Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN
TỈNH PHÚ THỌ
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2024/HNGĐ – ST

Ngày: 16 tháng 9 năm 2024

V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tân Khải Nhân;
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thìn và ông Hà Đức Trưởng;
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Hiếu– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ;
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Quốc H – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 48/2024/TLST- HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/QĐXXST – HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 31/2024/QĐST – HNGĐ ngày 06/9/2024.

Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị D, sinh ngày 08/3/1993 (có đơn xin xét xử vắng mặt);

Địa chỉ: Khu C, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ;

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Nguyên đơn: Ông Bùi Đức D1 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P (có mặt);

Bị đơn: Anh Đinh Ngọc T, sinh ngày 25/02/1994 (vắng mặt);

Địa chỉ: Khu C, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ;

Nơi ở hiện tại: Khu M, xã K, huyện T, tỉnh Phú Thọ;

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Bị đơn: Ông Lã Thành C – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

[1]. Tại đơn khởi kiện đề ngày 24/6/2024 và những lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn chị Hoàng Thị D trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ngày 09/9/2013, chị và anh Đinh Ngọc T đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng sau đó xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên dẫn đến chị và anh T đã ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Hiện tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, cho chị ly hôn với anh T.

Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng anh chị có 02 (hai) con chung là cháu: Đinh Thị Lan A, sinh ngày 13/9/2013 và cháu Đinh Thị Ái V, sinh ngày 25/5/2018. Các cháu đang sống cùng với chị, khi ly hôn, chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung; không yêu cầu anh T phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[2]. Về phía bị đơn anh Đinh Ngọc T: Trong quá trình giải quyết vụ án, anh T không có mặt nên chưa có lời trình bày.

[3]. Tại biên bản lấy lời khai ngày 12/8/2024, ông Đinh Văn Đ là bố đẻ của anh T trình bày: Hiện anh T đang ở cùng với gia đình tại khu M, xã K, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Việc anh T, chị D ly hôn do anh, chị tự quyết định, về con chung đề nghị giao cho chị D chăm sóc, nuôi dưỡng, về tài sản, công sức đóng góp của vợ chồng đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

[3]. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, Nguyên đơn đã chấp hành là đúng quy định của pháp luật;

Bị đơn chấp hành chưa đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung giải quyết vụ án: Chị D và anh T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn. Trong cuộc sống chung vợ chồng hai bên không hòa thuận, hạnh phúc. Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị D và anh T là trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị D. Về con chung: đề nghị áp dụng các Điều 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình giao cháu Đinh Thị Lan A và cháu Đinh Thị Ái V cho chị D được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, anh T không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con vì chị D không yêu cầu. Đối với quan hệ về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp, Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này. Về án phí dân sự, đề nghị miễn án phí ly hôn sơ thẩm cho chị D.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về trình tự, thủ tục tố tụng: Chị D có đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ cho chị ly hôn với anh T, căn cứ khoản 1, Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh T, tuy nhiên anh T cố ý vắng mặt. Vì vậy, Tòa án xác định đây là vụ án không thể tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1, Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự và quyết định đưa vụ án ra xét xử là phù hợp.

Tại phiên tòa ngày hôm nay, anh T vắng mặt không có lý do, chị D xin xét xử vắng mặt, căn cứ vào, khoản 1, khoản 3, Điều 228, điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn xét xử vắng mặt Nguyên đơn, Bị đơn là đúng quy định của pháp luật.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Ngày 09/9/2013, anh Đinh Ngọc T và chị Hoàng Thị D đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Quan hệ hôn nhân giữa hai bên được xác lập là hợp pháp. Trong quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn và chính quyền địa phương nơi đương sự cư trú xác định vợ chồng chị D, anh T tồn tại nhiều mâu thuẫn, hai bên đã ly thân.

Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị D, anh T đã đến mức trầm trọng, đời sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận việc yêu cầu xin ly hôn của chị D đối với anh T là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

[3]. Về con chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng anh, chị có 02 (hai) con chung là cháu: Đinh Thị Lan A, sinh ngày 13/9/2013 và cháu Đinh Thị Ái V, sinh ngày 25/5/2018. Khi ly hôn, chị D xin được nuôi con chung và không yêu cầu anh T thực hiện nghĩa vụ nuôi con.

Đối với yêu cầu này của chị D, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hiện các cháu đang sinh sống ổn định cùng chị D. Bên cạnh đó, Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ, tại chính quyền địa phương và các tổ chức đoàn thể nơi chị D, cư trú đều xác nhận chị D đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Bên cạnh đó, nguyện vọng của các cháu cũng muốn được ở cùng với chị D. Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án, anh T không có mặt, nên chưa có quan điểm về việc nuôi con, chăm sóc con chung.

Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin nuôi con của chị D là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Khi anh T, chị D có yêu cầu thay đổi người nuôi con, cấp dưỡng nuôi con thì anh, chị có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ, việc khác theo quy định của pháp luật.

[4]. Về tài sản, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh T vắng mặt tại Tòa án nên không có quan điểm trình bày. Căn cứ vào Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết về tài sản của vợ chồng trong vụ án này. Anh T, chị D có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ, việc khác theo quy định pháp luật.

[5]. Về án phí: Chị D là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại khu vực đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí ly hôn sơ thẩm.

[6]. Về quyền kháng cáo: A và chị D có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 và các Điều 57, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
  • Căn cứ khoản 1, Điều 28, điểm a, khoản 1, Điều 35, điểm a, khoản 1, Điều 39 khoản 4, Điều 147, khoản 1, khoản 3, Điều 228, điểm a,b, khoản 1 Điều 238 và khoản 1, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Căn cứ vào điểm đ, khoản 1, Điều 12, Điều 14, khoản 2, Điều 15 và điểm a, khoản 5, Điều 27 và Danh mục được ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hoàng Thị D được ly hôn với anh Đinh Ngọc T.
  2. Về con chung: Giao cháu Đinh Thị Lan A, sinh ngày 13/9/2013 và cháu Đinh Thị Ái V, sinh ngày 25/5/2018 cho chị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các cháu thành niên. Anh T không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung vì chị D không yêu cầu. Người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ đối với con chung không ai được ngăn cấm, cản trở.
  3. Về Tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Không xem xét, giải quyết trong vụ án này.
  4. Án phí dân sự sơ thẩm: Miễn toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm cho chị Hoàng Thị D.
  5. Về quyền kháng cáo: Chị D, anh T có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
  6. Trong trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì Người được thi hành án dân sự, Người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thi hành theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • VKSND huyện Tân Sơn;
  • THADS huyện Tân Sơn;
  • UBND xã Thu Cúc;
  • Các đương sự;
  • Lưu: HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Tân Khải Nhân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2024/HNGĐ – ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 23/2024/HNGĐ – ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger