|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH P Bản án số: 23/2024/HS-ST Ngày 16/8/2024. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH P
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Văn Côn.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phùng Thị Quý và ông Hà Đức Trưởng.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh P.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh P tham gia phiên tòa:
Ông Hoàng Quốc Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 22/TLST-HS ngày 24 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 08 năm 2024 đối với Bị cáo:
Họ và tên: Hoàng Văn B; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 23/05/2006.
Tính đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi 7 tháng 15 ngày.
Trú quán: Khu B, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ
Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12.
Con ông: Hoàng Văn H (đã chết) và bà: Hà Thị T, sinh năm 1982.
Đều sinh sống tại Khu B, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Vợ, Con: Chưa có.
Tiền án: Không.
Nhân thân (án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã xử lý kỷ luật):
Ngày 26/12/2022 bị Công an huyện T, Phú Thọ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác, đến nay chưa chấp hành.
Bị cáo hiện đang chấp hành lệnh cấm đi khỏi nơi trú (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo:
- Ông Lã Thành C – Trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P. (có mặt)
Bị hại:
- + Anh Hà Hữu B1, sinh năm 2008 (có mặt).
- Địa chỉ: Khu P, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại:
- Ông Bùi Đức D – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P. (có mặt)
Người đại diện hợp pháp của bị hại:
- + Anh Hà Văn B2, sinh năm 1985 (có mặt).
- Địa chỉ: Khu P, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1992.
- Địa chỉ: Phố K, thị trấn, huyện T, tỉnh Phú Thọ. (Có đơn xin xét xử vắng mặt);
- + Bà Hà Thị T, sinh năm 1982.
- Địa chỉ: Khu B, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. (có mặt)
- + Anh Hà Hải Đ, sinh năm 2009.
- Địa chỉ: Khu D, xã K, huyện T, tỉnh Phú Thọ. (Vắng mặt)
- + Anh Phùng Văn H1, sinh năm 1985.
- Địa chỉ: Khu I, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. (Vắng mặt)
- + Chị Nguyễn Thị Thu H2, sinh năm 2000.
- Địa chỉ: Phố K, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
- Về hành vi phạm tội của Bị cáo:
- Các vấn đề khác của vụ án:
- Về trích dẫn Cáo trạng của Viện kiểm sát:
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; điểm i, s khoản 1 Điều 51, điểm i khoản 1 Điều 52; Điều 91; khoản 1 Điều 101; Điều 65 của BLHS năm 2015;
- Xử phạt Bị cáo Hoàng Văn B từ 9 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là gấp đôi.
- Giao Bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ giám sát giáo dục trong thời gian chấp hành. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
- Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự. Hủy bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo.
- Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với Bị cáo B.
- Về vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Xác nhận, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã trả lại cho anh Hà Hữu B1 01 chiếc xe máy nhãn hiệu JPAN BKS: 19AV – 022.42 theo Biên bản về việc trả lại đồ vật, tài liệu ngày 07/07/2024. Đối với số tiền 2.100.000 đồng chị H2 giao nộp để phục vụ điều tra cần trả lại cho chị H2.
- Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận bị hại không có yêu cầu nên không tiến hành xem xét.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
- Phát biểu của Người bào chữa cho Bị cáo:
- Phát biểu của Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại:
- Bị cáo nói lời sau cùng:
Khoảng 07 giờ ngày 06/01/2024, Hoàng Văn B, sau khi chở Hà Hữu B1, từ khu nhà trọ tại xã T đến trường Trung học phổ thông T1, huyện T bằng xe máy nhãn hiệu JPAN màu đen bạc BKS 19AV-022.42 đăng ký xe tên Hà Hữu B1, để đi học. Đến cổng trường Hoàng Văn B có hỏi Hà Hữu B1 cho mượn xe máy để đi chơi, Hà Hữu B1 đồng ý. Sau đó Hoàng Văn B điều khiển xe đi đến quán internet tại của anh Nguyễn Văn K để chơi điện tử. Tại đây, sau khi chơi hết tiền Hoàng Văn B đặt vấn đề vay tiền anh K để chơi tiếp bằng cách cầm cố chiếc xe máy nhãn hiệu JPAN màu đen bạc BKS 19AV-022.42 của Hà Hữu B1, anh K đồng ý cầm cố xe với số tiền 1.300.000 đồng. Đến khoảng 11 giờ ngày 06/01/2024, do đã tiêu hết số tiền cầm cố xe nên Hoàng Văn B để lại đăng ký xe (có sẵn trong cốp xe) cho anh K rồi lấy xe đi về, anh K đồng ý. Trưa ngày 06/01/2024 Hoàng Văn B có gặp Hà Hữu B1 và nói là “Anh cắm xe em rồi” Hà Hữu B1 nói “Anh cố lấy ra cho em để chiều em về”.
Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, Hoàng Văn B tiếp tục mang xe máy trên đến quán anh K và cầm cố thêm 700.000 đồng để chơi điện tử. Sau khi chơi hết số tiền 700.000 đồng, khi ra về anh K yêu cầu Hoàng Văn B để lại xe máy, không cho mang về. Đến tối không thấy Hoàng Văn B trả xe máy cho mình, Hà Hữu B1 liên lạc không được nên đã gọi điện về cho bố đẻ là ông Hà Văn B2, nói chuyện về việc Hoàng Văn B đã cắm xe của mình.
Sau đó Hoàng Văn B có gọi điện cho ông Hà Văn B2 xin một hai ngày sau sẽ lấy xe về trả cho gia đình, ông B2 đồng ý. Đến sáng ngày 08/01/2024 Hoàng Văn B đến quán intenet nói với anh K là cho em lấy xe đi cầm cố chỗ khác lấy tiền trả anh, K đồng ý, rồi bảo vợ là chị Nguyễn Thị Thu H2, đi cùng B để lấy tiền Bằng nợ. Sau khi lấy được xe máy ra, Hoàng Văn B có nhờ bạn mình là Hà Hải Đ đang chơi ở quán internet và bảo Đ “em đi cùng bán chiếc xe cho anh” Đ biết không phải xe của B nhưng vẫn đồng ý rồi lên xe máy đi cùng, trên đường đi Hoàng Văn B nói với Đ “tí em giả làm chủ xe tên là Hà Hữu B1 người xóm P, xã L để chủ quán mua xe cho, tội đâu anh chịu” khi đi đến quán sửa xe máy của anh Phùng Văn H1. Đ nhận là xe của mình như B1 bảo rồi Đ bán chiếc xe máy trên cho anh H1 với số tiền 4.100.000 đồng. B1 nói với anh H1 là anh chuyển tiền đó vào tài khoản chị H2 cho bọn em. Sau khi trừ đi số tiền 2.100.000 đồng (gồm 2.000.000 đồng tiền nợ và 100.000 đồng tiền chơi internet và tiền mua nước tại quán của K). Còn lại số tiền 2.000.000 đồng Nguyễn Thị Thu H2 chuyển khoản lại vào tài khoản Hoàng Văn B, B rút tiền ra tiêu sài cá nhân hết.
Ngày 05/02/2024 ông Hà Văn B2 thấy B chưa trả xe máy cho gia đình nên có đơn trình báo Cơ quan CSĐT - Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ. Quá trình điều tra, xác minh Cơ quan CSĐT - Công an huyện T đã tạm giữ chiếc xe máy nhãn hiệu JPAN màu đen bạc, BKS: 19AV – 022.42. Ngày 06/03/2024 chị Nguyễn Thị Thu H2 tự nguyện giao nộp cho cơ quan CSĐT- Công an huyện T 2.100.000 đồng là tiền Bằng trả nợ cho anh K sau khi bán được xe để phục vụ điều tra giải quyết vụ án.
Trong quá trình điều tra, và tại phiên tòa ngày hôm nay Bị cáo đã khai nhận toàn bộ các hành vi chiếm đoạt tài sản của mình như đã nêu trên.
Ngày 20/02/2024 Cơ quan CSĐT - Công an huyện T ra Yêu cầu định giá tài sản số 132/YC-ĐĐTTH đề nghị Hội đồng định giá tài sản huyện T định giá đối với chiếc xe máy nhãn hiệu JPAN màu đen bạc, BKS: 19AV – 022.42. Tại bản Kết luận định giá tài sản số 03/KL-ĐGTS ngày 12/03/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện T xác định trị giá chiếc xe máy trên là 8.000.000đ (Tám triệu năm trăm nghìn đồng).
Ngày 05/04/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã có Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Khởi tố Bị cáo và ra Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Hoàng Văn B về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định điểm a khoản 1 tại Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Kiểm sát viên, Bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về các vấn đề nêu trên.
Tại Bản cáo trạng số: 24/CT – VKS - TS ngày 24/7/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Phú Thọ đã truy tố Bị cáo Hoàng Văn B về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 của BLHS năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Nhất trí với Bản cáo trạng truy tố Bị cáo và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt Bị cáo hình phạt ở mức thấp theo đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
Tại phiên tòa hôm nay, bị hại không còn yêu cầu gì khác và đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt, cho Bị cáo mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay Bị cáo, Bị hại, người bào chữa cho Bị cáo, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Bị hại, người đại diện hợp pháp cho bị hại và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Những chứng cứ xác định có tội:
Tại phiên toà hôm nay, Bị cáo Hoàng Văn B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Bản Cáo trạng đã nêu, thừa nhận nội dung Cáo trạng truy tố là đúng, không oan sai.
Lời khai nhận của Bị cáo thống nhất, phù hợp với lời khai của Bị hại, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy đã đủ cơ sở kết luận: Ngày 06/01/2024, Hoàng Văn b đã mượn xe máy hiệu JPAN, BKS 19AV- 022.42 của Hà Hữu B1 để đi chơi. Trong quá trình chơi do hết tiền nên đã cầm cố xe của anh Hà Hữu B1 cho anh Nguyễn Văn K với giá 2.000.000 đồng. Cùng ngày anh Hà Hữu B1 biết bị cáo đã cầm cố xe của mình, đã yêu cầu bị cáo trả xe nhưng bị cáo không trả.
Đến ngày 08/01/2024 Bị cáo đã đến quán internet của anh K xin lấy xe mang đi bán để lấy tiền trả cho anh K, anh đã đồng ý và bảo vợ là chị Nguyễn Thị Thu H2 đi cùng để lấy tiền. Sau đó, Bị cáo có rủ Hà Hải Đ là bạn của bị cáo cũng đang chơi tại quán đi bán xe cùng. Đ biết xe máy không phải của bị cáo. Trong quá trình di chuyển, B1 bảo Đ nhận Đ là chủ chiếc xe tên Hà Hữu B1, Đ đồng ý. Cả hai đến quán của anh Phùng Văn H1, tại đây Đ nhận mình tên Hà Hữu B1 nhà ở Khu P, L, T, Phú Thọ và thành công bán được xe máy nhãn hiệu JPAN, BKS 19AV- 022.42 với giá 4.100.000 đồng. Anh H1 đã chuyển số tiền trên vào tài khoản chị H2, sau khi đã trừ khoản nợ là 2.000.000 tiền cầm cố xe máy cùng đăng ký xe và 100.000 đồng tiền chơi internet chị H2 chuyển lại cho bị cáo 2.000.000 đồng. Số tiền này bị cáo đã tiêu sài cá nhân hết.
Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi 7 tháng 15 ngày, đã có đủ khả năng nhận thức và làm chủ hành vi, bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác nhưng vì mục đích vụ lợi nên vẫn cố ý thực hiện.
Như vậy, có đủ cơ sở xác định hành vi của Bị cáo Hoàng Văn B đã phạm vào tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 của BLHS năm 2015.
Điều 175. Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a, V, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;"
[3] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, lỗi của bị cáo là lỗi cố ý trực tiếp, hành vi của Bị cáo đã xâm phạm đến chế độ sở hữu tài sản của người khác là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ. Mặt khác gây mất trật tự trị an xã hội và bức xúc trong nhân dân. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vì mục đích tư lợi vẫn cố ý thực hiện. Do đó cần xử lý nghiêm khắc nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.
- - Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu ngày 26/12/2022 đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý gây thương tích” nhưng bị cáo chưa chấp hành.
- - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội khi bị hại Hà Hữu B1 mới 15 tuổi 8 tháng 11 ngày nên phải chịu 01 tình tiết tăng nặng “Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
- - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay Bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 điều 51 BLHS năm 2015.
Từ các nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử thấy: Hành vi phạm tội của Bị cáo tuy là ít nghiêm trọng nhưng Bị cáo có nhân thân xấu, ngày 26/12/2022 bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng chưa chấp hành đến nay vì mục đích tư lợi bất chấp hậu quả xấu gây ra cho xã hội mà bị cáo cố tình thực hiện hành vi phạm tội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, ảnh hưởng đến trật tự trị an trên địa bàn, thể hiện thái độ coi thường pháp luật, ham chơi, đua đòi. Do vậy cần áp dụng khoản 1 Điều 38 xử phạt Bị cáo hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội là phù hợp.
Về thời gian chấp hành hình phạt: hành vi phạm tội mà Bị cáo đã gây ra, nếu do người đã thành niên thực hiện, xem xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội, tình tiết giảm nhẹ, tăng năng trách nhiệm hình sự, nhân thân, điều kiện, hoàn cảnh phạm tội thì mức hình phạt tương xứng cho Bị cáo là 18 tháng tù giam. Tuy nhiên, khi thực hiện hành vi phạm tội Bị cáo là người chưa thành niên nên Hội đồng xét xử xử phạt Bị cáo thấp hơn so với người đã thành niên là phù hợp với quy định tại Điều 91; Điều 98; khoản 1, Điều 101 của BLHS năm 2015, thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 175 BLHS năm 2015 thì "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản ".
Tại biên bản xác minh của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ đã xác định: Bị cáo hiện không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản gì có giá trị, Bị cáo không có tài sản gì riêng. Vì vậy, miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với Bị cáo là phù hợp.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 của BLHS năm 2015 và khoản 2 Điều 579 của Bộ luật dân sự. Xác nhận ngày 01/06/2024 bị cáo Hoàng Văn B đã trả lại cho anh Phùng Văn H1 số tiền 4.100.000 đồng, anh H1 không còn yêu cầu gì khác; đối với số tiền 2.100.000 đồng là tiền cầm cố xe và tiền sử dụng dịch vụ tại quán, nay anh K chị H2 không yêu cầu Bị cáo trả lại nên Hội đồng xét xử không xem xét là phù hợp.
[5] Về xử lý vật chứng:
Áp dụng khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Xác nhận, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã trả lại cho anh Hà Hữu B1 01 chiếc xe máy nhãn hiệu JPAN BKS: 19AV – 022.42 theo biên bản về việc trả lại đồ vật, tài liệu ngày 07/07/2024. Cần trả lại cho chị Nguyễn Thị Thu H2 số tiền 2.100.000 đồng đã nộp để phục vụ điều tra là phù hợp.
[6] Các vấn đề khác của vụ án:
Đối với Hà Hải Đ là người có hành vi giúp bị cáo Hoàng Văn B bán chiếc xe máy của Hà Hữu B1, tuy nhiên tính đến thời điểm thực hiện hành vi Đ mới 14 tuổi 03 tháng 06 ngày nên không phải chịu trách nhiệm hình sự. Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 65/QĐ-XPHC bằng hình thức cảnh cáo là phù hợp.
Đối với Nguyễn Văn K là người đã cho bị cáo Hoàng Văn B cầm cố xe máy BKS 19AV-022.42 và nhận 2.000.000 đồng. Quá trình điều tra xác định K không biết chiếc xe máy trên do bị cáo Hoàng Văn B đã lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản mà có, quá trình điều tra xác định hành vi của K không có dấu hiệu của tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Tuy nhiên K không có giấy phép kinh doanh dịch vụ cầm đồ. Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 2339/QĐ-XPHC đối với K là phù hợp.
Đối với Nguyễn Thị Thu H2, sinh năm 2000, trú quán: Thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Quá trình điều tra xác định H2 không biết chiếc xe máy BKS 19AV-022.42 của Hoàng Văn B và H2 Hải Đăng mang đi bán là tài sản do bị cáo B lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt mà có. Việc thỏa thuận mua bán chiếc xe máy Hà không được bàn bạc tham gia. Cơ quan CSĐT Công an huyện T không đề cập xử lý là phù hợp.
Đối với Phùng Văn H1, mua xe của Hoàng Văn B và Hà Hải Đ. Quá trình mua bán diễn ra trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận, đồng ý thực hiện giao dịch, hơn nữa Hà Hải Đ tự nhận là chủ xe tên Hà Hữu B1, H1 không biết việc chủ xe không phải là Hà Hải Đ. Vì vậy hành vi của Phùng Văn H1 không cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” nên không tiến hành xử lý là phù hợp.
[7] Đề nghị của Kiểm sát viên và người bào chữa cho Bị cáo tại phiên tòa là chưa tương xứng với hành vi phạm tội của Bị cáo.
[8] Quan điểm của Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Gia đình bị hại đã nhận lại tài sản nên không còn yêu cầu gì khác, Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Bị hại, Người đại diện hợp pháp của bị hại, N có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ kết tội, tội danh
- Trách nhiệm hình sự, hình phạt:
- - Xử phạt Bị cáo Hoàng Văn B 9 (chín) tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày Bị cáo đi chấp hành án.
- - Tiếp tục áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Hoàng Văn B cho đến thời điểm Bị cáo đi chấp hành án.
- - Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với Bị cáo Hoàng Văn B.
- Về xử lý vật chứng:
- Về trách nhiệm dân sự:
- Về án phí:
- Về quyền kháng cáo:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 175; điểm i, s khoản 1 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 38; Điều 91; Điều 98; khoản 1 Điều 101 BLHS năm 2015;
Căn cứ khoản 4 Điều 123; Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tuyên bố Bị cáo Hoàng Văn B phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm a, b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Xác nhận, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã trả lại cho anh Hà Hữu B1 01 chiếc xe máy nhãn hiệu JPAN BKS: 19AV – 022.42 theo Biên bản về việc trả lại đồ vật, tài liệu ngày 07/07/2024.
Trả lại cho chị Nguyễn Thị Thu H2 số tiền 2.100.000 đồng. Vật chứng đã được cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T bàn giao cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Sơn 12/8/2024.
Xác nhận ngày 01/06/2024 bị cáo Hoàng Văn B đã trả lại cho anh Phùng Văn H1 số tiền 4.100.000 đồng, anh H1 không còn yêu cầu gì khác.
Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 và Danh mục án phí lệ phí ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Buộc Bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, Bị hại, người đại diện hợp pháp của Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, có mặt được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Văn Côn |
Bản án số 23/2024/HS-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH P về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 23/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH P
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn B - Lạm dujngtisn nhiệm chiếm đoạt tài sản
