Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN D K

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 16/5/2024
V/v: “Ly hôn”

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HUYỆN D K - KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hoa
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thành
Bà Nguyễn Thị Hưởng

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Đình Vân Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện D K, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện D K, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên toà: Ông Bùi Nguyên Huy - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện huyện D K, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 298/2023/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa: 17/2024/QÐST-HNGĐ ngày 02 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Lê Thị Y - sinh năm 1984;
Địa chỉ: Thôn T T, xã V T, thành phố N T, Khánh Hòa.
Có mặt.

* Bị đơn: Ông Đinh Tiến T - sinh năm 1988;
Địa chỉ: Thôn A N, xã D A, huyện D K, Khánh Hòa.
Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 25 tháng 9 năm 2023, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Lê Thị Y trình bày:

Bà và ông Đinh Tiến T tự nguyện yêu thương và kết hôn năm 2008 tại Ủy ban nhân dân xã D A, D K. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, hay cãi vã và không hòa hợp về nhiều mặt trong cuộc sống. Ông T không có trách nhiệm với gia đình, mọi việc để mình bà gánh vác. Mâu thuẫn vợ chồng đã 02 năm hay không thể hàn gắn được dẫn đến ảnh hưởng đến mối quan hệ vợ chồng nên bà đã về nhà cha mẹ mình sinh sống đến nay đã gần 01 năm.

Nay bà xác định không còn tình cảm yêu thương với ông T nữa, mâu thuẫn không thể hàn gắn được nữa nên yêu cầu Tòa giải quyết ly hôn với ông T.

Về con chung: Có 01 con chung là Đinh Tiến T1 - sinh ngày 29/12/2011. Hiện nay, con chung đang sống cùng với bà và bà có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

- Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Đinh Tiến T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt, không đến Tòa án làm việc, không có lời khai. Ông T vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện D K, tỉnh Khánh Hòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật, bị đơn không có lời khai, không đến Tòa án làm việc.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của Lê Thị Y đối với ông Đinh Tiến T. Về con chung: Giao con chung Đinh Tiến T1 - sinh ngày 29/12/2011 cho bà Y trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; ghi nhận việc bà Y tự nguyện không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Bà Y xác định vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên không xét. Bà Y phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa. Căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định pháp luật.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Y và ông Đinh Tiến T tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã D A, huyện D K và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 44 vào ngày 04/4/2008 nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Bà Y xác định trong thời gian chung sống giữa bà và ông T thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do quan điểm sống không hòa hợp dẫn đến vợ chồng hay cãi vã; ông T không có trách nhiệm với gia đình, mọi việc để mình bà gánh vác; hiện tại, bà không còn tình cảm với ông T; không thể tiếp tục duy trì mối quan hệ hôn nhân. Quá trình giải quyết vụ án, ông T đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng không đến Tòa án để làm việc, điều này thể hiện ông T có thái độ bỏ mặc, không quan tâm đến quan hệ vợ chồng, không muốn hàn gắn đoàn tụ. Như vậy, có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Y và ông T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn.

[3]. Về con chung: Bà Y và ông T có 01 con chung là Đinh Tiến T1 - sinh ngày 29/12/2011. Hiện tại, con chung đang sinh sống với bà và bà có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, xét thấy cần giao con chung cho bà Y trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp quy định pháp luật. Ghi nhận việc bà Y tự nguyện không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.

[4]. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lê Thị Y xác định vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên không giải quyết. Do bị đơn ông Đinh Tiến T chưa có lời khai về vấn đề này nên nếu sau này đương sự có yêu cầu sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.

[5]. Về án phí: Bà Lê Thị Y phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 147, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà Lê Thị Y được ly hôn với Đinh Tiến T.
  2. Về con chung: Bà Y trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Đinh Tiến T1 - sinh ngày 29/12/2011 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Ghi nhận việc bà Y tự nguyện không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Ông T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

    Quá trình nuôi dưỡng con chung, bà Y, ông T có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn; thay đổi cấp dưỡng nuôi con.

  3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lê Thị Y xác định vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên không giải quyết. Do bị đơn ông Đinh Tiến T chưa có lời khai về vấn đề này nên nếu sau này đương sự có yêu cầu sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.
  4. Về án phí: Bà Lê Thị Y phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) mà bà Y đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện D K, tỉnh Khánh Hòa theo biên lai thu tiền số AA/2022/0004290 ngày 09/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện D K. Bà Y đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
  5. Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  6. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND huyện D K;
  • - Chi cục THADS huyện D K;
  • - UBND xã D A (Giấy chứng nhận
  • kết hôn số 44 ngày 04/7/2008);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Thị Thanh Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2024/HNGĐ-ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN D K, TỈNH KHÁNH HÒA về ly hôn

  • Số bản án: 23/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN D K, TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn bà Lê Thị Y yêu cầu ly hôn với ông Đinh Tiến do quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, hay cãi vã và không hòa hợp về nhiều mặt trong cuộc sống. Về con chung: Đinh Tiến T1 - sinh ngày 29/12/2011. Hiện nay, con chung đang sống cùng với bà và bà có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger