Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ TÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2024/HS-ST

Ngày 20-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thế Văn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Thanh Nhàn

Bà Nguyễn Thị Kim Chi

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Vỉnh - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 16/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Minh H, sinh ngày 11/11/1989 nơi sinh tại thành phố H, tỉnh Đồng Tháp; nơi cư trú: Khóm S, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: Lớp 5/12; nghề nghiệp: không; con ông Nguyễn Thanh S, sinh năm 1970 và bà Lê Thị B, sinh năm 1971; anh, chị, em ruột có 03 người, bị cáo là người lớn nhất. Tiền án: không. Tiền sự: Ngày 31/3/2021, bị Toà án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 18 tháng, chấp hành xong ngày 12/7/2022. Bị cáo H bị tạm giam từ ngày 23/3/2024 đến nay, tại Nhà Tạm giữ - Công an huyện P, tỉnh An Giang, có mặt.

- Bị hại: Ông Đinh Văn T, sinh năm 1990 nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện P, An Giang, vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Nguyễn Thái S1, sinh năm 1998 nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện P, An Giang, có mặt;

2. Chị Giáp Thúy A, sinh năm 2001 nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện P, An Giang, có mặt;

3. Anh Đỗ Hữu H1, sinh năm 1998 nơi cư trú: Khóm P, thị trấn C, huyện P, An Giang, vắng mặt.

- Người làm chứng:

1. Ông Trần Thanh T1, vắng mặt;

2. Bà Trần Kim S2, vắng mặt;

3. Bà Nguyễn Thị Cẩm H2, vắng mặt;

4. Ông Phan Văn V, vắng mặt;

5. Bà Lê Thị B, vắng mặt;

6. Anh Nguyễn Minh M, vắng mặt;

7. Ông Phan Kim L, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 06/7/2023, Đinh Văn T, sinh năm 1990, cư trú ấp P, xã P, huyện P mượn xe mô tô biển số 67K1-995.20, nhãn hiệu Honda, loại xe wave màu sơn đỏ - đen - bạc của Nguyễn Thái S1, sinh năm 1998, cư trú ấp Phú Cường B, xã P, huyện P (bạn của T), rồi điều khiển xe mô tô chở Nguyễn Minh H, sinh ngày 11/11/1989, cư trú khóm S, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp (bạn của T) đến thị xã T, tỉnh An Giang để H rút tiền tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (M1) nhưng không được do H không có Căn cước công dân nên T điều khiển xe mô tô chở H về nhà T. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, H hỏi T mượn xe mô tô biển số 67K1-995.20 để đi tìm xe honda đò (xe ôm) chở H đến thành phố S, tỉnh Đồng Tháp lấy Căn cước công dân (do H bỏ quên ở nhà trọ trước đó). T tưởng thật nên đồng ý giao xe cho H. Sau khi nhận được xe mô tô biển số 67K1-995.20, H nảy sinh ý định chiếm đoạt xe này và đem bán lấy tiền tiêu xài. H điều khiển xe mô tô trên đến Cửa hàng mua bán xe mô tô, xe máy “Hữu Ý” thuộc khóm P, thị trấn C, huyện P, cầm cho Đỗ Hữu H1 (chủ cửa hàng) được 5.000.000 đồng. Sau đó, H đi xe honda đò của người đàn ông lạ (không rõ họ, tên, địa chỉ) đến khách sạn “Cánh đồng hoa hồng” tại thành phố S, tỉnh Đồng Tháp (nơi H ở trọ trước đó) lấy giấy Căn cước công dân rồi bỏ trốn đến thành phố C, tỉnh Đồng Tháp tiêu xài cá nhân hết. T không thấy H đem xe trả nên ngày 04/12/2023 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện P trình báo sự việc. Đến ngày 23/3/2024, H ra đầu thú.

* Kết luận Định giá tài sản số 44/KL-HĐĐG.TTHS ngày 07/8/2023 của Hội đồng Định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P, kết luận: 01 xe mô tô biển số 67K1-995.20 nhãn hiệu Honda, loại xe wave, màu sơn đỏ - đen - bạc, trị giá tài sản 12.000.000 đồng.

Ngày 26/3/2024, H bị khởi tố, tạm giam để điều tra, xử lý.

* Lời khai của bị hại ông Đinh Văn T trình bày như nội dung vụ án, xin nhận lại xe mô tô bị chiếm đoạt để trả lại cho anh S1, không yêu cầu bồi thường về dân sự; yêu cầu xử lý hình sự H.

* Lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Anh Nguyễn Thái S1 và chị Giáp Thúy A (vợ của S1), trình bày như nội dung vụ án. Xe mô tô biển số 67K1-995.20 là tài sản chung, xin nhận lại xe mô tô trên, không yêu cầu bồi thường về dân sự.

- Anh Đỗ Hữu H1 (Chủ cửa hàng mua bán xe mô tô, xe máy “Hữu Ý”), trình bày: Ngày 06/7/2023, H1 cho H cầm xe mô tô biển số 67K1-995.20, với giá 5.000.000 đồng. H1 không biết xe mô tô trên do H phạm tội mà có, đã nộp xe cho Cơ quan điều tra xử lý, yêu cầu H trả lại 5.000.000 đồng.

Cáo trạng số 23/CT-VKSPT-HS ngày 24 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Phú Tân để xét xử bị cáo Nguyễn Minh H về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân thực hiện quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định như cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Viện kiểm sát đề nghị:

- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Minh H từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 23/3/2024. Không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng dân sự, trả lại xe mô tô biển số 67K1-995.20 cho anh S1 và chị A.

- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 166 Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo Nguyễn Minh H có nghĩa vụ trả lại cho anh Đỗ Hữu H1 5.000.000 đồng;

Tại phiên tòa, bị cáo H thừa nhận hành vi phạm tội, không tranh luận, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về Quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng:

Trong giai đoạn điều tra và truy tố, Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Xét thấy bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã có lời khai tại Cơ quan điều tra và lời khai của những người này phù hợp với lời khai nhận của các bị cáo trong giai đoạn điều tra nên sự vắng mặt của những người này tham gia phiên tòa cũng không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng trong vụ án.

[2] Về trách nhiệm hình sự:

[2.1] Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Minh H phù hợp với lời khai của bị hại ông Đinh Văn T, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, Kết luận Định giá tài sản số 44/KL-HĐĐG.TTHS ngày 07/8/2023 của Hội đồng Định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P.

Căn cứ vào các chứng cứ vừa nêu trên có đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Minh H lợi dụng sự tin tưởng của Đinh Văn T giao cho mượn xe mô tô biển số 67K1-995.20 trị giá 12.000.000 đồng, chiếm đoạt xe đem cầm cố lấy tiền tiêu xài rồi bỏ trốn. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân truy tố bị cáo Nguyễn Minh H về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[2.2] Tính chất, mức độ của hành vi phạm tội.

Bị cáo H có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm do bị cáo thực hiện. Bị cáo nhận thức được việc mượn xe mô tô rồi cầm cố xe lấy tiền tiêu xài nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu đối với tài sản của ông T được pháp luật hình sự bảo vệ. Sau khi chiếm đoạt xe của ông T, bị cáo lại cố tình trốn tránh, Cơ quan Điều tra ra quyết định truy tìm, nhiều lần đến gia đình vận động thuyết phục bị cáo H mới ra đầu thú. Từ đó cho thấy bị cáo có thái độ xem thường pháp luật nên cần có hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo, thông qua đó có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.

[2.3] Nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Bị cáo H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có 01 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo thuộc thành phần lao động, trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế, khi biết hành vi là vi phạm pháp luật, bị cáo đã đến cơ quan có thẩm quyền đầu thú. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Theo quy định tại khoản 5 Điều 175 Bộ luật hình sự người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đến 100.000.000 đồng nhưng xét bị cáo H có hoàn cảnh khó khăn, không nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[3] Các biện pháp tư pháp:

- Xử lý vật chứng: Xe mô tô biển số 67K1-995.20 là của vợ chồng anh S1, chị A cho ông T mượn, bị cáo chiếm đoạt xe này nhưng ông T chưa bồi thường cho anh S1, chị A. Do đó, anh S1, chị A vẫn là chủ sở hữu xe nên trả lại xe mô tô cho anh S1, chị A.

- Trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi liên quan anh Đỗ Hữu H1 có yêu cầu bị cáo H trả lại tiền cầm cố xe 5.000.000 đồng, được bị cáo thừa nhận và đồng ý trả nên buộc bị cáo H có nghĩa vụ trả lại tiền cầm cố xe cho anh H1.

[4] Về án phí: Bị cáo H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự trong vụ án hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh H phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 175, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam bị cáo (ngày 23/3/2024).

2. Xử lý vật chứng:

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự,

Trả lại xe mô tô biển số 67K1-995.20 màu đỏ đen bạc, loại Wave, số khung RHJA3920MY137518 số máy JA39E2254823 cho anh Nguyễn Thái S1 và chị Giáp Thúy A.

(Vật chứng nêu trên hiện do Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Phú Tân đang quản lý theo Biên bản giao nhận ngày 31/5/2024)

3. Về trách nhiệm dân sự:

Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 166 Bộ luật Dân sự,

Buộc bị cáo Nguyễn Minh H có nghĩa vụ trả lại cho anh Đỗ Hữu H1 5.000.000 (năm triệu đồng)

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, người phải thi hành án không thanh toán số tiền trên thì hàng tháng còn phải trả thêm tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án.

4. Về án phí:

Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo Nguyễn Minh H phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự trong hình sự.

5. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Bị cáo và đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo (1);
  • - Đương sự (4);
  • - TAND tỉnh An Giang (1);
  • - VKSND tỉnh An Giang (1);
  • - VKSND huyện Phú Tân (1);
  • - Nhà tạm giữ, THAHS CA HPT (2);
  • - Bộ phận THA Tòa án (1);
  • - Chi cục THADS huyện Phú Tân (2);
  • - Phòng hồ sơ Công an tỉnh AG (1);
  • - Sở Tư Pháp tỉnh AG (1);
  • - Lưu hồ sơ Tòa án (1);
  • - Lưu VT (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thế Văn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2024/HS-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 23/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Minh H phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger