Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN AN MINH

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2024/HS-ST

Ngày: 17-4-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Hoa

Bà Đoàn Thị Huệ

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đông Hải - Kiểm sát viên

Ngày 17 tháng 4 năm 2024 tại Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 21/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn S, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1965 tại A, Kiên Giang; CCCD số [...]; Nơi cư trú: ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 3/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn Á (đã chết) và bà Đoàn Thị H (Hồ) (đã chết); vợ Dương Thị K; có 05 người con, lớn nhất sinh năm 1980, nhỏ nhất sinh năm 1988; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo hiện đang tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Tiêu Tường T - Văn phòng L thuộc Đoàn Luật sư K1. Địa chỉ: G H, thành phố R, tỉnh Kiên Giang (có mặt)

Bị hại: Anh Trần Quốc Đ, sinh năm 1987. Địa chỉ: ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào đêm 20/7/2023, Trần Quốc Đ uống rượu cùng với bạn tại nhà riêng của mình thuộc ấp T, xã Đ, huyện A, Kiên Giang. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày thì nghỉ uống, Đ nhớ đến việc T1 là con riêng của vợ ông Nguyễn Văn S nhà ở cùng ấp gần với nhà của Đ nợ tiền Đ nhưng không trả. Lúc này, Đ cầm hung khí đi đến nhà ông S để tìm T1, khi đến nhà ông S nhìn thấy cổng rào đã khóa, bên trong nhà còn người thức nên Đ gọi người nhà ông S đi ra để nói chuyện, Đ đứng bên ngoài cổng cự cải nhau với những người bên trong. Trong lúc cự cải, Đ đã cầm hung khí dao tự chế bằng kim loại màu trắng dài 50cm chặt vào cửa cổng của ông S làm gãy cán dao. Sau đó Đ bỏ về, khi vừa đi được vài mét thì ông S từ trong nhà cầm cây phản (dụng cụ làm cỏ) dài khoảng 70cm bằng kim loại, lưỡi phản đã bị rỉ sét, cán phản bằng gỗ tròn, nơi tiếp giáp giữa cán và lưỡi đã bị rỉ sét, cán phản bị gãy, ông S cầm lưỡi phản chạy vòng đường cửa sau đi đến chỗ của Đ, chém một cái về phía Đ, Đ đưa tay trái lên đỡ thì bị ông S chém trúng vào khuỷu tay trái, ông S tiếp tục chém thêm cái thứ hai từ trên xuống, Đ đưa tay trái lên đở thì bị ông S chém trúng vào bàn tay, lúc này Đ chụp tay cầm hung khí của ông S và đạp ông S té ngã ngửa xuống đất. Vừa lúc này, Đỗ Quí N là bạn của Đ đi đến nắm cổ áo của ông S lôi đi định đánh ông S thì được Đ can ngăn, ông S bỏ đi vào nhà và ném lưởi phản bỏ (không nhớ là ném bỏ ở đâu). Anh Đ thì được anh N đưa đến Cơ sở y tế điều trị thương tích. Ngày 27/7/2023, Trần Quốc Đ có đơn yêu cầu gửi Cơ quan điều tra yêu cầu xử lý hình sự và giám định thương tích.

Ngày 21/8/2023, Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định trưng cầu giám định số: 81 Trưng cầu Trung tâm P giám định thương tích và vật gây thương tích đối với Trần Quốc Đ. Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 664/KLTTCT-PY ngày 31/8/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh P, kết luận:

1. Các kết quả chính :

- Kết quả khám giám định:

+ Vết thương vùng khuỷu trái, gây thấu khớp khuỷu, đứt gân duỗi chung các ngón tay trái đã được phẫu thuật khâu bao khớp khuỷu, gân duỗi chung các ngón tay trái. Hiện tại tổn thương nhánh dây thần kinh trụ bên trái và còn hạn chế chức năng khớp khuỷu.

+ Sẹo phần mềm vùng cẳng tay trái.

+ Vết thương ngón III bàn tay trái, gãy đầu xa đốt bàn ngón III đã được phẫu thuật xuyên đinh kết hợp xương. Hiện tại, còn hạn chế vận động ngón III (do còn dụng cụ kết hợp xương).

- Kết quả cận lâm sàng:

+ Xquang khuỷu tay trái thẳng, nghiêng: Không thấy hình ảnh bất thường.

+ Xquang cẳng tay trái thẳng, nghiêng: Không thấy hình ảnh bất thường.

+ Xquang cẳng tay trái thẳng, nghiêng: Không thấy hình ảnh bất thường.

+ Xquang bàn tay trái thẳng, nghiêng: Gãy đầu xa đốt bàn ngón III, còn dụng cụ kết hợp xương.

+ Kết quả đo điện thần kinh cơ tay trái: Tổn thương nhánh dây thần kinh trụ bên trái. Vị trí tổn thương tương ứng vết thương tại khuỷu tay bên trái.

2. Kết luận:

2.1. Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Quốc Đ tại thời điểm giám định là: 29% (Hai mươi chín phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

2.2. Vật gây thương tích: Vật có cạnh sắc.

2.3. Về thời điểm hình thành thương tích: Hồ sơ cung cấp không đủ cơ sở để xác định thời điểm hình thành thương tích.

2.4. Về cơ chế hính thành thương tích:

- Thương tích ở vùng khuỷu tay trái và cẳng tay trái do vật có cạnh sắc tác động theo hướng trái phải so với trục giải phẫu của cơ thể.

- Thương tích ở ngón III bàn tay trái do vật có cạnh sắc tác động theo hướng từ sau ra trước so với trục giải phẫu bàn tay trái của cơ thể.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 (một) khúc gỗ (cán phản) dài 22cm bị bể một đầu nơi tiếp giáp với lưỡi phản có 01 khâu kim loại màu trắng; 01 (một) lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 42,5cm, mũi dao bầu nhọn; 01 (một) cán gỗ (loại cán dao) dài 16,5cm; 01 (một) áo thun trắng áo thun màu trắng, ngắn tay (áo thun lỗ), phía sau có chữ GAP.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Trần Quốc Đ yêu cầu bị can Nguyễn Văn S bồi thường các khoản chi phí điều trị thương tích, với tổng số tiền là 80.000.000 đồng, bị can Nguyễn Văn S đã bồi thường xong.

Tại Cáo trạng số 02/CT-VKS-AM ngày 04-01-2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang truy tố Nguyễn Văn Sáng về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa,

- Kiểm sát viên kết luận bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội cố ý gây thương tích và đề nghị: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S từ 09 đến 12 tháng tù; về trách nhiệm dân sự, bị cáo đã bồi thường xong, bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên đề nghị không xem xét; xử lý vật chứng theo quy định.

- Bị cáo trình bày: Bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng truy tố. Về trách nhiệm dân sự đã bồi thường xong cho bị hại 80.000.000 đồng. Trong lời nói sau cùng bị cáo trình bày đã biết lỗi, xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xin cho bị cáo được hưởng án treo.

- Người bào chữa: thống nhất với Kiểm sát viên về tội danh, các tình tiết giảm nhẹ. Tuy nhiên, hình phạt đối với bị cáo là nghiêm khắc, đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng án treo. Bởi: bị cáo phạm tội xuất phát từ việc bị hại đã đến nhà của bị cáo; việc phạm tội và sử dụng hung khí là nhất thời, không chuẩn bị trước; sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, bồi thường đầy đủ cho bị hại và được bị hại xin giảm nhẹ; bị cáo có nhân thân tốt, tuổi đã cao nên việc cách ly là không cần thiết.

- Bị hại trình bày: đã được bồi thường đầy đủ với số tiền 80 triệu đồng, không yêu cầu gì thêm. Về trách nhiệm hình sự xin giảm nhẹ cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện A, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội, tội danh: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó có đủ căn cứ để kết luận:

[2.1] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 23 giờ 30 phút, ngày 20/7/2023 tại ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang do bực tức việc anh Đ đến nhà đòi nợ con riêng của vợ bị cáo, sau đó xảy ra cự cãi và Đ cầm dao tự chế chặt vào cổng nhà của bị cáo nên bị cáo cầm cây phản có cán bằng gỗ dài 54cm, lưỡi bằng kim loại dài khoảng 70cm chém trúng vào khuỷa tay trái, cẳng tay trái và bàn tay trái của anh Đ, hậu quả làm cho anh Đ bị thương. Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 664/KLTTCT-PY ngày 31/8/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh P kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Đ do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 29%.

[2.2] Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức được việc dùng cây phản chém trúng vào người khác sẽ gây thương tích nhưng bị cáo vẫn thực hiện nên thuộc trường hợp phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp; công cụ bị cáo dùng để gây thương tích cho bị hại là cây phản có cán bằng gỗ dài 54cm, lưỡi bằng kim loại dài khoảng 70cm, được xác định là hung khí nguy hiểm, đây là tình tiết định tội theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Do bị hại bị tổn thương cơ thể với tỷ lệ 29% nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự với tình tiết định khung tại điểm a khoản 1 Điều này. Do đó, Viện kiểm sát truy tố và kết luận bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

[3] Về hình phạt:

[3.1] Về tình tiết tăng nặng, tính chất của vụ án: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của bị hại. Sức khỏe là vốn quý giá của con người, không ai được quyền xâm phạm một cách trái pháp luật, chỉ vì tức giận từ hành vi trái pháp luật của bị hại gây ra mà bị cáo đã lựa chọn cách xử sự không phù hợp nên đã dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bị hại. Hành vi của bị cáo không chỉ gây tổn thương sức khỏe cho bị hại mà còn gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương. Do đó, HĐXX cần xử phạt bị cáo hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội bị cáo đã gây ra, nhằm răn đe bị cáo và giáo dục mọi người có ý thức và lựa chọn cách xử sự phù hợp pháp luật khi có mâu thuẫn xảy ra.

[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho bị hại; bị hại xin xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, HĐXX xác định bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

[4.3] Về quyết định hình phạt, HĐXX thấy bị cáo phạm tội nghiêm trọng có khung hình phạt từ 02 năm đến 06 năm tù, gây mất an ninh trật tự cần áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự để xử phạt bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm răn đe và phòng ngừa chung. Khi quyết định hình phạt thấy bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo có nhân thân tốt thể hiện trước khi phạm tội chưa từng vi phạm pháp luật, có nơi cư trú rõ ràng; bị cáo đã bồi thường đầy đủ thiệt hại theo yêu cầu của bị hại và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên việc không buộc bị cáo chấp hành hình phạt tập trung không gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự. HĐXX thống nhất áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[4] Về trách nhiệm dân sự, bị cáo đã bồi thường cho bị hại chi phí điều trị thương tích và các khoản khác tổng cộng 80.000.000 đồng, bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về xử lý vật chứng: 01 (Một) khúc gỗ (cán phản) dài 22cm bị bể một đầu nơi tiếp giáp với lưỡi phản có 01 khâu kim loại màu trắng; 01 (một) lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 42,5cm, mũi dao bầu nhọn; 01 (một) cán gỗ (loại cán dao) dài 16,5cm; 01 (một) áo thun trắng áo thun màu trắng, ngắn tay (áo thun lỗ), phía sau có chữ GAP là công cụ bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội và có liên quan đến vụ án, không còn giá trị sử dụng nên áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu, tiêu hủy.

[6] Về án phí, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội Cố ý gây thương tích.

    Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 02 (hai) năm tù về tội Cố ý gây thương tích, cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm kể từ ngày tuyên án (ngày 17-4-2024).

    Giao cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang giám sát, giáo dục người được hưởng án treo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Về trách nhiệm dân sự, không xem xét.
  3. Về xử lý vật chứng: căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tịch thu, tiêu hủy: 01 (Một) khúc gỗ (cán phản) dài 22cm bị bể một đầu nơi tiếp giáp với lưỡi phản có 01 khâu kim loại màu trắng; 01 (một) lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 42,5cm, mũi dao bầu nhọn; 01 (một) cán gỗ (loại cán dao) dài 16,5cm; 01 (một) áo thun trắng áo thun màu trắng, ngắn tay (áo thun lỗ), phía sau có chữ GAP (Hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện A đang quản lý theo Quyết định chuyển giao vật chứng số 01/QĐ-VKS-AM ngày 02-01-2024 của VKSND huyện An Minh).
  4. Về án phí, căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, Bị cáo Nguyễn Văn S phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 17-4-2024).

Nơi nhận:

  • - VKS huyện, tỉnh;
  • - Tòa án tỉnh KG;
  • - Công an huyện, tỉnh;
  • - Cơ quan THAHS huyện AM;
  • - Cơ quan THADS huyện AM;
  • - Bị cáo; Những người tham gia tố tụng;
  • - Sở TP tỉnh KG;
  • - UBND X. Đông Thạnh, H. An Minh, KG;
  • - Lưu Văn phòng, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Chí Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2024/HS-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 23/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn S phạm tội Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger