H C Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger