|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 23/2024/HS-PT. Ngày 20 tháng 02 năm 2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Chuyền
Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Hà và bà Triệu Thị Luyện
- Thư ký tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Hoàng Đình Sắc- Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Hoàng Tùng- Kiểm sát viên.
Trong các ngày 19 và 20/02/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang, xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 284/TLPT-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo Đặng Văn K, Nguyễn Văn C, Đặng Thị P, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 124/2024/HS-ST ngày 29/9/2024, Thông báo sửa chữa, bổ sung bản án số 46/2024/TB-TA ngày 15/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
1. Họ và tên: Đặng Văn K; sinh năm 1966 tại xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nơi cư trú: Thôn Ả, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 07/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; Đảng, đoàn thể: Không; con ông Đặng Văn Đ, sinh năm 1924 (đã chết) và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1924(đã chết); có vợ là Phạm Thị H sinh năm 1966 và 02 con, con lớn sinh năm 1991, nhỏ sinh năm 1993; anh chị em ruột: Có 06 anh, chị em, bị cáo là con thứ năm; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo hiện tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Đặng Thị P; sinh năm 1993, tại xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nơi cư trú: Thôn Ả, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tên gọi khác: Không; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; Đảng, đoàn thể: Không; con ông Đặng Văn K, sinh năm 1966 và bà Phạm Thị H, sinh năm 1966; có chồng là Tống Văn K1 sinh năm 1989 và 02 con, con lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2019; anh chị em ruột: Có 02 anh, chị em, bị cáo là con thứ hai; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo hiện tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
3. Họ và tên: Nguyễn Văn C; sinh năm 1959, tại xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nơi cư trú: Thôn Ả, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 07/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tên gọi khác: không; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; đảng, đoàn thể: Không; con ông Nguyễn Văn C1, sinh năm 1933 (đã chết) và bà Phạm Thị N1, sinh năm 1937; và vợ là Đặng Thị N2 sinh năm 1967 và 04 con, con lớn sinh năm 1989, nhỏ sinh năm 1998; anh chị em ruột: Có 10 anh, chị em, bị cáo là con thứ hai; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo hiện tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
- Ông Đặng Văn K, sinh năm 1966. Nơi cư trú: Thôn Ả, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Có mặt.
- Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1959. Nơi cư trú: Thôn Ả, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Có mặt.
- Người làm chứng
- Bà Phạm Thị H, sinh năm 1966. Có mặt
- Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1984. Vắng mặt
- Ông Trần Huy L1, sinh năm 1966. Vắng mặt
- Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1987. Vắng mặt
- Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1976. Vắng mặt
- Ông Đặng Văn C2, sinh năm 1963. Vắng mặt
- Anh Hồ Văn B, sinh năm 1982. Vắng mặt
- Anh Nguyễn Văn H2, sinh năm 1998. Vắng mặt
- Anh Phạm Văn G, sinh năm 1986. Vắng mặt
Cùng địa chỉ: Thôn Ả, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Người bào chữa cho bị cáo Đặng Văn K, Đặng Thị P: Luật sư Vũ Văn H3 - thuộc Công ty L2, Đoàn Luật sư thành phố H. Có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn C: Luật sư Nguyễn Thị Thanh H4 - thuộc Công ty L3, Đoàn Luật sư tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ ngày 15/8/2023 Nguyễn Văn C, sinh năm 1959, trú tại thôn Ả, xã P, huyện L mang theo 01 chiếc liềm sắt và 01 chiếc cuốc có cán bằng gỗ đi đến khu ruộng của gia đình ở đồng C thuộc thôn Ả, xã P, huyện L để dọn cỏ bờ và tháo nước. Tại đây C gặp bà Phạm Thị H, sinh năm 1966, trú ở cùng thôn, bà H cũng đang đi thăm ruộng của gia đình. Sau đó giữa C và bà H xảy ra to tiếng, cãi vã, C đã dùng tay đẩy bà H. Sau đó bà H đã đến nhà ông Trần Huy L1, sinh năm 1966, trú tại thôn Ả, xã P, huyện L là trưởng thôn báo cho ông L1 biết việc bà bị C đánh nhưng do lúc đó ông L1 bận nên bảo bà H cứ đi về nhà. Khi bà H về nhà thì có Đặng Văn K sinh năm 1966 (là chồng của bà H) ở nhà và con gái là Đặng Thị P, sinh năm 1993, trú ở cùng thôn đang có mặt tại đó, bà H đã nói chuyện về việc bà bị C đánh ở ruộng. Nghe bà H nói vậy thì K điều khiển xe mô tô ra khu vực cánh đồng thôn Ả, P thấy vậy cũng điều khiển xe mô tô đi theo phía sau, còn bà H quay lại nhà ông L1 để tiếp tục thông báo sự việc. Khi K đi ra đến trục đường liên thôn thì gặp C điều khiển xe mô tô đi ngược chiều về, phía sau xe cài 01 chiếc cuốc, trên tay trái Cộng cầm 01 con liềm phát. Khi gặp nhau hai bên đỗ xe lại và xuống xe mô tô, lúc này P cũng đến, đỗ xe lại và vừa đi vừa chỉ tay về phía K nói “Tại sao ông đánh mẹ tôi”. Hai bên lời qua tiếng lại và xảy ra sô sát đánh nhau. Quá trình đánh nhau P dùng gậy gỗ đánh vào vùng đầu, vai trái của C; C dùng cuốc bổ vào gáy của K và dùng liềm bổ trúng vào khu vực mắt trái của K; K dùng chân ngáng chân C và P dùng tay kéo C từ phía sau làm C ngã xuống đường rồi P dùng tay ghì giữ C nằm ở dưới đường cho đến khi mọi người lên thì P mới bỏ tay ra để K dùng liềm bổ hai nhát vào chân C và dùng chân đạp một nhát theo chiều từ trên xuống dưới vào mạng sườn phải của C. Lúc này có chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1984, chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1987, đều trú quán tại thôn Ả, xã P, huyện L đang làm ruộng ở gần đó đến gọi người đưa C cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện L, tỉnh Bắc Giang; đưa K đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện L, tỉnh Bắc Giang. Ngày 16/9/2023 Nguyễn Văn C có đơn trình báo gửi Công an xã P. Cùng ngày, Công an xã P đã tiến hành xác định hiện trường nơi xảy ra vụ việc; ông Trần Huy L1 giao nộp cho Công an xã P 01 chiếc cuốc lưỡi sắt cán gỗ dài 1m29 lưỡi cuốc rộng 23cm; 01 chiếc liềm lưỡi sắt có tổng chiều dài 35cm, cán gỗ dài 13cm; 03 đoạn gỗ vụn 01 mẩu dài 30cm, 01 mẩu dài 14cm, 01 mẩu dài 21cm và trình bày chiếc cuốc và 03 đoạn gỗ là do ông L1 khi ra hiện trường thấy ở đó nên đã mang về, còn chiếc liềm là do bà H đưa cho.
Ngày 20/9/2023 Công an xã P đã chuyển toàn bộ hồ sơ đến Công an huyện L để giải quyết theo thẩm quyền. Ngày 05/10/2023 Nguyễn Văn C có đơn yêu cầu khởi tố gửi Công an huyện L.
Ngày 15/11/2023, Công an huyện L đã tạm giữ của Nguyễn Văn C : “01 chiếc mũ cối màu xanh bên ngoài được bọc bằng vải màu xanh, bên trong là nhựa cứng màu xanh bị nứt vỡ tại nhiều vị trí, trên mũ bám dính bùn đất mũ đã qua sử dụng mũ có quai là dây da màu nâu”.
Tại Giấy chứng nhận thương tích ngày 29/9/2023 của Trung tâm y tế huyện L, xác định Đặng Văn K vào viện hồi 08 giờ 55 phút ngày 15/8/2023, ra viện hồi 15 giờ 30 phút ngày 21/08/2023. Tình trạng thương tích lúc vào viện: vết thương mi trên rách lóc dài 03cm; vết thương mi dưới đứt hoàn toàn bờ tại do phức tạp ở 1/3 ngoài dài 4cm, Đầu: Vùng chẩm vết thương sắc gọn dài 10cm. Tình trạng lúc ra viện: Các vết thương quanh mắt và mi mắt vết thương vùng chẩm khô sạch, liền tốt”.
Tại giấy chứng nhận thương tích ngày 05/10/2023 của Trung tâm y tế huyện L xác định Nguyễn Văn C vào viện hồi 09 giờ 30 phút ngày 15/8/2023, ra viện hồi 15 giờ 30 phút ngày 22/8/2023.Tình trạng thương tích lúc vào viện:
- Vùng trán + gò má phải có 03 vết sước da rỉ máu đã cầm, KT mỗi vết 03mm
- Sưng nề vùng chẩm trái (02x02) cm
- Cằm trái có VT 05mm, rách da chảy máy
- Vùng cổ trước có 04 vết sây sát da.
- T1 ngực trước trái trên khớp ức đòn trái có vết sây sát da dài 03cm
- T1 ngực bên phải trên đường nách trước và giữa, tương ứng khoang liên sườn V đến VII có vết sưng nề KT (05x05) cm
- Mặt trước 1/3 trên cánh tay phải có vết nề tím KT (02 x 05) cm
- Mặt sau ngoài 1/3 trên đùi trái có 02 VT sắc gọn, đã khâu cầm máu, xung quanh vết thương sưng nề căng, tụ máu, có máu rỉ qua mép vết thương, tiến hành cắt chỉ VT kiểm tra: 01 vết dài 05 cm, đứt cân, có máu đông đọng trong vết thương; 01 vết 02cm rách da chảy máu.
- Sây sát da vùng gối 2 bên
CT ngực: Gãy xương sườn V, VI, VII đường nách giữa (P). Tràn dịch khoang màng phổi (P) thể tự do, số lượng ít. Dày mô kẽ dưới màng phổi thành sau hai bên và ngoại vi phân thủy V(P). (BL 380)
Ngày 05/10/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ra Quyết định trưng cầu giám định đối với thương tích của Đặng Văn K. Tại bản kết luận giám định số 1778/23/KLTTCT-TTPY ngày 16/10/2023 Trung tâm pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh B kết luận như sau:
“1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- Thương tích vết sẹo mi trên mắt trái kích thước nhỏ: 3%.
- Thương tích vết sẹo mi dưới mắt trái kích thước nhỏ: 3%,
- Thương tích vết sẹo vùng chẩm kích thước trung bình: 2%.
2. Kết luận: Căn cứ Thông tư số: 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Đặng Văn K tại thời điểm giám định là: 8% (Tám phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
3. Kết luận khác:
- Vật, cơ chế, chiều hướng gây thương tích: Các thương tích do vật sắc gây nên, không xác định được chiều hướng.
- Giám định thương tích trong Thông tư số 22/2019/TT-BYT không có mục đánh giá thẩm mỹ.
- Trong giám định pháp y không sử dụng thuật ngữ “cố tật” mà chỉ xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do di chứng vết thương, chấn thương gây ra tại thời điểm giám định.”
Ngày 09/10/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L Quyết định trưng cầu giám định đối với thương tích của Nguyễn Văn C. Tại bản kết luận giám định số 1778/23/KLTTCT-TTPY ngày 16/10/2023 Trung tâm pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh B kết luận:
“1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- Thương tích vết sẹo trán phải kích thước nhỏ: 3%.
- Chạm thương gò má phải không còn dấu vết: 0%.
- Chạm thương vùng chẩm trái không còn dấu vết: 0%.
- Thương tích vết sẹo cằm trái kích thước nhỏ: 3%.
- Chạm thương vùng cổ trước không còn dấu vết: 0%.
- Thương tích vết sẹo nông vị trí khớp ức đòn trái kích thước nhỏ: 1%.
- Chạm thương thành ngực phải không còn dấu vết + CT Scanner ngực: Gãy các xương sườn V, VI, VII đường nách giữa phải: 6%.
- Chạm thương mặt trước 1/3 trên cánh tay phải không còn dấu vết: 0%.
- Thương tích vết sẹo mặt sau ngoài 1/3 trên đùi trái kích thước (4,5x0,3)cm: 2%.
- Thương tích vết sẹo mặt sau ngoài 1/3 trên đùi trái kích thước (2x0,2)cm: 1%.
- Thương tích vết sẹo gối trái kích thước (2x0,3)cm: 1%.
- Thương tích vết sẹo gối trái kích thước (1,3x0,4)cm: 1%
- Thương tích vết sẹo gối trái kích thước (0,7x0,1)cm: 1%.
- Thương tích vết sẹo gối trái kích thước (1x0,1)cm: 1%.
- Thương tích vết sẹo gối phải kích thước (4,5x0,2)cm: 1%.
- Thương tích vết sẹo gối phải kích thước (0,7x0,2)cm: 1%.
2. Kết luận: Căn cứ Thông tư số: 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn C tại thời điểm giám định là: 20% (Hai mươi phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
3. Kết luận khác:
- Vật, cơ chế, chiều hướng gây thương tích:
- Thương tích 02 vết sẹo mặt sau ngoài 1/3 trên đùi trái do vật sắc nhọn gây nên, không xác định được chiều hướng.
- Các thương tích: 02 vết sẹo gối phải; 04 vết sẹo gối trái do trà sát gây nên, không xác định được chiều hướng.
- Các thương tích còn lại do vật tày gây nên, không xác định được chiều hướng. Giám định thương tích trong Thông tư số 22/2019/TT-BYT không có mục đánh giá thẩm mỹ.
- Trong giám định pháp y không sử dụng thuật ngữ “cố tật” mà chỉ xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do di chứng vết thương, chấn thương gây ra tại thời điểm giám định.
Quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Văn C khai: Khi C điều khiển xe máy trên đường đi làm đồng về tay trái của C cầm 01 chiếc liềm bằng kim loại một lưỡi sắc nhọn, sau xe máy (trên giá thồ hàng) bên trái có để 01 chiếc cuốc cán gỗ, trên đầu C đội mũ cối màu xanh. Sau đó K và P đi xe máy tới chặn đầu xe của C. P xuống xe tay phải cầm gậy, đứng chếch chéo bên trái của C, cách Cộng khoảng 01m, đập vào vùng đầu và vai trái của C theo chiều từ trên xuống dưới, từ phải qua trái. Do bị đánh nhiều nên C đã xuống xe chuyển liềm sang cầm bằng tay phải, đồng thời khi đó K cầm gậy đến đứng đối diện với C, cách khoảng 01m, tay phải K cầm gậy, đập theo chiều từ trên xuống dưới, từ phải qua trái vào vùng đầu của C. Cộng khua liềm để chống đỡ và lùi lại phía sau, lấy chiếc cuốc đang gài ở phía sau xe mô tô. Cộng hướng phần lưỡi cuốc về phía K và khua nhiều lần về phía Khiêm, khi đó khoảng cách giữa C và K là khoảng 01m, không nhớ khua bao nhiêu lần, có trúng Khiêm hay không. Khi đó P vẫn dùng gậy lao vào đánh C. Sau đó cuốc bị văng khỏi tay C thì C chuyển liềm từ tay trái sang tay phải, khua liềm theo chiều từ trái qua phải và từ phải qua trái khoảng hai, ba lần ở vị trí ngang mặt của K thì bị K lao vào dùng hai tay giữ lấy cổ tay phải đang cầm liềm của Cộng, khoảng cách giữa hai người là khoảng 50cm. Khi đó P vẫn đứng phía sau lưng C và dùng gậy đập vào vùng đầu C theo chiều từ trên xuống dưới từ phải qua trái. Còn K sau khi dùng hai tay giữ tay phải đang cầm liềm của C đã vặn tay C và dùng chân làm C ngã ngửa ra phía sau, K lấy được liềm từ tay C. Lúc này P đã đi tới ngồi ở phía bên trái C, P dùng chân trái đè lên tay trái của C rồi dùng hai tay bóp cổ C. Còn K đứng ở phía bên phải của C và đứng ở khu vực phía chân Cộng, khi C đang co gối lên thì K dùng liềm bổ vào phần đùi phải của C nhiều lần theo chiều từ trên xuống dưới. Sau đó K tiến lên, đứng ngang người Cộng và dùng chân phải đạp 01 cái vào vùng sườn phải của C theo chiều từ trên xuống dưới. Lúc này P vẫn đang bóp cổ C.
Bị cáo Đặng Văn K khai: Khi K, C và P đứng nói chuyện thì P đứng bên phải của K, và chỉ tay phải vào Cộng, lúc này C đang cầm liềm ở tay phải, còn K và P đều không cầm hung khí gì. Sau đó C đi ra phía sau xe máy của C, lấy chiếc cuốc ở phía sau xe ra cầm bằng hai tay, đồng thời tay phải vẫn cầm cuốc tiến đến chỗ P và giơ cuốc lên, P bỏ chạy về phía sau K. Lúc này K rút 01 gậy gỗ ở đám ruộng bên đường, chạy lên thì C giơ cuốc về phía K, K cầm bằng hai tay giơ ngang gậy trên đỉnh đầu để đỡ thì chiếc cuốc bổ xuống làm gậy bị gãy và rơi xuống đất, lưỡi cuốc bổ vào vùng đầu sau gáy của K. K lao vào dùng hai tay giật được cuốc khỏi tay C và vứt xuống đường. Lúc này C dùng tay phải cầm liềm bổ vào vùng mặt của ông K theo chiều từ trên xuống dưới. Sau đó K dùng hai tay cầm vào cổ tay phải của C, còn P ở phía sau dùng hai tay bám vào hai vai của C từ phía sau kéo C ngã ngửa ra đường. Khi C bị ngã ngửa nằm dưới đường thì P vẫn hai tay giữ cổ của C, C xoay được người và dùng chân đạp vào bụng K 2-3 cái. Lúc này K lấy được liềm từ tay C và dùng chân phải đá vào sườn phải của C theo chiều từ sau ra trước. K cầm liềm bằng tay trái bổ vào đùi Cộng hai nhát theo chiều từ trên xuống dưới, từ phải qua trái, không nhớ bổ vào đùi nào.
Bị cáo Đặng Thị P khai: Khi K và C đang đứng nói chuyện thì P đi đến lời qua tiếng lại với C. Lúc này C đang cầm liềm và cuốc đứng chửi P rồi C giơ cuốc về phía P, P chạy về phía sau K thì K và C lao vào đánh nhau nhưng P không rõ đánh thế nào. Sau đó P quay lại dùng hai tay bám vào vai C làm C ngã ngồi xuống đường, hai chân duỗi thẳng. Sau đó P tiếp tục dùng hai tay kéo vai C làm C ngã nằm ngửa xuống đường. P tiếp tục giữ vai Cộng đến khi chị H1 chạy đến nơi thì mới buông ra. Bản thân P không nhìn thấy K đánh bị cáo C hay không, đánh như thế nào. Trước khi đi tìm C thì cả K và P không cầm theo hung khí gì.
Do lời khai của C, K và P có mâu thuẫn nên cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất nhưng các bên vẫn giữ nguyên lời khai. Ngày 17/11/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành thực nghiệm điều tra theo lời khai của C, K và P.
Căn cứ kết quả thực nghiệm điều tra, ngày 28/11/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã trưng cầu giám định bổ sung cơ chế hình thành dấu vết đối với thương tích của Nguyễn Văn C, Đặng Văn K và theo các tình huống thực nghiệm điều tra.
* Tại bản kết luận giám định bổ sung qua hồ sơ số 1924/23/KLBSHS-PY ngày 06/12/2023 của Trung tâm pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh B kết luận đối với thương tích của Nguyễn Văn C như sau:
- Tình huống thực nghiệm điều tra của Nguyễn Văn C sử dụng chiếc liềm sắt và gậy gỗ dài khoảng 1 mét (liềm và 03 mẩu gỗ vụn gửi giám định) phù hợp gây được các thương tích: Thương tích vết sẹo trán phải; Chạm thương vùng chẩm trái không còn vết; Thương tích vết sẹo nông vị trí khớp ức đòn trái; Chạm thương vùng cổ trước không còn dấu vết; Thương tích vết sẹo mặt sau ngoài 1/3 trên đùi trái kích thước (4,5x0,3)cm; Thương tích vết sẹo mặt sau ngoài 1/3 trên đùi trái kích thước (2x0,2)cm; Chạm thương thành ngực phải không còn dấu vết + CT Scanner ngực: Gãy các xương sườn V, VI, VII đường nách giữa phải của Nguyễn Văn C. Không phù hợp gây được các thương tích: Thương tích vết sẹo cằm trái; Chạm thương mặt trước 1/3 trên cánh tay phải không còn dấu vết; Thương tích 4 vết sẹo gối trái; Thương tích 02 vết sẹo gối phải cho Nguyễn Văn C.
- Tình huống thực nghiệm điều tra của Đặng Văn K: chiếc liềm sắt (liềm gửi giám định) phù hợp gây các thương tích: Thương tích vết sẹo mặt sau ngoài 1/3 trên đùi trái kích thước (4,5 x 0,3)cm; Thương tích vết sẹo mặt sau ngoài 1/3 trên đùi trái kích thước (2x0,2)cm cho Nguyễn Văn C. Không phù hợp gây các thương tích khác.
- Tình huống thực nghiệm điều tra của Đặng Thị P sử dụng chiếc liềm sắt và gậy gỗ dài khoảng 1 mét (liềm và 03 mẩu gỗ vụn gửi giám định) không xác định được có phù hợp gây thương tích cho Nguyễn Văn C hay không.
- Chiều hướng và lực gây ra thương tích:
- Thương tích vết sẹo trán phải chiều hướng gây thương tích từ trên xuống dưới, từ trước ra sau. Lực tác động không mạnh.
- Chạm thương vùng chẩm trái không còn dấu vết chiều hướng gây thương tích từ trên xuống dưới, từ trái sang phải. Lực tác động không mạnh.
- Thương tích vết sẹo nông vị trí khớp ức đòn trái chiều hướng gây thương tích từ trên xuống dưới. Lực tác động không mạnh.
- Chạm thương vùng cổ trước không còn dấu vết chiều hướng gây thương tích từ trước ra sau. Lực tác động nhẹ.
- Thương tích vết sẹo mặt sau ngoài 1/3 trên đùi trái kích thước (4,5x0,3)cm và Thương tích vết sẹo mặt sau ngoài 1/3 trên đùi trái kích thước (2x0,2)cm chiều hướng gây thương tích từ trên xuống dưới. Lực tác động không mạnh.
- Chạm thương thành ngực phải không còn dấu vết + CT Scanner ngực: Gãy các xương sườn V, VI, VII đường nách giữa phải chiều hướng gây thương tích từ trên xuống dưới. Lực tác động mạnh.
- Các thương tích: Thương tích vết sẹo cằm trái; Chạm thương mặt trước 1/3 trên cánh tay phải không còn dấu vết; Thương tích 4 vết sẹo gối trái; Thương tích 02 vết sẹo gối phải không xác định được chiều hướng, lực tác động không mạnh.
- Xác định vùng trọng yếu trên cơ thể và hậu quả gây chết người không thuộc lĩnh vực Pháp y.
* Tại kết luận giám định bổ sung qua hồ sơ số 1923/23/KLBSHS-PY ngày 05/12/2023 của Trung tâm pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh B kết luận đối với thương tích của Đặng Văn K như sau:
- Tình huống thực nghiệm điều tra của Đặng Văn K sử dụng chiếc cuốc lưỡi sắt và chiếc liềm sắt (cuốc và liềm gửi giám định) phù hợp gây được thương tích của Đặng Văn K. Tình huống thực nghiệm điều tra của Nguyễn Văn C, Đặng Thị P sử dụng chiếc cuốc lưỡi sắt và chiếc liềm sắt (cuốc và liềm gửi giám định) không xác định được có phù hợp gây thương tích của Đặng Văn K hay không.
- Chiều hướng và lực gây ra thương tích:
- Thương tích vùng chẩm chiều hướng gây thương tích từ trên xuống dưới. Lực tác động không mạnh.
- 02 thương tích mi trên mắt trái và mi dưới mắt trái chiều hướng gây thương tích từ trên xuống dưới. Lực tác động không mạnh.
- Xác định vùng trọng yếu trên cơ thể và hậu quả gây chết người không thuộc lĩnh vực Pháp y.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, truy tố bị cáo Đặng Văn K, Nguyễn Văn C đều không yêu cầu bồi thường gì.
Về vật chứng: 01 chiếc cuốc lưỡi sắt có cán gỗ dài 1m29 lưỡi cuốc rộng 23cm; 01 chiếc liềm lưỡi sắt có tổng chiều dài 35cm, cán gỗ dài 13cm; 03 mẩu gỗ có chiều dài 30cm, 14cm và 21cm; 01 chiếc mũ cối màu xanh bị nứt vỡ tại nhiều vị trí có quai là dây da màu nâu, được chuyển đến kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn để xử lý theo quy định.
Từ những nội dung nêu trên, bản Cáo trạng số 86/CT-VKS ngày 31 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã truy tố các bị cáo Đặng Văn K, Đặng Thị P về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1) Điều 134- Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Với nội dung trên, Bản án hình sự sơ thẩm số: 124 /2024/HS-ST ngày 29/9/2024, Thông báo sửa chữa, bổ sung bản án số 46/2024/TB-TA ngày 15/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã quyết định:
- Căn cứ điểm đ khoản 2 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1) Điều 134 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Đặng Văn K 02 (Hai) năm 09 (C3) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
- Căn cứ điểm đ khoản 2 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1) Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Đặng Thị P 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Nguyễn Văn C 01 (Một) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 04/10/2024, Bị cáo Nguyễn Văn C có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho hưởng án treo.
Ngày 11/10/2024, bị cáo Đặng Văn K và Đặng Thị P kháng cáo đề nghị hủy án sơ thẩm hoặc xử lại vụ án và tuyên hai bị cáo không có tội.
Tại phiên toà phúc thẩm các bị cáo giữ nguyên kháng cáo, không cung cấp tài liệu chứng cứ gì mới.
- Bị cáo K trình bày: Khi các bị cáo xảy ra xô xát thì có vật lộn với bị cáo C. Bị cáo chỉ bổ bị cáo C hai nhát nhưng không rõ vào đâu. Bị cáo bị oan, bị cáo không phạm tội, bị cáo chỉ phòng vệ chính đáng. Bị cáo chỉ vi phạm pháp luật nhưng bị cáo không có lỗi với bị cáo C. Đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm hoặc xử tuyên bị cáo không có tội. Khi các bên xô xát với nhau thì chỉ có bị cáo, bị cáo P và bị cáo C. Bị cáo chỉ gây thương tích cho bị cáo C ở đùi với tỷ lệ tổn thương là 3%. Trước khi các bị cáo xô xát thì bị cáo C khỏe mạnh, không bị thương ở đâu.
- Bị cáo Phương trình bày: Khi xảy ra xôt xát có vật lộn giằng co nhau, bị cáo K giằng liềm của bị cáo C. Trước khi xảy ra xô xát thì bị cáo K và bị cáo C sức khỏe bình thường, không thấy có thương tích gì. Bị cáo chỉ lôi bị cáo C ra chứ không ghì vai bị cáo C. Bị cáo bị oan, bị cáo không có tội. Đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm hoặc xử tuyên bị cáo không có tội. Khi các bên xô xát với nhau thì chỉ có bị cáo, bị cáo K và bị cáo C. Sau khi bị cáo K bị bị cáo C gây thương tích thì không thấy ai gây thương tích cho bị cáo C.
- Bị cáo C trình bày: Bị cáo đã vi phạm pháp luật, bị cáo có lỗi với bị cáo K. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội chỉ là chống trả lại hành vi của bị cáo K và bị cáo P. Bị cáo không có ý định tước đi tính mạng của bị cáo K. Bị cáo P dùng gậy gỗ lao xuống chửi, đánh đập liên tục vào mặt bị cáo, giữ bị cáo để bị cáo K gây thương tích cho bị cáo. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo xin hưởng án treo. Khi các bên xô xát với nhau thì có bị cáo, bị cáo P và bị cáo K, và có một số người đang làm đồng ở xa, họ có chứng kiến không thì bị cáo không rõ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích tính chất, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo. Tại cấp phúc thẩm các bị cáo không cung cấp được tài liệu chứng cứ gì mới, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 124/2024/HS-ST ngày 29/9/2024, Thông báo sửa chữa, bổ sung bản án số 46/2024/TB-TA ngày 15/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo K và bị cáo P phải chịu án phí HSPT. Bị cáo C là người cao tuổi nên được miễn án phí HSPT.
- Người bào chữa cho bị cáo K và bị cáo Phương trình B1 lời bào chữa và đề nghị Hội đồng xét xử hủy án sơ thẩm để điều tra giải quyết lại theo trình tự sơ thẩm, làm rõ chính xác hành vi phạm tội của Nguyễn Văn C, tỷ lệ tổn thương cơ thể của bị cáo C và bị cáo K, làm rõ việc bị cáo K gây thương tích cho bị cáo C4 là hành vi phòng vệ chính đáng và đình chỉ điều tra đối với bị cáo K và bị cáo P.
- Người bào chữa cho bị cáo C vắng mặt tại phiên tòa nhưng có bản luận cứ bào chữa cho bị cáo C và đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo K và bị cáo P. Xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo C được hưởng án treo.
Các bị cáo lời sau cùng:
- Bị cáo K: Bị cáo không phạm tội.
- Bị cáo P: Bị cáo không phạm tội.
- Bị cáo C: Đề nghị Hội đồng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của các bị cáo đã được làm trong thời hạn quy định của pháp luật theo quy định tại các Điều 331, 332, 333- Bộ luật tố tụng Hình sự nên được coi là đơn kháng cáo hợp pháp. HĐXX chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của các bị cáo theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của các bị cáo:
[2.1] Xét hành vi của các bị cáo thì thấy: Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm và lời khai của các bị cáo đã khai tại cơ quan Điều tra. Bị cáo C xác định hành vi của mình là có lỗi và đề nghị Hội đồng xem xét cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo. Bị cáo K xác định bị cáo có dùng liềm bổ hai nhát vào đùi của bị cáo C và đá một nhát vào mạng sườn bị cáo C nhưng hành vi của bị cáo không phạm tội mà chỉ là phòng vệ. Bị cáo P không thừa nhận hành vi của mình là phạm tội, bị cáo không thừa nhận đánh bị cáo C mà bị cáo chỉ can ngăn bị cáo C nên bị cáo không phạm tội. Căn cứ vào lời khai của các bị cáo tại Công an xã P và Công an huyện L, lời khai của bị cáo C, những người làm chứng, các kết luận giám định, biên bản thực nghiệm điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thì thấy bị cáo C có hành vi dùng cuốc và liềm gây thương tích cho bị K mục đích của bị cáo chỉ là chống trả sự tấn công của bị cáo K và bị cáo P nên dẫn đến gấy thương tích cho bị cáo K, bị cáo không có ý thức tước đoạt tính mạng của bị cáo K. Bị cáo K và bị cáo C trong lúc xô xát giằng co nhau, bị cáo K đã dùng tay của mình giữ tay cầm liềm của bị cáo C, dùng chân ngáng chân bị cáo C và hô hào con gái là bị cáo P lao vào kéo bị cáo C, bị cáo P có dùng tay kéo vai bị cáo C khiến bị cáo C ngã ngửa ra đường, bị cáo P tiếp tục dùng tay giữ vai bị cáo C trong tư thế nằm ngửa, lúc này bị cáo K và bị cáo P đã khống chế được bị cáo C, bị cáo C không còn khả năng gây nguy hiểm nữa thì bị cáo K và bị cáo P hoàn toàn có thể lựa chọn phương án khác chứ không phải tiếp tục tấn công bị cáo C. Nhưng bị cáo K khi lấy được chiếc liềm từ tay bị cáo C vẫn tiếp tục bổ vào đùi bị cáo C và dùng chân đá vào mạng sườn bị cáo C trong khi bị cáo P vẫn đang giữ vai bị cáo C. Do vậy, việc bị cáo K, bị cáo P và người bào chữa cho các bị cáo cho rằng hành vi của các bị cáo chỉ là phòng vệ chính đáng, đề nghị truy tố bị cáo C về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là không có cơ sở chấp nhận. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 07 giờ 30 phút, ngày 15/8/2023 tại đường liên thôn thuộc địa phận thôn Ả, xã P, huyện L, giữa Đặng Văn K, Đặng Thị P và Nguyễn Văn C có xảy ra xô xát đánh nhau. Quá trình đánh nhau C dùng cuốc, dao liềm (là hung khí nguy hiểm) bổ vào vùng chẩm, đuôi mắt trái của K, gây thương tích cho K 08% sức khỏe; P dùng gậy gỗ (là hung khí nguy hiểm) đánh vào vùng đầu, vai của C và giữ C để cho K dùng liềm (là hung khí nguy hiểm) bổ vào đùi C và dùng chân đạp vào mạng sườn của C, gây thương tích cho Cộng 20% sức khỏe. Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn C đã đủ yếu tố cấu thành tội "Cố ý gây thương tích" theo quy định tại khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Hành vi của các bị cáo Đặng Văn K và Đặng Thị P đã đủ yếu tố cấu thành tội "Cố ý gây thương tích" theo quy định tại điểm đ khoản 2 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1) Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đối với các sai sót về nơi điều trị của bị cáo C: Theo lời trình bày của các bị cáo K các P thì tại bản kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 1778 ngày 20/10/2023, kết luận giám định bổ sung qua hồ sơ số 1924/23/KLBSHS-PY ngày 06/12/2023, kết luận giám định bổ sung qua hồ sơ số 2329/24/KLBSHS-PY ngày 06/6/2024 của Trung tâm P1- Bệnh viện đa khoa tỉnh B có sai sót về nơi điều trị của bị cáo C, cụ thể: Bị cáo C điều trị tại Trung tâm y tế huyện L, không phải điều trị tại Trung tâm y tế huyện L. Tuy nhiên, sai sót này không làm ảnh hưởng đến bản chất và diễn biến vụ án, không liên quan đến quá trình đánh giá mức độ tổn thương cơ thể. Ngày 25/9/2024, Trung tâm pháp y- Sở y tế tỉnh B đã có Công văn số 08/TTPY-GĐVCLS về việc đính chính văn bản để đính chính sai sót về nơi điều trị của bị cáo C.
Về các thông tin sai sót về lý do nhập viện của bị cáo C là do bị tai nạn giao thông tại hồ sơ bệnh án: Sáng ngày 15/8/2023, sau khi có sự việc xô xát giữa các bị cáo C, bị cáo K và bị cáo P, anh Nguyễn Văn D là người cùng anh H2 (con trai của bị cáo C) đưa bị cáo C đi cấp cứu, cũng là người đã khai báo bệnh án ban đầu cho bị cáo C tại Trung tâm y tế huyện L. Tại biên bản ghi lời khai của ông D ngày 26/9/2024, ông D khẳng định khi đưa bị cáo C đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện L không bị ai đánh cũng như không bị tai nạn giao thông, ngoài ra ông D cũng cho biết, lý do anh H2 khai bị cáo C bị tai nạn giao thông chứ không phải bị đánh gây thương tích là do bị cáo C có tuổi nên không muốn khai là đánh nhau. Như vậy, lý do khai bị cáo C bị tai nạn giao thông xuất phát từ ý muốn chủ quan của anh H2.
[2.2] Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân, làm mất trật tự trị an ở địa phương. Chỉ vì xích mích nhỏ giữa bà H là vợ của bị cáo K và là mẹ của bị cáo P với bị cáo C dẫn đến việc hai bên lời qua tiếng lại và xảy ra xô xát đánh nhau. Quá trình xô xát với nhau bị cáo P dùng gậy gỗ đánh vào vùng đầu, vai trái của bị cáo C; bị cáo C dùng cuốc bổ vào gáy của bị cáo K và dùng dao liềm bổ vào khu vực mắt trái của bị cáo K; bị cáo K túm cổ tay, dùng chân ngáng chân bị cáo C sau đó bị cáo P dùng tay kéo bị cáo C từ phía sau làm bị cáo C ngã xuống đường rồi bị cáo P dùng tay ghì giữ bị cáo C nằm ở dưới đường để bị cáo K dùng liềm bổ vào đùi bị cáo C và dùng chân đạp một cái vào mạng sườn của bị cáo C. Hậu quả các bị cáo K, P đã gây thương tích cho Nguyễn Văn C 20% sức khỏe, bị cáo Nguyễn Văn C đã gây thương tích cho Đặng Văn K là 08% sức khỏe. Qua đó thể hiện sự coi thường sức khỏe của người khác, coi thường pháp luật của Nhà nước. Do đó cần phải xử lý nghiêm đối với các bị cáo nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[2.3] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy:
- Về tính chất đồng phạm và vai trò của các bị cáo: Trong vụ án này bị cáo Đặng Văn K và bị cáo Đặng Thị Phương C5 thực hiện hành vi phạm tội chỉ là đồng phạm giản đơn không có bàn bạc, phân công nhiệm vụ từ trước mà chỉ là tự phát. Bị cáo C thực hiện hành vi độc lập không có đồng phạm.
- Về nhân thân của các bị cáo: Các bị cáo Đặng Văn K, Đặng Thị P, Nguyễn Văn C đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm bị cáo Nguyễn Văn C khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có nộp số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn để khắc phục, bồi thường thiệt hại cho bị cáo K nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51- Bộ luật Hình sự. Bị cáo Đặng Văn K quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51- Bộ luật hình sự. Bị cáo P xác định không phạm tội, bị cáo chỉ can ngăn chứ không giữ bị cáo C để cho bị cáo K đánh bị cáo C, bị cáo P không thành khẩn khai báo nên không được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Tòa án cấp sơ thẩm xét xử và xử phạt bị cáo Đặng Văn K 02 (Hai) năm 09 (C3) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; xử phạt bị cáo Đặng Thị P 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 01 (Một) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” là có căn cứ.
[2.4] Quá trình xét xử tại cấp phúc thẩm: Các bị cáo K và P không cung cấp được tài liệu chứng cứ gì mới. Bị cáo K và bị cáo P kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử hủy án sơ thẩm hoặc xử tuyên hai bị cáo không có tội là không có căn cứ để chấp nhận. Bị cáo C kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo thì thấy cần phải bắt bị cáo cách ly khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích và biết tuân thủ pháp luật nên không chấp nhận kháng cáo của bị cáo C. Do đó, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm số 124/2024/HS-ST ngày 29/9/2024, Thông báo sửa chữa, bổ sung bản án số 46/2024/TB-TA ngày 15/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà phúc thẩm.
[3] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của các bị cáo không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm, do bị cáo C là người cao tuổi nên được miễn án phí HSPT theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 23- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
[4] Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, cấp phúc thẩm không xem xét giải quyết.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự. Xử: Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Đặng Văn K, Đặng Thị P và Nguyễn Văn C. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 124/2024/HS- ST ngày 29/9/2024, Thông báo sửa chữa, bổ sung bản án số 46/2024/TB-TA ngày 15/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
- Án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- Bị cáo Nguyễn Văn C được miễn án phí HSPT.
- Buộc bị cáo Đặng Văn K phải chịu 200.000 đồng án phí HSPT.
- Buộc bị cáo Đặng Thị P phải chịu 200.000 đồng án phí HSPT.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Chuyền |
Bản án số 23/2024/HS-PT ngày 20/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về hình sự phúc thẩm về tội cố ý gây thương tích
- Số bản án: 23/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
