Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐOAN HÙNG

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2024/HS-ST

Ngày: 17-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Duyên

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Chí Hà
  2. Ông Nguyễn Đình Đại

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Thắng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 22/2024/TLST-HS, ngày 26 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2024/QĐXXST-HS, ngày 05 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Trương Văn H, sinh ngày 29 tháng 5 năm 1991 tại huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Khu D, xã B, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Đảng phái: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Văn C, sinh năm 1961 và bà Trương Thị L, sinh năm 1963; Vợ, con: Chưa có;

- Tiền án: 02

  • + Tại Bản án số 44/2013/HSST ngày 30 tháng 9 năm 2013, TAND huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ xử phạt Trương Văn H 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản".
  • + Tại Bản án số 48/2015/HSST ngày 13 tháng 5 năm 2015, TAND tỉnh Sơn La xử phạt Trương Văn H 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tổng hợp với hình phạt của Bản án số 44/2013/HSST ngày 30 tháng 9 năm 2013, TAND huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ buộc Trương Văn H phải chấp hành 09 năm tù. H đã chấp hành xong bản án ngày 09 tháng 5 năm 2022.

- Tiền sự: Không

- Nhân thân: Tại Quyết định số 1345/QĐ-UBND ngày 09 tháng 7 năm 2009 UBND quận H, thành phố Hà Nội áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trương Văn H tại Trung tâm giáp dục lao động xã hội số 01 trong thời hạn 24 tháng. H đã chấp hành xong ngày 02 tháng 7 năm 2011.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 16 tháng 4 năm 2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh P. Có mặt

2. Họ và tên Vũ Đức H1, sinh ngày 10 tháng 4 năm 1985 tại huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; Nơi ĐKHKTT: Khu T, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; Chỗ ở hiện nay: Thôn Đ, xã Đ, huyện V, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Đảng phái: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Đức H2, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1959; Vợ Nguyễn Thị T, sinh năm 1987 và có 03 con, (Con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2019);

- Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 13 tháng 4 năm 2024, chuyển tạm giam ngày 16 tháng 4 năm 2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam – Công an tỉnh P. Có mặt

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Anh Nguyễn Văn H4, sinh năm 1985; nơi cư trú: Khu V, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; (Có mặt)
  2. Ông Vũ Đức H2, sinh năm 1960; nơi cư trú: Khu T, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 19 giờ 00 phút ngày 13/4/2024, tổ công tác phòng chống ma túy thuộc Công an huyện Đ đang làm nhiệm vụ tại khu T, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ phát hiện Vũ Đức H1, sinh năm 1985 ở khu T, thị trấn Đ, huyện Đ có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra. Tại đây, H1 tự giác giao nộp 02 gói trong đó 01 gói có đặc điểm gói ngoài bằng mảnh nilon màu đen; 01 gói có đặc điểm gói ngoài bằng mảnh giấy bạc một mặt màu vàng, một mặt màu trắng bên trong 02 gói giấy đều chứa chất bột cục màu trắng. H1 cất giấu 02 gói ma túy này vào trong túi quần sau bên trái nhằm mục đích để bán cho người khác kiếm lời. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với H1, niêm phong 02 gói giấy bên trong chứa chất bột, cục màu trắng gửi giám định. Ngoài ra còn tạm giữ của H1: 01 điện thoại di động Vivo Y21s lắp sim số 0355.055.333; 01 xe mô tô Honda Blade gắn biển số 19E1-372.74;

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Đ đã ra Quyết định trưng cầu giám định, quyết định trưng cầu Phòng K - Công an tỉnh P giám định ma túy đối với chất bột cục màu trắng chứa trong 02 gói nhỏ thu giữ được.

Tại bản kết luận giám định số 531 ngày 16/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh P kết luận:

“Chất bột, cục màu trắng chứa bên trong 01 gói nilon và 01 gói giấy gửi đến giám định có tổng khối lượng là 0,133 gam (không phảy một ba ba gam) là ma túy, loại Heroine (H), có tên khoa học là D, được qui định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất”

H5 lại đối tượng giám định: 0,104 gam chất bột, cục màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định, được niêm phong, dán kín trong 01 túi niêm phong, bên ngoài túi niêm phong có 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh P và các chữ ký của các thành phần liên quan tại các mép dán.

Ngày 14/4/2024, Cơ quan điều tra đã ra lệnh và tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Vũ Đức H1 tại khu T, thị trấn Đ, huyện Đ. Kết quả khám xét không phát hiện thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Về nguồn gốc số ma túy Vũ Đức H1 tàng trữ và bị bắt quả tang, H1 khai nhận mua của Trương Văn H sinh năm 1991 ở khu D, xã B, huyện Đ.

Cơ quan điều tra Công an huyện Đ đã ra lệnh và tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Trương Văn H. Kết quả khám xét không phát hiện thu giữ đồ vật, tài liệu gì. Tại cơ quan điều tra, Trương Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi mua bán trái phép chất ma túy như sau: Trong ngày 13/4/2024, Trương Văn H đã 02 lần bán trái phép chất ma túy cho Vũ Đức H1 và Nguyễn Văn H4 cụ thể:

Lần 1, bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Văn H4: Khoảng 12 giờ ngày 13/4/2024 do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Nguyễn Văn H4 sử dụng điện thoại di động Oppo lắp sim số 0385.396.160 gọi đến số điện thoại 0378.990.xxx lắp trên điện thoại di động Nokia 105 của Trương Văn H để hỏi mua 200.000 đồng ma túy (Heroine). Trương Văn H đồng ý và hẹn Nguyễn Văn H4 đi đến nhà mình tại khu D, xã B đưa tiền và chở Trương Văn H đi mua ma túy. Sau đó Nguyễn Văn H4 đi đến cổng nhà Trương Văn H và đưa cho Trương Văn H 200.000 đồng. Sau khi cầm tiền, Trương Văn H chỉ đường để Nguyễn Văn H4 chở mình đi đến khu vực cổng nhà máy X thuộc huyện Y, tỉnh Yên Bái. Khi đến nơi Trương Văn H xuống xe rồi bảo Nguyễn Văn H4 đứng đợi. Một lúc sau, Trương Văn H quay lại rồi cả hai cùng đi về hướng Đ. Khi đến cổng nhà mình thì Trương Văn H bảo Nguyễn Văn H4 dừng lại rồi xuống xe lấy gói ma túy vừa mua được, sau đó mở ra tách lấy một phần Heroine trong gói có đặc điểm gói bằng mảnh nilon màu đen, cất vào trong người rồi gói lại như cũ đưa cho Nguyễn Văn H4. Sau đó Trương Văn H một mình sử dụng hết số ma túy trên cho bản thân ở ven đường QL70 rồi đi về nhà.

Lần 2, Trương Văn H bán ma túy cho Vũ Đức H1:

Khoảng 16 giờ ngày 13/4/2024,Vũ Đức H1 sử dụng điện thoại di động Vivo Y21s lắp sim số 0355.055.333 gọi đến số điện thoại 0378.990.xxx của Trương Văn H để hỏi mua 120.000 đồng ma túy Heroine. H đồng ý và bảo H1 đi đến nhà đưa tiền và chở H đi mua ma túy. H1 điều khiển xe mô tô Honda Blade gắn biển số 19E1-372.74 đi đến nhà H ở khu D, xã B đón H. Trên đường đi H1 đưa cho H 120.000 đồng gồm nhiều tờ tiền có mệnh giá khác nhau. H chỉ đường cho H1 điều khiển xe mô tô chở H đến khu vực cổng Công ty X1, thuộc huyện Y, tỉnh Yên Bái. Khi đến nơi H xuống xe rồi bảo H1 đứng đợi, khoảng 5 phút sau H quay lại bảo H1 điều khiển xe mô tô đi về Đ. Trên đường về, H mở gói ma túy có đặc điểm gói ngoài bằng mảnh nilon màu đen vừa mua được, tự tách lấy một phần cất vào trong người rồi gói lại như cũ. Khi đến đoạn đường Quốc lộ 70 gần nhà H, H bảo H1 dừng lại. H xuống xe đưa cho H1 01 gói nhỏ có đặc điểm gói ngoài bằng mảnh nilon màu đen. Sau đó H đi bộ đến ven đường và sử dụng hết số ma túy Heroine trên cho bản thân. Vũ Đức H1 điều khiển xe mô tô mang theo số ma túy vừa mua được của H đến đồi cây ven đường ở xã P, huyện Đ. H1 tách một phần ma túy sử dụng cho bản thân, phần còn lại H1 chia thành 02 gói tàng trữ với mục đích để bán và đã bị Cơ quan điều tra- Công an huyện Đ phát hiện bắt giữ quả tang như đã nêu trên.

Về nguồn gốc số ma túy Trương Văn H bán cho Nguyễn Văn H4 và Vũ Đức H1, H4 khai đều mua của một người đàn ông tên “T1” tại khu vực cổng nhà máy X, tỉnh Yên Bái nhưng không rõ họ tên đệm, năm sinh, địa chỉ cụ thể như thế nào.

Tại cơ quan điều tra, anh Nguyễn Văn H4 cũng thừa nhận toàn bộ hành vi vi phạm pháp luật như sau: Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Nguyễn Văn H4 đã gọi điện cho Trương Văn H để hỏi mua ma túy sử dụng cho bản thân với giá là 200.000đ, Trương Văn H đã đồng ý như nội dung lời khai nêu trên. Sau khi mua được ma túy của Trương Văn H, Nguyễn Văn H4 mang đến đoạn đường vắng thuộc xã T và sử dụng một phần ma túy cho bản thân, phần còn lại Nguyễn Văn H4 bao gói như cũ rồi đi về nhà. Đến 07 giờ ngày 14/4/2024, Nguyễn Văn H4 mang số ma túy còn lại đến khu T, thị trấn Đ, huyện Đ và sử dụng hết cho bản thân. Khi Nguyễn Văn H4 vừa sử dụng xong thì bị Tổ công tác của Công an huyện Đ phát hiện và lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, thu giữ của Nguyễn Văn H4 01 điện thoại di động OppoF9 lắp sim số 0385.396.160. Qúa trình làm việc đã tiến hành kiểm tra chất ma túy trong cơ thể người đối với Nguyễn Văn H4, qua kiểm tra xác định H4 dương tính với chất ma túy (morphin).

Vật chứng của vụ án: 01 điện thoại di động Nokia 105 lắp sim số 0378.990.643 của Trương Văn H; 01 điện thoại di động Vivo Y21s lắp sim số 0355.055.333 và 01 xe mô tô Honda Blade gắn biển số 19E1-372.74 của Vũ Đức H1; 01 điện thoại di động Oppo F9 lắp sim số 0385.396.160 của Nguyễn Văn H4; 01 bì niêm phong mã số PS3A068905, số 531/KL-KTHS của Phòng K - Công an tỉnh P chứa 0,104 gam Heroine còn lại sau giám định. Toàn bộ vật chứng của vụ án Cơ quan điều tra- Công an huyện Đ đã chuyển đến kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đoan Hùng.

Tại bản cáo trạng số: 22/CT-VKSĐH ngày 26/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ đã truy tố bị cáo Trương Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b,q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Vũ Đức H1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Tuyên bố các bị cáo Trương Văn H, Vũ Đức H1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

  • + Căn cứ điểm b,q khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trương Văn H từ 09 năm đến 09 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 16/4/2024.
  • + Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Đức H1 từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù.Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 13/4/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Trương Văn H và Vũ Đức H1.

  • + Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự, khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
    • - Tịch thu để tiêu hủy: 01 túi niêm phong mã số PS3A 068905, kèm theo bản Kết luận giám định số 531/KL-KTHS, ngày 16/4/2024 của Phòng K - Công an tỉnh P bên trong chứa 0,104 gam Heroine còn lại sau giám định; 01 sim số 0378.990.643 của Trương Văn H; 01 sim số 0355.055.333 của Vũ Đức H1; 01 sim số 0385.396.160 của Nguyễn Văn H4
    • - Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động Nokia 105 của Trương Văn H; 01 điện thoại di động Vivo Y21s của Vũ Đức H1; 01 điện thoại di động OPPOF9 của anh Nguyễn Văn H4.
    • - Trả lại 01 xe mô tô Honda Blade gắn biển số 19E1-372.74 cho ông Vũ Đức H2.
    • - Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 320.000đ của Trương Văn H thu được từ hành vi mua bán ma túy.
  • + Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 135; Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Trương Văn H và Vũ Đức H1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).

Các bị cáo không tranh luận gì, thừa nhận và ăn năn hối hận với hành vi phạm tội của bản thân.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng hình sự: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Cơ quan điều tra - Công an huyện Đ; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định pháp luật.

[2]. Về căn cứ buộc tội: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được và các tài liệu khác có trong hồ sơ, nên có đủ cơ sở để kết luận: Trong ngày 13/4/2024, Trương Văn H đã 02 lần bán trái phép chất ma túy cho Vũ Đức H1 và Nguyễn Văn H4 với mục đích được hưởng lợi một phần ma túy để sử dụng cho bản thân, cụ thể:

Khoảng 12 giờ ngày 13/4/2024 tại khu D, xã B, huyện Đ, Trương Văn H đã 01 lần bán trái phép chất ma túy Heroine cho Nguyễn Văn H4 sinh năm 1985 ở khu V, xã H, huyện Đ thu 200.000 đồng, sau khi mua được ma túy Nguyễn Văn H4 đã sử dụng một mình hết số ma túy đã mua, nên không xác định được khối lượng cụ thể.

Khoảng 16 giờ cùng ngày Trương Văn H còn 01 lần bán trái phép chất ma túy Heroine cho Vũ Đức H1 sinh năm 1985 ở khu T, thị trấn Đ, huyện Đ.

Khoảng 19 giờ, ngày 13 tháng 4 năm 2024, sau khi Vũ Đức H1 mua được ma túy Heroine của Trương Văn H, H1 đã sử dụng một phần cho bản thân, phần còn lại là 0,133 gam Heroine, H1 tàng trữ nhằm mục đích để bán cho người khác nhưng chưa kịp bán cho ai thì bị Tổ công tác của Công an huyện Đ phát hiện và thu giữ tại khu T, thị trấn Đ, huyện Đ.

Quá trình xác minh nhân thân của bị cáo Trương Văn H, tại Bản án số 48/2015/HSST ngày 13/5/2015 của TAND tỉnh Sơn La xét xử và tuyên phạt Trương Văn H 08 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm h khoản 2 điều 194 BLHS, tại bản án này đã xác định H tái phạm chưa được xóa án tích. Nên lần phạm tội này của H là tái phạm nguy hiểm. Trong ngày 13/4/2024 Trương Văn H đã bán trái phép ma túy cho Nguyễn Văn H4 01 lần và Vũ Đức H1 01 lần. Do vậy, hành vi của Trương Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý quy định tại điểm b, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Hành vi nêu trên của Vũ Đức H1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Điều 251 BLHS quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

......

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

......

q, Tái phạm nguy hiểm.”

Do vậy, Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng đối với các bị cáo Trương Văn H, Vũ Đức H1 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Về tính chất của hành vi phạm tội: Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý, sử dụng chất ma túy của nhà nước, góp phần làm lan truyền tệ nạn nghiện hút ma túy; gây ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội. Hành vi vi phạm của các bị cáo Vũ Đức H1 thuộc trường hợp tội phạm nghiêm trọng, Trương Văn H thuộc trường hợp tội phạm rất nghiêm trọng.

[4]. Về nhân thân: Bị cáo Vũ Đức H1 chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu. Bị cáo Trương Văn H có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị Tòa án xét xử về hành vi phạm tội.

[5]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Vũ Đức H1, Trương Văn H đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Bị cáo Trương Văn H có 02 tiền án chưa được xóa án tích nay lại phạm tội mới. Vì vậy, lần phạm tội này của H thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, tuy nhiên đã áp dụng là tình tiết định khung hình phạt nên không được coi là tình tiết tăng nặng.

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo Vũ Đức H1, Trương Văn H đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; bị cáo Trương Văn H có bố đẻ là thương binh hạng 4/4 nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Căn cứ tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo, trên cơ sở để phục vụ công tác đấu tranh chống, phòng ngừa chung tội phạm và tạo điều kiện cho các bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm, cần chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là áp dụng hình phạt tù với mức đủ để các bị cáo tỉnh ngộ, sớm cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Kết quả xác minh cho thấy các bị cáo Trương Văn H, Vũ Đức H1 không có nghề nghiệp ổn định và không có tài sản riêng có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[7]. Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với số ma túy cùng toàn bộ bao gói của Phòng K- Công an tỉnh P gửi trả sau giám định là vật cấm lưu hành nên sẽ tịch thu để tiêu hủy.
  • - Đối với các sim số điện thoại của bị cáo Vũ Đức H1 và Trương Văn H, anh Nguyễn Văn H4 không còn giá trị sử dụng cần tịch thu để tiêu hủy.
  • - Đối với điện thoại di động thu giữ của bị cáo Trương Văn H, Vũ Đức H1, Nguyễn Văn H4 là vật chứng sử dụng làm công cụ phương tiện phạm tội, sử dụng thực hiện hành vi vi phạm pháp luật nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.
  • - Đối với 01 chiếc xe mô tô Honda Blade gắn biển số 19E1-372.74 bị cáo H1 mượn của ông Vũ Đức H2, ông H2 không biết việc bị cáo sử dụng xe liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho ông H2 là đúng quy định pháp luật.
  • - Đối với số tiền Trương Văn H thu được từ hành vi mua bán ma túy cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.

[7]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Trương Văn H, Vũ Đức H1 phải nộp theo quy định của pháp luật.

[8]. Các nội dung khác trong vụ án:

Đối với người đàn ông tên “T1” không rõ họ tên đệm, năm sinh, địa chỉ cụ thể tại khu vực cổng nhà máy X, tỉnh Yên Bái. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, ngoài lời khai của Trương Văn H, không có chứng cứ nào khác nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Đ không có căn cứ để xử lý là đúng quy định pháp luật.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Trương Văn H, Vũ Đức H1, Nguyễn Văn H4 Cơ quan Cảnh sát điều tra đã chuyển hồ sơ đến Công an huyện Đ đề nghị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này là đúng quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b,q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với Trương Văn H.

Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với Vũ Đức H1.

Căn cứ điểm khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Căn cứ khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; Điều 135; Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trương Văn H, Vũ Đức H1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt:
    • - Xử phạt bị cáo Trương Văn H 09 (Chín) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 16/4/2024.
    • - Xử phạt bị cáo Vũ Đức H1 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 13/4/2024.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Trương Văn H, Vũ Đức H1.

  3. Về xử lý vật chứng:
    • - Tịch thu để tiêu hủy: 01 bì niêm phong mã số PS3A 068905, số 531/KL-KTHS của Phòng K - Công an tỉnh P bên trong chứa 0,104 gam Heroine còn lại sau giám định; 01 sim số 0378.990.643 của Trương Văn H; 01 sim số 0355.055.333 của Vũ Đức H1; 01 sim số 0385.396.160 của Nguyễn Văn H4
    • - Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động Nokia 105 màu đen, đã hỏng vỏ của Trương Văn H; 01 điện thoại di động Vivo Y21s vỏ màu xanh, đã cũ của Vũ Đức H1; 01 điện thoại di động OPPOF9,vỏ màu tím của anh Nguyễn Văn H4
    • - Trả lại 01 xe mô tô Honda Blade màu đen, đã cũ gắn biển số 19E1-372.74 cho ông Vũ Đức H2.
    • (Toàn bộ vật chứng được miêu tả cụ thể theo quyết định chuyển vật chứng ngày 26/6/2024; Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đoan Hùng, ngày 27/6/2024).
    • - Tịch thu số tiền 320.000 đồng (Ba trăm hai mươi nghìn đồng) của Trương Văn H thu được từ hành vi mua bán ma túy.
  4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trương Văn H, Vũ Đức H1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - VKSND huyện Đoan Hùng;
  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - Công an huyện Đoan Hùng;
  • - Chi cục THADS huyện Đoan Hùng;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Phú Thọ;
  • - Lưu: Hồ sơ, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)




Bùi Thị Duyên

9

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2024/HS-ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 23/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger