|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DUYÊN HẢI TỈNH TRÀ VINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 23 /2024/HSST
Ngày 18-7-2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DUYÊN HẢI TỈNH TRÀ VINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Bá Thi
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Trường Sinh
2. Ông Trần Đạt Thông
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Thị Quí.
Thư ký Tòa án nhân dân huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Duyên Hải tham gia phiên tòa: Ông Võ Tấn Lợi, Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Duyên Hải tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 26/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2024 đối với:
Bị cáo: Phước Văn L, sinh ngày 02 tháng 5 năm 2003; Tại: Trà Vinh. Nơi cư trú: ấp B, xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Khmer; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con bà Thạch Thị Thanh T và ông Phước Văn T1; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ ngày 21 tháng 12 năm 2023 và tạm giam ngày 28 tháng 12 năm 2023 đến nay. (Có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Trần Thị H – Là Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T, (Có mặt)
Người làm chứng: Anh Huỳnh Minh T2, sinh năm 1992. Nơi cư trú: ấp L, xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh. (Có mặt). Chị Khuất Thị Minh T3, sinh năm 2003. Nơi cư trú: khóm G, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Trà Vinh (Vắng mặt).
NHẬN THẤY:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 22 giờ 45 phút ngày 21/12/2023, sau khi nhận được tin báo của quần chúng nhân dân tại nhà của Phước Văn L thì L có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy. Công an huyện D kết hợp cùng Công an xã Đ tiến hành kiểm tra tại nhà của L phát hiện 01 đoạn nhựa màu trắng xanh được hàn kín bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy được để dưới nệm trên giường mà L ngủ hằng ngày. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Phước Văn L và thu giữ toàn bộ số vật chứng nêu trên.
Tại bản kết luận giám định số 966/KL-KTHS ngày 27/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Tinh thể rắn màu trắng chứa trong 01 (một) đoạn nhựa được niêm phong gửi giám định là Ma túy; loại: Methamphetamine; khối lượng: 0,1865 gam.
Tại bản Cáo trạng số: 21/CT-VKS ngày 03-6-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh đã quyết định truy tố bị cáo Phước Văn L về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Về hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Khuất Thị Anh T4 đã bị cơ quan canh sát điều tra Công an huyện D xử lý theo quy định pháp luật. Tại phiên tòa bị cáo Phước Văn L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng, bị cáo thống nhất nội dung bản cáo trạng và quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng mà bản cáo trạng đã nêu. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phước Văn L phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phước Văn L từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Ngoài ra Kiểm sát viên còn đề nghị xử lý vật chứng và buộc bị cáo nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng: Phước Văn L thừa nhận hành vi cất giấu ma túy của mình là vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội trở về gia đình sớm hòa nhập xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như nội dung cáo trạng đã mô tả, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Phước Văn L có mua 01 đoạn ma tuý của đối tượng tên T4 và giấu dưới nệm nơi bị cáo ngủ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D tiến hành thu giữ 01đoạn nhựa được bịt kính 02 đầu, bên trong đều có chứa chất tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy và niêm phong theo quy định. Tổng khối lượng thu giữ được đoạn nhựa niêm phong gửi giám định là Ma túy; loại: Methamphetamine; khối lượng: 0,1865 gam.
Do đó, đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Phước Văn L tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 như kết luận của kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật. Tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử đã thẩm tra các quyết định của của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, đều đúng quy định pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy. Cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội và răn đe phòng ngừa chung cho mọi người như vậy mới đáp ứng được yêu cầu phục vụ tình hình chính trị tại địa phương. Song khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét, bị cáo L là người dân tộc, gia đình bị cáo khó khăn. Tại phiên tòa bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải, không tiền án, tiền sự là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự.
- Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại (sau giám định) có khối lượng 0,1844 gam được để trong túi niêm phong số 966/M ghi ngày 27/12/2023 với hình dấu tròn màu đỏ có nội dung PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TRÀ VINH và các chữ ký ghi tên Nguyễn Văn M, Tăng Công L1 (bên trong túi niêm phong có vỏ bao gói).
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, hiệu Sense, màu trắng bạc, số IMEI 990019132234297, đã qua sử dụng.
[3] Ý kiến bào chữa cho bị cáo nhất trí các ý kiến của vị kiểm sát viên không có ý kiến nào khác. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận mức hình phạt 01 năm tù được HĐXX chấp nhận. Miễn án phí hình sự cho bị cáo chưa có căn cứ để miễn theo quy định pháp luật.
[4] Bản luận tội và đề nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ đúng theo quy định của pháp luật, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] - Về án phí hình sự: Bị cáo Phước Văn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Phước Văn L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Phước Văn L 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 21-12-2023.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại (sau giám định) có khối lượng 0,1844 gam được để trong túi niêm phong số 966/M ghi ngày 27/12/2023 với hình dấu tròn màu đỏ có nội dung PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TRÀ VINH và các chữ ký ghi tên Nguyễn Văn M, Tăng Công L1 (bên trong túi niêm phong có vỏ bao gói). Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, hiệu Sense, màu trắng bạc, số IMEI 990019132234297, đã qua sử dụng.
2. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Phước Văn L có nghĩa vụ nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 02 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 06; Điều 07 và Điều 09 của Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Bùi Bá Thi |
Bản án số 23/2024/HSST ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DUYÊN HẢI TỈNH TRÀ VINH về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 23/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DUYÊN HẢI TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
