Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRÙNG KHÁNH

TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2024/HNGĐ-ST

Ngày 17/9/2024

V/v: Xin ly hôn, tranh chấp quyền

nuôi con khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÙNG KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nông Quốc Hùng;

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nông Diệu Huế
  2. Ông: Hoàng Văn Học

- Thư ký phiên toà: Bà Triệu Thị Thu Hương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tịch - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 101/2023/TLST-HNGĐ ngày 18/10/2023 về việc Ly hôn, tranh chấp quyền nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:19/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số:04/QĐHPT-HNGĐ ngày 20/8/2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Bế Thị Y, sinh năm 1994; Có mặt;
  • Địa chỉ: xóm X, xã P, huyện Q, tỉnh Cao Bằng;
  • - Bị đơn: Anh Nông Văn B, sinh năm 1992; Vắng mặt.
  • Địa chỉ: Xóm B, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 14/7/2023 và các lời khai tiếp theo tại Tòa, nguyên đơn Bế Thị Y trình bày: Chị đăng ký kết hôn với anh Nông Văn B vào năm 2013 tại Ủy ban nhân dân xã Đoài Côn (Nay là xã Đ), huyện T, tỉnh Cao Bằng, việc đăng ký do hai bên tự nguyện thực hiện. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống, anh B không tu chí làm ăn, sử dụng ma túy và đã bị xử phạt bằng hình phạt tù. Từ khi anh B đi chấp hành án, chị Y đã về nhà mẹ đẻ sinh sống tại xóm X, xã P, huyện Q, tỉnh Cao Bằng. Anh B đã chấp hành xong hình phạt và trở về địa phương từ đầu năm 2024. Hiện nay, chị Y xác định đã không còn tình cảm, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn với anh Nông Văn B. Về con chung, có hai con chung là cháu Nông Vi L1, sinh ngày 22/6/2015 và cháu Nông Vi L2, sinh ngày 13/11/2016. Hiện nay các cháu đang sống cùng anh B. Chị Y đề nghị sau khi ly hôn, chị được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai cháu và không yêu cầu anh B cấp dưỡng. Về tài sản chung, nợ chung xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 27/10/2023 và các lời khai tiếp theo anh Nông Văn B trình bày: Anh xác nhận các vấn đề về thời gian kết hôn, tình cảm, con cái, tài sản chung như chị Y trình bày là đúng. Quá trình chung sống giữa hai vợ chồng không có mâu thuẫn gì, tuy nhiên do thời gian dài không chung sống cùng nhau, anh nhất trí yêu cầu ly hôn của chị Y. Về con chung, anh không nhất trí cho chị Y chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, anh đề nghị bản thân được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cả hai cháu Nông Vi L1 và Nông Vi L2 do các cháu đã sinh sống với anh và gia đình từ bé. Về tài sản chung, nợ chung, xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản xác minh ngày 07/5/2024 với chị Hứa Thị Hà – Trưởng xóm xóm B, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng cho biết quá trình anh B và chị Y còn chung sống tại xóm B đã phát sinh mâu thuẫn nhiều lần và kéo dài, chị Y nhiều lần bỏ về nhà mẹ đẻ tại huyện Quảng Hòa, lần gần đây nhất là cách đây khoảng 3 năm sau khi anh B đi chấp hành án, từ đó tới nay không quay lại địa phương sinh sống nữa. Trước đó, mâu thuẫn giữa hai vợ chồng đã được tổ hòa giải của xóm can thiệp và khuyên bảo nhưngg không khắc phục được. Khi chị Y bỏ về nhà mẹ đẻ cũng để lại hai con chung cho ông bà nội chăm sóc. Nay anh B đã đi chấp hành án xong và trở về địa phương từ đầu năm 2024. Gia đình anh B thuộc diện hộ nghèo trong xóm tuy nhiên có nhiều ruộng đất để canh tác, nếu chăm chỉ lao động sẽ đủ đảm bảo điều kiện sinh sống. Việc hai cháu sinh sống với anh B sau khi hai vợ chồng ly hôn là hoàn toàn đủ điều kiện để hai cháu phát triển, trưởng thành. Trên thực tế sau khi anh B đi chấp hành án, chị Y về nhà mẹ đẻ, hai cháu sống với ông bà nội vẫn phát triển tốt về cả thể chất, tinh thần.

Tòa án đã tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án nhưng bị đơn không hợp tác nên tòa án không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa:

Chị Y xác định mâu thuẫn vợ chồng đã không thể hàn gắn được nữa nên giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh B. Sau khi ly hôn, do hiện nay anh B đã chấp hành án xong về địa phương nên chị Y đề nghị con chung được giao cho anh B trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục hai con chung không đặt ra đóng góp cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa anh B vắng mặt nhưng trong biên bản lấy lời khai đã thể hiện quan điểm của mình như sau: Anh B nhất trí ly hôn theo yêu cầu của chị Y. Về con chung, anh B yêu cầu được trực tiếp nuôi cả hai con, không đề nghị chị Y cấp dưỡng cho hai con Về tài sản chung, nợ chung xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký trong quá trình giải quyết vụ án và đương sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều tuân theo và chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự. Về hướng giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27, Khoản 1 Điều 56, 57, 82, 110 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  • - Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Bế Thị Y được ly hôn với anh Nông Văn B.
  • - Về con chung: Giao 02 con chung cho anh B chăm sóc, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi. Không đặt vấn đề cấp dưỡng đối với chị Y.
  • - Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
  • - Về án phí: Buộc chị Y phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về thẩm quyền và quan hệ tranh chấp: Bị đơn Nông Văn B có hộ khẩu thường trú tại xóm B, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Vì vậy, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Căn cứ yêu cầu khởi kiện Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp cần giải quyết là ly hôn, tranh chấp về quyền nuôi con theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Bế Thị Y và anh Nông Văn B cùng xác nhận đăng ký kết hôn vào năm 2013 tại Ủy ban nhân dân xã Đoài Côn (Nay là xã Đ), huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng, việc đăng ký kết hôn là tự nguyện, tuy nhiên hai đương sự không cung cấp cho Tòa án văn bản thể hiện việc đăng kí kết hôn hợp pháp. Tại văn bản số 21/UBND-TP ngày 25/4/2024 của Ủy ban nhân dân xã Đ trả lời rằng tại trang số 123 của sổ đăng ký kết hôn xã Đoài Côn cũ chỉ có chữ ký của anh B và chị Y mà không có thông tin cá nhân của hai bên, lý do vì sai sót của công chức Tư pháp – hộ tịch thực hiện việc đăng ký kết hôn không điền đầy đủ thông tin vào sổ gốc đồng thời do sát nhập xã nên những hồ sơ liên quan bị thất lạc. Tuy không có thông tin cá nhân đầy đủ của hai bên nhưng trong sổ gốc có đầy đủ chữ ký của cả anh B và chị Y, đồng thời cả anh B và chị Y đều khẳng định được đăng ký kết hôn và chị Y cho rằng đã thấy đăng ký kết hôn mang tên Nông Văn Bộ và Bế Thị Y nhưng do bố mẹ chồng cất giấu nên không cung cấp cho Tòa án được, điều này thể hiện anh B và chị Y có đi đăng ký kết hôn và việc kết hôn giữa anh B và chị Y là hợp pháp và quan hệ vợ chồng được pháp luật công nhận từ ngày đi đăng ký kết hôn.

Thời gian đầu vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc nhưng sau đó anh B vướng vào vòng lao lý. Cuối năm 2021, anh B đi chấp hành án phạt tù, cho rằng gia đình nhà chồng đối xử không tốt với mình nên chị Y đã chuyển về nhà mẹ đẻ tại huyện Quảng Hòa để sinh sống. Đến đầu năm 2024, anh B chấp hành án phạt tù xong và trở về địa phương nhưng anh B cũng không có hành động cứu vãn hôn nhân, không có ý định hàn gắn tình cảm vợ chồng khiến mâu thuẫn hôn nhân càng thêm trầm trọng. Tại bản tự khai ngày 27/10/2023, anh B cũng xác nhận không thể tiếp tục chung sống và nhất trí ly hôn với chị Y. Từ những phân tích, nhận định trên đây, xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị Y và anh B đã có mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu xin ly hôn của chị Y và ý kiến của Kiểm sát viên là có căn cứ nên cần được chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

[3]. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Giữa chị Y và anh B có 02 con là cháu Nông Vi L1, sinh ngày 22/6/2015 và cháu Nông Vi L2, sinh ngày 13/11/2016, hiện nay các cháu đang sống cùng anh B. Trong đơn ly hôn chị Y yêu cầu được trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, nhưng tại phiên tòa chị Y thay đổi yêu cầu nuôi con chung vì cho rằng hiện nay anh B đã đi chấp hành án xong về địa phương sinh sống nên khi ly hôn chị Y yêu cầu con chung được giao cho anh B trực tiếp nuôi con và không đặt ra mức cấp dưỡng nuôi con. Tại biên bản lấy lời khai ngày 07/5/2024 đối với cháu L1 và cháu L2, hai cháu đều có nguyện vọng ở với bố vì đã sống cùng bố từ nhỏ. Cũng tại biên bản xác minh cùng ngày với trưởng xóm xóm B, xã Đ, trưởng xóm cho biết gia đình anh B hoàn toàn đủ điều kiện kinh tế, môi trường sinh sống để hai cháu có thể phát triển tốt. Tại bản khai anh L1 cũng có nguyện vọng được nuôi cả 02 người con chung và không yêu cầu chị Y phải có trách nhiệm đóng góp cấp dưỡng nuôi con. Vì vậy, cần giao hai cháu cho anh B trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không có yêu cầu do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4]. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5]. Về án phí: Chị Y phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27, Khoản 1 Điều 56, 57, 82, 110 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Bế Thị Y được ly hôn với anh Nông Văn B.
  2. Về con chung: Giao cháu Nông Vi L1, sinh ngày 22/6/2015 và cháu Nông Vi L2, sinh ngày 13/11/2016 cho anh Nông Văn B trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các con đủ 18 tuổi (Hoặc đến khi có bản án, quyết định khác của Tòa án thay thế). Không đặt vấn đề cấp dưỡng nuôi con đối với chị Y.

Sau khi ly hôn, Chị Y có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được phép cản trở. Vì quyền lợi của con, khi có căn cứ, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật

  1. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  2. Về án phí: Chị Bế Thị Y phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm. Xác nhận chị Y đã nộp 300.000đ tại biên lai thu nộp án phí, lệ phí Tòa án số 0003130 ngày 18/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng.
  3. Về quyền kháng cáo: Chị Y, anh B có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKS huyện;
  • - Chi cục THA dân sự huyện;
  • - UBND xã Đ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nông Quốc Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2024/HNGĐ-ST ngày 17/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÙNG KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG về xin ly hôn, tranh chấp quyền nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 23/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn, tranh chấp quyền nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÙNG KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Bế Thị Y đề nghị ly hôn, tranh chấp quyền nuôi con khi ly hôn với anh Nông Văn B
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger