Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TIỂU CẦN

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2024/HS-ST

Ngày 20-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỂU CẦN, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thạch Thị Thu Hiền

Các Hội thẩm nhân dân

  1. Ông Nguyễn Hồng Quân
  2. Bà Nguyễn Thị Tuyết Lệ

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thanh Quyên - Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiểu Cần tham gia phiên tòa: Ông

Nguyễn Hoài Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân huyện

Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh và điểm cầu thành phần Tòa án nhân dân huyện Càng Long

xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 25/2024/TLST-

HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:

26/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2014 đối với bị cáo:

Lý Hoàng T, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1987 tại huyện C, tỉnh Trà Vinh. Nơi

cư trú: ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh; Chỗ ở hiện nay: ấp A, xã T, huyện C, tỉnh

Trà Vinh; nghề nghiệp: chăn nuôi; trình độ văn hóa 06/12; dân tộc kinh; giới tính

nam; tôn giáo: không; quốc tịch Việt Nam; con ông Lý Văn Đ, sinh năm 1942 và bà

Lê Thị S, sinh năm 1949; có vợ và 01 con; tiền án có 01 tiền án (vào ngày

09/01/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Càng Long xử phạt 06 tháng tù về tội danh bạc

chưa được xóa án tích nhưng tiếp tục vi phạm nên hành vi của bị cáo Lý Hoàng T đã

đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật

hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh đã

truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Hành vi phạm tội của bị

cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh

hưởng xấu đến nếp sống văn hóa tại địa phương và là nguyên nhân phát sinh nhiều tệ

nạn xã hội khác nên cần áp dụng hình phạt phù hợp với hành vi của bị cáo. Tuy

nhiên, khi quyết định hình phạt đối với bị cáo Hội đồng xét xử có xem xét các tình

tiết đối với bị cáo:

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Thạch Banh N, sinh năm 1976; Địa chỉ: ấp O, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt không có lý do)
  2. Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1980; Địa chỉ: ấp C, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
  3. Nguyễn Văn N1, sinh năm 1982; Địa chỉ: ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt)
  4. Nguyễn Hồng Q, sinh năm 1987; Địa chỉ: ấp L, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt không có lý do)
  5. Lâm Văn L, sinh năm 1981; Địa chỉ: ấp K, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt không có lý do)
  6. Trần Văn T1, sinh năm 1979; Địa chỉ: ấp N, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
  7. Nguyễn Văn N2, sinh năm 1966; Địa chỉ: ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt không có lý do)
  8. Nguyễn Văn L1, sinh năm 1978; Địa chỉ: ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt không có lý do)
  9. Đỗ Văn L2, sinh năm 1966; Địa chỉ: ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt)
  10. Thạch T2, sinh năm 1980; Địa chỉ: ấp N, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt không có lý do)

- Người làm chứng: Anh Lê Hoài B, sinh năm 1984; Địa chỉ: ấp L, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ

án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 08 giờ ngày 21/12/2023, bị cáo Lý Hoàng T điều khiển xe mô tô,

kiểu Wave, màu đỏ, biển kiểm soát 84L1 – 411.45 chở ông Nguyễn Văn N2 đi để đi

mua bán bò. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, khi đi đến chợ L3, thuộc ấp K, xã H,

huyện T, tỉnh Trà Vinh thì xe mô tô biển kiểm soát 84L1 – 411.45 bị hư nên bị cáo T

để lại ở tiệm sửa xe (không biết tên ở gần chợ L3) để sửa và cùng với ông N2 đi bộ

đến trang trại bò của ông Thạch Banh N tại ấp O, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh, để

ông N2 xem, mua bán bò. Khi đến trại bò ông N, lúc này khoảng 13 giờ cùng ngày

thì bị cáo T nhìn thấy có nhiều người tập trung xem đá gà qua mạng được thua bằng

tiền, lúc này bị cáo T nhìn thấy anh Thạch T2, sinh năm 1980, nơi cư trú: ấp N, xã S,

huyện C, tỉnh Trà Vinh cũng có đang xem đá gà qua mạng nên bị cáo T2 với anh

Thạch T2 cũng đã cược với nhau, lúc đó đến lượt trận chọi gà qua mạng thứ 18, chuẩn bị

thả gà đá giữa hai con gà quấn băng keo màu đỏ (gà đỏ) với con gà quấn băng keo

màu xanh (gà xanh) nên anh Thạch T2 nói với bị cáo T2: “tôi bắt con gà xanh một

xị”, bị cáo T2 hiểu ý của anh Thạch T2 là rủ bị cáo T2 cá cược đá gà mà anh Thạch

T2 chọn con gà màu xanh, với số tiền 100.000 đồng, bị cáo T2 đồng ý cá cược nên

trả lời: “em bên con gà đỏ một xị”, theo ý của bị cáo T2 chọn con gà quấn băng keo

màu đỏ (gà đỏ), cá cược số tiền 100.000 đồng, nhưng bị cáo T2 và anh Thạch T2

chưa đưa tiền cá cược liền mà sau khi có kết quả thắng thua thì sẽ giao nhận tiền cá

cược với nhau. Lúc này, bị cáo T2 nhìn thấy anh Lâm Văn L, đang sử dụng điện thoại

di hiệu Iphone 14, màu đen, màn hình cảm ứng, đã cũ của anh L đang mở trực tiếp đá

gà qua mạng nên bị cáo T2 xem đá gà qua mạng ké với anh L. Kết quả con gà màu

đỏ của bị cáo T2 đá thắng con gà xanh của anh Thạch T2 nên bị cáo T2 thắng cược

và anh Thạch T2 đã đưa cho bị cáo T2 số tiền 100.000 đồng đã cá cược. Khi cá cược

với anh Thạch T2 xong thì bị cáo T2 không còn tham gia cá cược với ai khác mà xem

mọi người tiếp tục cá cược đá gà qua mạng với nhau. Sau đó, lực lượng Công an

huyện T đến kiểm tra, lập biên bản. Do đó, tổng số tiền cá cược của bị cáo T2 với anh

Thạch T2 trong trận chọi gà qua mạng số 18 này là 200.000 đồng.

Ngoài ra, trong qua quá trình điều tra xác định: Tại trang trại mua bán bò của

ông Thạch Banh N còn có các đối tượng gồm: Thạch Banh Nuyễn Văn Đ1, Nguyễn

Văn N1, Nguyễn Hồng Q, Lâm Văn L, Trần Văn T1, Nguyễn Văn N2, Nguyễn Văn

L1, Đỗ Văn L2, tự thỏa thuận cá cược đá gà qua mạng Internet (trang Web xem trực

tiếp đá gà thomo) được thua bằng tiền. Hình thức cá cược là các đối tượng trên sử

dụng điện thoại di động của cá nhân từng người mở trận chọi gà đang phát trực tiếp

đá gà thomo giữa hai con gà với nhau gồm: một con gà chân quấn băng keo đỏ (gà

đỏ) với một con gà chân quấn băng keo xanh (gà xanh), rồi các đối tượng tự ý cá

cược trực tiếp với nhau, không ai đứng ra tổ chức, làm trọng tài và đã cá cược được,

thua bằng tiền ở từng trận chọi gà được tính theo thứ tự phát trực tiếp trên trang đá gà

thomo gồm các trận chọi gà số 9, 10, 11, 12, 15, 16, 17,18, 19, cụ thể như sau:

  • - Tại trận gà thứ 9: Nguyễn Văn Đ1 chọn con gà xanh trực tiếp cá cược với Đỗ Văn L2 chọn con gà màu đỏ với số tiền 100.000 đồng. Kết quả gà xanh thắng cược, gà đỏ thua cược, nên L2 đã đưa đủ tiền cược 100.000 đồng cho Đ1. Do đó, tổng số tiền cá cược của ông Đ1 và ông L2 trong trận chọi gà thứ 9 là: 200.000 đồng.
  • - Tại trận gà thứ 10: Nguyễn Văn Đ1 chọn con gà màu đỏ trực tiếp cá cược với Nguyễn Hồng Q chọn con gà màu xanh với số tiền 200.000 đồng. Kết quả gà đỏ thắng cược, gà xanh thua cược, nên Q đã đưa đủ số tiền cược 200.000 đồng cho Đ1. Do đó, tổng số tiền cá cược của Đ1 với ông Q trong trận chọi gà thứ 10 là: 400.000 đồng.
  • - Tại trận gà thứ 11: Nguyễn Văn Đ1 chọn con gà xanh trực tiếp cá cược với Nguyễn Hồng Q chọn con gà màu đỏ với số tiền 300.000 đồng. Kết quả gà đỏ thắng cược, gà xanh thua cược nên Đ1 đã đưa đủ tiền cược 300.000 đồng cho Q. Do đó, tổng số tiền cá cược của Đ1 với Q trong trận chọi gà thứ 11 là: 600.00 đồng.
  • - Tại trận gà thứ 12: Nguyễn Văn Đ1 chọn con gà màu xanh trực tiếp cá cược với Nguyễn Hồng Q chọn con gà màu đỏ với số tiền 500.000 đồng. Kết quả gà xanh thắng cược, gà đỏ thua cược nên Q đưa đủ số tiền 500.000 đồng cho Đ1. Do đó, tổng số tiền cá cược của ông Đ1 với ông Q trong trận chọi gà thứ 12 là: 1.000.000 đồng.
  • - Tại trận gà thứ 15: Nguyễn Văn Đ1 hùn tiền với Lâm Văn L mỗi người 500.000 đồng chọn con gà đỏ trực tiếp cá cược với Nguyễn Văn L1 chọn con gà màu xanh với số tiền 1.000.000 đồng. Kết quả gà đỏ thắng cược, gà xanh thua cược, nên L1 đã đưa đủ số tiền 1.000.000 đồng cho L và Đ1, rồi Đ1 và L mỗi người được 500.000 đồng. Do đó, tổng số tiền cá cược của ông Đ1, ông L với ông L1 trong trận chọi gà thứ 15 là: 2.000.000 đồng.
  • - Tại trận gà thứ 16: Nguyễn Văn Đ1 hùn tiền với Lâm Văn L mỗi người 500.000 đồng chọn con gà xanh để trực tiếp cá cược với Nguyễn Văn L1 chọn con gà đỏ với số tiền 1.000.000 đồng. Kết quả gà xanh thắng cược, gà đỏ thua cược, nên L1 đã đưa đủ số tiền 1.000.000 đồng cho L và Đ1. Do đó, tổng số tiền cá cược của ông Đ1, ông L với ông L1 trong trận chọi gà thứ 16 là: 2.000.000 đồng.
  • - Nguyễn Văn L1 chọn con gà đỏ trực tiếp cá cược với Trần Văn T1 chọn con gà xanh với số tiền 100.000 đồng. Kết quả gà xanh thắng cược, gà đỏ thua cược nên L1 đã đưa đủ số tiền 100.000 đồng cho T1. Do đó, tổng số tiền cá cược của ông L1 với ông T1 trong trận chọi gà thứ 16 là 200.000 đồng.
  • - Tại trận gà thứ 17:
  • + Nguyễn Văn Đ1 hùn tiền với Lâm Văn L mỗi người 500.000 đồng chọn con gà đỏ để trực tiếp cá cược với Nguyễn Văn L1 chọn con gà xanh với số tiền 1.000.000 đồng. Kết quả gà đỏ thắng cược, gà xanh thua cược nên L1 đưa tiền 1.000.000 đồng cho Đ1, rồi Đ1 và L mỗi người được 500.000 đồng. Do đó, tổng số tiền cá cược của ông Đ1, ông L với ông L1 trong trận chọi gà thứ 17 là: 2.000.000 đồng.
  • + Nguyễn Văn L1 chọn con gà xanh cá cược trực tiếp với Trần Văn T1 chọn con gà đỏ với số tiền 200.000 đồng. Kết quả gà đỏ thắng cược, gà xanh thua cược nên L1 đã đưa đủ số tiền 200.000 đồng cho T1. Do đó, tổng số tiền cá cược của ông L1 với ông T1 trong trận chọi gà thứ 17 là 400.000 đồng.
  • - Tại trận gà thứ 18: đã có :
  • + Thạch Banh N dùng số tiền 300.000 đồng để cùng với Nguyễn Văn N2 dùng số tiền 200.000 đồng chọn con gà đỏ trực tiếp cá cược với Nguyễn Văn Đ1 chọn con gà xanh với số tiền 500.000 đồng. Kết quả gà đỏ thắng cược, gà xanh thua cược nhưng Đ1 chưa đưa 500.000 đồng cho N và N2. Do đó, tổng số tiền cá cược của ông N, ông N2 với ông Đ1 trong trận chọi gà thứ 18 là 1.000.000 đồng.
  • - Tại trận gà thứ 19: Thạch Thanh chọn con gà đỏ trực tiếp cá cược với Nguyễn Văn N1 chọn con gà xanh với số tiền 100.000 đồng, chuẩn bị thả gà nên chưa có kết quả thắng, thua với nhau thì có lực lượng Công an đến kiểm tra lập biên bản.

Riêng Lê Hoài B không có tham gia cá cược đánh bạc.

Với số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng, không đủ định lượng để truy cứu

trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Lý Hoàng T về tội Đánh bạc. Tuy nhiên, Vào ngày

09/01/2023, bị cáo Lý Hoàng T bị Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh

tuyên phạt tù 06 (sáu) tháng tù và phạt bổ sung số tiền 10.000.000 đồng về tội Đánh

bạc. Đến ngày 10/02/2023, chấp hành xong án phạt tù về địa phương. Đến ngày

28/02/2024, chấp hành xong hình phạt bổ sung, án phí tại Chi cục thi hành án dân sự

huyện Càng Long và chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. Do đó, hành vi đánh

bạc của bị cáo T đã đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc, quy định tại khoản 1 Điều 321

Bộ luật Hình sự.

Đối với các đối tượng còn lại gồm: Thạch Banh N, Nguyễn Văn Đ1, Nguyễn

Văn L1, Trần Văn T1, Thạch T2, Nguyễn Hồng Q, Lâm Văn L, Nguyễn Văn N2, Đỗ

Văn L2 và Nguyễn Văn N1 đã thực hiện hành vi đánh bạc trái phép nhưng số tiền

đánh bạc chưa đủ định lượng nên công an huyện T đã ra quyết định xử phạt hành

chính và tịch thu số tiền mà các đối tượng dùng để đánh bạc. Đối với Lê Hoài B

không tham gia cá cược đá gà qua mạng nên không xem xét xử lý.

Vật chứng, đồ vật, tài liệu thu giữ gồm có:

  1. Lý Hoàng T: 01 (một) điện thoại di động hiệu N3, bàn phím số màu xanh đã qua sử dụng, số IMEI1:350664638108331, số IMEI2:350664639103836 và Tiền Việt Nam 750.000 đồng
  2. Trần Văn T1: Tiền Việt Nam 31.600.000 đồng và 01 (một) điện thoại di động hiệu S1, màu xanh đen, màn hình cảm ứng đã qua sử dụng
  3. Nguyễn Văn Đ1: Tiền Việt Nam 10.300.000 đồng và 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A78, màu xanh nhạt, màn hình cảm ứng đã qua sử dụng
  4. Thạch Thanh: 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh nhạt màn hình cảm ứng đã qua sử dụng và tiền Việt Nam: 1.900.000 đồng.
  5. Nguyễn Văn N1: 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo màu đen, màn hình cảm ứng và tiền Việt Nam: 7.000.000 đồng.
  6. Nguyễn Hồng Q: Tiền Việt Nam: 17.900.000 đồng và 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A05S, màu đen, màn hình cảm ứng đã qua sử dụng.
  7. Lâm Văn L: Tiền Việt Nam: 8.450.000 đồng và 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 màu đen, màn hình cảm ứng đã qua sử dụng
  8. Nguyễn Văn N2: 01 (một) điện thoại di động hiệu N3, bàn phím số, màu đen đã qua sử dụng và tiền Việt Nam: 3.850.000 đồng.
  9. Nguyễn Văn L1: Tiền Việt Nam: 7.400.000 đồng và 01 (một) điện thoại di động hiệu S1 A14 5G, màu đen, màn hình cảm ứng đã qua sử dụng
  10. Thạch Banh N: Tiền Việt Nam: 8.500.000 đồng và 01 (một) điện thoại di động hiệu S1 A05S, màu đen, màn hình cảm ứng đã qua sử dụng.
  11. Lê Hoài B: 01 (một) điện thoại di động hiệu POCO màu đen, màn hình cảm ứng đã qua sử dụng và tiền Việt Nam 3.900.000 đồng là tài sản riêng của cá nhân do chở thuê bò mà có, không dùng vào việc đánh bạc.

Tại bản cáo trạng số 18/CT-VKS-HS ngày 09 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm

sát nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh đã truy tố bị cáo Lý Hoàng T về tội

“Đánh bạc” theo khoản 1 điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận bản cáo trạng, xác định hành vi phạm tội của bị

cáo là đúng, bị cáo không bổ sung thêm nội dung bản cáo trạng.

Vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiểu Cần vẫn giữ nguyên quan

điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề

nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lý Hoàng T phạm tội: “ Đánh bạc”, sau khi

phân tích các chứng cứ buộc tội, tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo và các

tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị

Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm s khoản 1,2 Điều 51; 50 và

Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng tù phạt bổ

sung từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng nộp vào ngân sách nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công

an huyện T đã ra Quyết định xử lý vật chứng: Trao trả cho ông Trần Văn T1 gồm: 01

(một) điện thoại di động hiệu S1, màu xanh đen, màn hình cảm ứng đã qua sử dụng

và tiền Việt Nam 31.000.000 đồng; Trao trả cho ông Nguyễn Văn Đ1 số tiền

7.700.000 đồng; Trao trả cho ông Thạch T2 gồm: 01 (một) điện thoại di động hiệu

Samsung màu xanh nhạt màn hình cảm ứng đã qua sử dụng và Tiền Việt Nam

1.800.000 đồng;Trao trả cho ông Nguyễn Văn N1 gồm: 01 (một) điện thoại di động

hiệu Vivo màu đen, màn hình cảm ứng đã qua sử dụng và Tiền Việt Nam 7.000.000

đồng; Trao trả cho ông Lê Hoài B gồm: 01 (một) điện thoại di động hiệu POCO màu

đen, màn hình cảm ứng đã qua sử dụng và Tiền Việt Nam 3.900.000 đồng; Trao trả

cho ông Nguyễn Hồng Q số tiền 17.700.000 đồng; Trao trả cho ông Lâm Văn L số

tiền 6.450.000 đồng; Trao trả cho ông Nguyễn Văn N2 01 (một) điện thoại di động

hiệu N3, bàn phím số, màu đen đã qua sử dụng và Tiền Việt Nam 3.650.000 đồng;

Trao trả cho ông Nguyễn Văn L1 số tiền 7.400.000 đồng và trả cho ông Thạch Banh

N số tiền 8.200.000 đồng đúng theo quy định của pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét

xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch

thu sung vào Ngân sách đối với số tiền 200.000 đồng của bị cáo Lý Hoàng T dùng

vào việc đánh bạc. Tiếp tục tạm giữ một điện thoại No KIA, bàn phím số màu xanh đã

qua sử dụng số IMEI1; 350664638108331, số IMEI 2: 350664639103836 và số tiền

550.000 đồng bị cáo Lý Hoàng T để đảm bảo thi hành án.

Về án phí sơ thẩm: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng

hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016

của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Lý Hoàng T phải nộp án phí theo quy

định của pháp luật.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: bị cáo không có ý kiến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm

tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy

đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố

tụng khác, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

  1. Về thủ tục tố tụng: Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng đều vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên quá trình điều tra đều có lời khai rõ ràng nên căn cứ vào Điều 292 và 293 Bộ luật Tố tụng hình sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng.
  2. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thẩm tra các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, thấy rằng các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, đều đúng quy định của pháp luật, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại hoặc có ý kiến nào khác phản đối các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nên các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
  3. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai và lời nhận tội của bị cáo phù hợp với những tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận ngày 21/12/2023 bị cáo T đã thực hiện hành vi đánh bạc trái phép với hình thức đá gà qua mạng, với số tiền đánh bạc bằng 200.000 đồng chưa đủ định lượng để truy tố bị cáo Lý Hoàng T về tội đánh bạc. Tuy nhiên vào ngày 09/01/2023 bị cáo T bị Tòa án nhân dân huyện Càng Long xử phạt 06 tháng tù và phạt bổ sung 10.000.000 đồng chưa được xóa án tích nhưng tiếp tục vi phạm nên hành vi của bị cáo Lý Hoàng T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến nếp sống văn hóa tại địa phương và là nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn xã hội khác nên cần áp dụng hình phạt phù hợp với hành vi của bị cáo. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt đối với bị cáo Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết đối với bị cáo:
  4. Về tình tiết tăng nặng: Không có.
  5. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Lý Hoàng T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có cậu ruột tên Lê Văn Đ2 là liệt sĩ. Do đó cần áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
  6. Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự xử phạt các bị cáo Lý Hoàng T 10.000.000 đồng về tội đánh bạc để thu vào ngân sách nhà nước.
  7. Đối với hành vi đánh bạc của Thạch Banh N, Nguyễn Văn Đ1, Nguyễn Văn L1, Trần Văn T1, Thạch T2, Nguyễn Hồng Q, Lâm Văn L, Nguyễn Văn N2, Đỗ Văn L2 và Nguyễn Văn N1 chưa đủ yếu tố cấu thành tội đánh bạc nên Công an huyện T đã ra quyết định xử phạt hành chính đúng theo quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét để giải quyết. Cụ thể:
    • Đối với Thạch banh N tổng số tiền xử phạt là 9.000.000 đồng và tịch thu số tiền 300.000 đồng dùng để đánh bạc và 01 (một) điện thoại di động hiệu S1 A05S, màu đen, màn hình cảm ứng đã qua sử dụng mà N dùng để đánh bạc.
    • Đối với Nguyễn Văn Đ1 tổng số tiền xử phạt là 12.000.000 đồng và tịch thu số tiền 2.600.000 đồng dùng để đánh bạc và 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A78, màu xanh nhạt, màn hình cảm ứng đã qua sử dụng mà Đ1 dùng để đánh bạc.
    • Đối với Nguyễn Văn L1 tổng số tiền xử phạt là 4.500.000 đồng và tịch thu 01 (một) điện thoại di động hiệu S1 A14 5G, màu đen, màn hình cảm ứng đã qua sử dụng mà L1 dùng để đánh bạc.
    • Đối với Trần Văn T1 tổng số tiền xử phạt là 3.000.000 đồng và tịch thu số tiền 600.000 đồng dùng để đánh bạc.
    • Đối với Thạch T2 tổng số tiền xử phạt là 1.500.000 đồng và tịch thu số tiền 100.000 dùng để đánh bạc.
    • Đối với Nguyễn Hồng Q tổng số tiền xử phạt là 4.500.000 đồng và tịch thu số tiền 200.000 đồng dùng để đánh bạc và 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A05S, màu đen, màn hình cảm ứng đã qua sử dụng mà Q dùng để đánh bạc.
    • Đối với Lâm Văn L tổng số tiền xử phạt 4.500.000 đồng và tịch thu số tiền 2.000.000 đồng dùng để đánh bạc và 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 14, màu đen, màn hình cảm ứng đã qua sử dụng mà L dùng để đánh bạc.
    • Đối với Nguyễn Văn N2 tổng số tiền xử phạt 1.500.000 đồng và tịch thu số tiền 200.000 đồng dùng để đánh bạc.
    • Đối với Đỗ Văn L2 tổng số tiền xử phạt là 1.500.000 đồng.
  8. Đối với Nguyễn Văn N1 có tham gia cá cược đá gà qua mạng nhưng chưa thả gà, chưa có kết quả thắng thua nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét xử lý.
  9. Đối với Lê Hoài B có mặt tại vị trí đánh bạc nhưng không có tham gia đánh bạc nên không đặt ra xem xét để giải quyết.
  10. Về vật chứng, đồ vật, tài liệu của vụ án: Như vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị là có cơ sở phù hợp với qui định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
  11. Về án án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố các bị cáo Lý Hoàng T phạm tội “Đánh bạc”.

- Về trách nhiệm hình sự:

Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều

50 và Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lý Hoàng T 06 (sáu) tháng tù thời gian

tù được tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án.

Phạt bổ sung 10.000.000 (mười triệu) đồng để sung vào Ngân sách nhà nước

- Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công

an huyện T đã ra Quyết định xử lý vật chứng: Trao trả cho ông Trần Văn T1 gồm: 01

(một) điện thoại di động hiệu S1, màu xanh đen, màn hình cảm ứng đã qua sử dụng

và tiền Việt Nam 31.000.000 đồng; Trao trả cho ông Nguyễn Văn Đ1 số tiền

7.700.000 đồng; Trao trả cho ông Thạch T2 gồm: 01 (một) điện thoại di động hiệu

Samsung màu xanh nhạt màn hình cảm ứng đã qua sử dụng và Tiền Việt Nam

1.800.000 đồng;Trao trả cho ông Nguyễn Văn N1 gồm: 01 (một) điện thoại di động

hiệu Vivo màu đen, màn hình cảm ứng đã qua sử dụng và Tiền Việt Nam 7.000.000

đồng; Trao trả cho ông Lê Hoài B gồm: 01 (một) điện thoại di động hiệu POCO màu

đen, màn hình cảm ứng đã qua sử dụng và Tiền Việt Nam 3.900.000 đồng; Trao trả

cho ông Nguyễn Hồng Q số tiền 17.700.000 đồng; Trao trả cho ông Lâm Văn L số

tiền 6.450.000 đồng; Trao trả cho ông Nguyễn Văn N2 01 (một) điện thoại di động

hiệu N3, bàn phím số, màu đen đã qua sử dụng và Tiền Việt Nam 3.650.000 đồng;

Trao trả cho ông Nguyễn Văn L1 số tiền 7.400.000 đồng và trả cho ông Thạch Banh

N số tiền 8.200.000 đồng đúng theo quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử

không đặt ra xem xét giải quyết.

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự : Tịch

thu vào ngân sách nhà nước đối với số tiền 200.000 đồng mà các bị cáo T2 sử dụng

vào việc đánh bạc. Tiếp tục tạm giữ một điện thoại No KIA, bàn phím số màu xanh

đã qua sử dụng số IMEI1; 350664638108331, số IMEI 2: 350664639103836 và số

tiền 550.000 đồng tại số tài khoản 39490910179700000 tại kho bạc Nhà nước huyện

T để đảm bảo thi hành án.

- Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sựĐiều 23 Nghị quyết

số 326/2016/UBTVQH14của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu,

miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Buộc các bị cáo Lý Hoàng T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án

này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày

nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại nơi cư trú để xin Tòa án

cấp trên xét xử theo trình tự thủ tục phúc thẩm

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

Thi hành án dân sựthì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự

có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án

hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi

hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật

thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Trà Vinh;
  • - Sở tư pháp tỉnh Trà Vinh;
  • - VKSND huyện Tiểu Cần;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Tiểu Cần;
  • - Chi cục THADS huyện Tiểu Cần;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện Tiểu Cần;
  • - UBND xã Tân Bình, huyện Càng Long;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Thạch Thị Thu Hiền

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Nguyễn Thị Tuyết Lệ - Nguyễn Hồng Quân

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Thạch Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2024/HS-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỂU CẦN, TỈNH TRÀ VINH về hình sự về tội "đánh bạc"

  • Số bản án: 23/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội "Đánh bạc"
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỂU CẦN, TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án Đánh bac đối với bị cáo Lý Hoàng Th
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger