TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 23/2023/HNGĐ-PT Ngày 19 tháng 12 năm 2023 “V/v Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Anh.
Các Thẩm phán:
Bà Điêu Thị Bích Lượt;
Ông Phạm Văn Toàn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Thị Thu Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Hồng Yến – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 29/2023/TLPT- HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2023 về việc “Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 25/2023/HNGĐ-ST ngày 26/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 21/2023/QĐ-PT ngày 30 tháng 10 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2023/QĐ-PT ngày 30 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Hoàng Ngọc T, sinh năm 1989
HKTT: Xóm D, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Bị đơn: Chị Trịnh Thị H, sinh năm 1990
HKTT: Xóm D, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Chỗ ở hiện nay: Xóm M, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Người kháng cáo: Anh Hoàng Ngọc T - nguyên đơn.
(Anh T có mặt, chị H vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại tòa án, nguyên đơn anh Hoàng Ngọc T trình bày:
Tại Bản án phúc thẩm số 23/2022/HNGĐ-PT ngày 23/12/2022 Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đã xét xử cho vợ chồng anh ly hôn, về con chung giao cho anh được trực tiếp nuôi 02 con chung là cháu Hoàng Ngọc Thanh T1, sinh ngày 25/10/2010 và cháu Hoàng Ngọc L, sinh ngày 11/10/2014. Giao cho chị H được nuôi con chung là cháu Hoàng Kim T2, sinh ngày 27/9/2019, đến khi các con chung thành niên, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung. Tuy nhiên, từ khi ly hôn đến nay thì cả 03 con chung vẫn ở với anh T được anh chăm sóc, nuôi dưỡng, ăn học đầy đủ. Chị H có đến thăm con được khoảng bốn lần, anh T vẫn để chị H thăm nom con chung nhưng cấm chị H không cho chị H vào nhà anh, mẹ con muốn thăm gặp chỉ gọi nhau ra cổng hoặc đưa xuống quán nước gần nhà anh để nói chuyện hay làm gì thì anh không biết. Lý do anh T không cho chị H vào nhà anh là vì chị H nhổ nước bọt vào mặt mẹ đẻ anh, giữa anh và chị H đã giải quyết ly hôn xong nên không phải nhà chung, chị H không được tự do ra vào khi không được sự đồng ý của anh. Nay anh T xin được nuôi con chung là cháu T2 đến khi thành niên, với lý do Tòa án giao con chung là cháu T2 cho chị H nhưng chị không đón con, không quan tâm gì đến con chung. Hiện nay anh T đang làm nghề tự do tại địa phương, anh T ở với mẹ đẻ tại xã V, cùng vợ mới cưới và 03 con chung với chị H. Anh T yêu cầu chị H cấp dưỡng theo quy định của pháp luật để anh nuôi con chung.
Bị đơn chị Trịnh Thị H trình bày:
Về việc ly hôn và giao con chung tại bản án số 23 ngày 23/12/2022 của TAND tỉnh Phú Thọ theo như anh T trình bày ở trên là đúng. Lý do chị H không đón cháu T2 là từ khi vợ chồng ly hôn anh T cản trở không cho chị đón con, không cho thăm con, không cho vào nhà. Hai cháu lớn con chung giữa chị H và anh T có nói chuyện lại với chị H nếu các con gặp mẹ tối về sẽ bị bố và bà chửi, không cho gặp. Khi anh T ngăn cấm chị H về việc đến đón và thăm nom con chung thì chị cũng có báo cáo với chính quyền địa phương. Chị H hiện đang làm công nhân ở KCN P - thị xã P, có thu nhập khoảng 7.000.000đ/1 tháng, chị ở chung với bố mẹ đẻ tại xã Đ, huyện T. Chị không đồng ý để anh T nuôi cháu T2, chị vẫn tiếp tục xin được nuôi cháu T2 và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung. Chị đề nghị anh T giao cháu T2 cho chị, để chị đón cháu về nhà chăm sóc, nuôi dạy cháu ăn học.
Tại Bản án sơ thẩm số: 25/2023/HNGĐ-ST ngày 26 tháng 7 năm 2023, Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ đã quyết định:
Căn cứ Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 271; Khoản 1 Điều 273; Khoản 1 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 1 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14ày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Hoàng Ngọc T về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn đối với chị Trịnh Thị H.
- Giao con chung Hoàng Kim T2, sinh ngày 27/9/2019 cho chị Trịnh Thị H trực tiếp nuôi dưỡng kể từ tháng 7/2023 cho đến khi con chung đã thành niên, tự lực được. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H do chị H không yêu cầu.
- Anh T và chị H đều có quyền và nghĩa vụ với con chung, không ai được cản trở.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 02 tháng 8 năm 2023, nguyên đơn anh Hoàng Ngọc T có đơn kháng cáo với nội dung: Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giao cho anh được trực tiếp nuôi con chung là cháu Hoàng Kim T2, sinh ngày 27/9/2019 và yêu cầu chị Trịnh Thị H cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của những người tiến hành tố tụng; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi vụ án được thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật.
Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của anh Hoàng Ngọc T. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 25/2023/HNGĐ-ST ngày 26 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của anh T không được chấp nhận nên anh T phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Kháng cáo của anh Hoàng Ngọc T trong hạn luật định, hợp lệ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Chị Trịnh Thị H đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nên căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị H.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về kháng cáo của anh Hoàng Ngọc T:
Anh T đề nghị Tòa án giao cho anh được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Hoàng Kim T2 do chị H được tòa án giao quyền nuôi dưỡng và chăm sóc cháu nhưng không làm tròn trách nhiệm của người nuôi dưỡng.
Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:
Tại Bản án phúc thẩm số: 23/2022/HNGĐ-PT ngày 23/12/2022 của TAND tỉnh Phú Thọ quyết định giao cho chị H được nuôi con chung là cháu Hoàng Kim T2, sinh ngày 27/9/2019 đến khi các con chung thành niên, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, do cháu T2 vẫn đang sống cùng gia đình anh T nên chị H đến thăm và đón cháu nhưng mỗi lần đến đều bị anh T và gia đình cản trở, nên chị H không đón được cháu T2. Bản thân anh T cũng thừa nhận việc không cho chị H vào đón con, mỗi khi chị H đến thăm các con, mẹ con chị H chỉ được gặp nhau ở ngoài cổng hoặc quán nước gần nhà. Điều này phù hợp với kết quả xác minh của Tòa án với chính quyền địa phương và mẹ đẻ của anh T cũng xác định mỗi khi chị H đến thăm con anh T không cho chị H vào nhà và không cho đón con (BL 33, 34, 36). Anh T kháng cáo cho rằng chị H không đến đón cháu T2 và không có trách nhiệm với con là không có căn cứ. Trên thực tế, hiện nay chị H đã đón cháu T2 về ở cùng, cháu T2 được đi học và được chăm sóc, nuôi dưỡng đầy đủ.
Mặt khác, anh T làm lao động tự do tại địa phương, thu nhập không ổn định, gia đình có 06 nhân khẩu cùng sống với nhau. Anh T còn một khoản nợ 50.000.000₫ tại Ngân hàng N chi nhánh huyện T và một vài khoản nợ của các cá nhân khác khoảng hơn 100.000.000đ. Tại phiên tòa phúc thẩm, anh T trình bày đã trả hết các khoản nợ cá nhân, chỉ còn nợ Ngân hàng 25.000.000đ nhưng không có tài liệu, chứng cứ chứng minh. Do đó, nếu giao cho anh T nuôi dưỡng cả 03 con chung thì sẽ không đảm bảo được điều kiện sống tốt nhất cho các cháu. Hơn nữa, hiện nay anh T đã lập gia đình mới, nên Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh T là phù hợp, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của con chung.
Từ những phân tích trên, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của anh Hoàng Ngọc T.
[2.2] Những nội dung cần rút kinh nghiệm đối với bản án sơ thẩm:
Bản án sơ thẩm tuyên giao con chung Hoàng Kim T2, sinh ngày 27/9/2019 cho chị Trịnh Thị H trực tiếp nuôi dưỡng kể từ tháng 7/2023 cho đến khi con chung đã thành niên, tự lực được. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H do chị H không yêu cầu là không cần thiết vì nội dung này đã được quyết định trong Bản án phúc thẩm số 23/2022/HNGĐ-PT ngày 23/12/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đang có hiệu lực pháp luật.
Bản án sơ thẩm áp dụng điểm a khoản 1 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án là không chính xác mà áp dụng khoản 1 Điều 26 mới chính xác. Tuy nhiên, những sai sót này không làm ảnh hưởng đến nội dung vụ án nên những nội dung này cần rút kinh nghiệm với Tòa án cấp sơ thẩm.
[3] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên anh Hoàng Ngọc T phải chịu án phí phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của anh Hoàng Ngọc T.
Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 25/2023/HNGĐ-ST ngày 26/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
Căn cứ Điều 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 271, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 26, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14ày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Hoàng Ngọc T về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
- Về án phí phúc thẩm: Anh Hoàng Ngọc T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí phúc thẩm, được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) anh T đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2020/0007208 ngày 04/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Viết Anh |
Bản án số 23/2023/HNGĐ-PT ngày 19/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
- Số bản án: 23/2023/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/12/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Ngọc T - Trịnh Thị H - thay đổi nuôi con sau ly hôn
