|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THỦY TỈNH HÒA BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 23/2024/HS-ST
Ngày: 15/7/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THUỶ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Trung Nghĩa
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Bùi Thị Phi
Bà Bùi Thị Hòa
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thu Hà, Kiểm sát viên
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dânhuyện Yên Thủy tham gia phiên tòa:
Bà Đinh Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 21/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
1/ Trần Văn T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 20 tháng 10 năm 1970; Nơi ĐKHKTT: Xóm H, xã N, huyện Y, tỉnh Hòa Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 5/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Trần Văn T1 (đã chết) và bà Bùi Thị L; Có vợ là: Quách Thị N và 02 con; Tiền án: Chưa; Tiền sự: Không; Nhân thân: Tại bản án số 10/2013/HSST ngày 06/3/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Nho Quan – Ninh Bình xử phạt 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm p, khoản 2, Điều 194 BLHS năm 1999 sửa đổi năm 2009, bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 29/8/2017 hiện đã được xóa án tích. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2023 đến nay (có mặt tại phiên tòa)
2/ Trịnh Kiếm H; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 18 tháng 5 năm 1978; Nơi ĐKHKTT: thôn P, xã Đ, huyện N, tỉnh Ninh Bình; Chỗ ở hiện nay: Phố N, thị trấn N, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Trịnh Văn V và bà Hoàng Thị N1; Có vợ là: Bùi Thu H1 (đã ly hôn) và 01 con; Tiền án: 01 tiền án, Tại bản án số 28/2020/HSST ngày 15/9/2020 Tòa án nhân dân huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình đã xử phạt bị cáo Trịnh Kiếm H 24 (hai bốn) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1, điều 249 Bộ luật hình sự. Tiền sự: Chưa; Nhân thân: Năm 2006 bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh N xử phạt hành chính số tiền 100.000đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 16/7/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Nho Quan – Ninh Bình xử phạt 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 194 BLHS năm 1999 sửa đổi năm 2009, bị cáo đã chấp hành xong bản án và hiện đã được xóa án tích. Ngày 15/10/2019 Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trịnh Kiếm H với thời hạn 24 tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc hiện đã được miễn chấp hành theo điều 117 Luật xử lý vi phạm hành chính. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2023 đến nay (có mặt tại phiên tòa)
2/ Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Chị Bùi Thị K; Sinh năm: 1989 (vắng mặt)
Địa chỉ: Xóm M, xã Y, huyện Y, tỉnh Hòa Bình
- Bà Quách Thị N; Sinh năm: 1968 (có mặt tại phiên tòa)
Địa chỉ: Xóm H, xã N, huyện Y, tỉnh Hòa Bình
3/ Người chứng kiến
- Ông Nguyễn Văn S, sinh năm: 1972 (vắng mặt)
Địa chỉ: Xóm T, xã B, huyện Y, tỉnh Hòa Bình
- Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm: 1977 (vắng mặt)
Địa chỉ: Xóm H, xã B, huyện Y, tỉnh Hòa Bình
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do là người nghiện ma túy nên khoảng 21h30 phút ngày 14/12/2023 Trần Văn T liên lạc qua điện thoại di động với Trịnh Kiếm H để hỏi mua ma túy với số tiền 400.000đ. H hiệp đồng ý và hẹn T đến trước cổng nhà chị Bùi Thị K tại xóm M, xã Y, huyện Y để giao ma túy, T đồng ý sau đó điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 28F1-123.53 đến trước cổng nhà chị K, lúc này H đi bộ từ trong nhà chị K ra đưa cho T 01 gói giấy màu vàng bên trong có chứa chất ma túy loại Heroine. T cầm ma túy cho vào túi áo khoác rồi nói với H “T3 về anh chuyển khoản nhé”, H trả lời “Vâng” sau đó T đi về nhà sử dụng ứng dụng trên điện thoại chuyển số tiền 400.000đ đến số tài khoản của H để trả tiền mua ma túy, H nhắn tin lại đã nhận được tiền.
Đến khoảng 6h30 phút ngày 15/12/2024 Trần Văn T lấy chiếc áo khoác có chứa gói ma túy mua được từ tối hôm trước mặc vào người rồi một mình điều khiển xe mô tô đi đến Cơ sở điều trị uống thuốc cai nghiện thuộc Trung tâm y tế huyện Y để uống thuốc Methanol theo lịch, khi T có mặt tại cơ sở điều trị thì bị tổ công tác Công an huyện Y phát hiện bắt quả tang cùng tang vật, thu giữ trong túi áo khoác bên trái của T 01 gói giấy màu vàng, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục nghi là ma túy, loại heroine .
Đến ngày 19/12/2024 nhận thấy hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật Trịnh Kiếm H đã ra đầu thú khai báo toàn bộ nội dung hành vi bán ma túy cho Trần Văn T.
Tại bản bản kết luận giám định chất ma túy số 01/KL-KTHS ngày 22/12/20223 của Phòng K1 Công an tỉnh H kết luận: Chất bột màu trắng dạng cục trong phong bì niêm phong ghi tên Trần Văn T gửi giám định có khối lượng 0,15gam (không phẩy mười lăm gam), là ma túy, loại Heroine. (Heroine nằm trong danh mục số IA, số thứ tự 09, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ).
Bản cáo trạng số 23/VKS-YT ngày 31/5/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thuỷ đã truy tố Trần Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1, điều 249 Bộ luật hình sự. Trịnh Kiếm H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1, điều 251 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm s, khoản 1, Khoản 2, Điều 51, điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Trần Văn T từ 14 tháng đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Áp dụng: khoản 1, Điều 251; điểm s, khoản 1, Khoản 2, Điều 51, điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Trịnh Kiếm H từ 30 tháng đến 36 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Áp dụng điều 47 BLHS, điều 106 BLTTHS tịch thu xuất hủy 01 phong bì niêm phong mẫu giám định chất ma túy bên trong có 0,11 gam chất ma túy loại Heroine còn lại sau giám định và toàn bộ vỏ bao gói. Tịch thu phát mại xung quỹ Nhà nước 02 điện thoại di động của Trịnh Kiếm H và Trần Văn T.
Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà, các bị cáo Trần Văn T và Trịnh Kiếm H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thủy và thừa nhận bị truy tố, xét xử là đúng người, đúng tội. Các bị cáo chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án;
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tố tụng Hình sự:Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Y, tỉnh Hòa Bình, của Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận của các bị cáo là rõ ràng, phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến, vật chứng thu được cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:
Do nghiện ma túy nên khoảng 21h30 phút ngày 14/12/2023 Trần Văn T gọi điện cho Trịnh Kiếm H để hỏi mua ma túy, sau đó T điều khiển xe xe mô tô biển kiểm soát 28F1-123.53 của gia đình đến trước cổng nhà chị Bùi Thị K để nhận ma túy từ H, tại đây T được H bán cho 01 gói ma túy với giá tiền 400.000đ và hẹn về nhà sẽ chuyển khoản trả tiền cho H. Sau khi mua được H2, T cho vào túi áo đi về nhà và chuyển tiền từ tài khoản của mình sang tài khoản của H với số tiền 400.000đ sau đó H đã sử dụng số tiền trên để chi tiêu cá nhân và nạp thẻ điện thoại hết, đến sáng ngày 15/12/2024 khi T đi đến Trung tâm y tế huyện Y để uống Methanol điều trị cai nghiện thì bị phát hiện bắt giữ cùng tang vật là 01 gói giấy màu vàng, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục là ma túy, loại heroine có trọng lượng 0,15gam. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay xác định do là người nghiện ma túy bị cáo đã mua số ma túy trên với giá tiền 400.000₫ nhằm mục đích đem về sử dụng do đó bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c, khoản 1, điều 249 Bộ luật hình sự.
Đối Trịnh Kiếm H là người bán ma túy cho Trần Văn T có được số ma túy trên do mua của một người phụ nữ không quen biết tại khu vực bến xe N, huyện N, tỉnh Ninh Bình sau đó đem về sử dụng một phần, còn lại cất giữ ai mua thì đem bán lại kiếm lời, đến tối ngày 14/12/2023 khi T hỏi mua đã bán lại cho T với số tiền là 400.000đ, hành vi trên của bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” căn cứ khoản 1, điều 251 Bộ luật hình sự.
Hành vi nêu trên của các bị cáo rất nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội, gia tăng các tệ nạn. Làm giảm sút sức lao động sản xuất, tăng chi phí ngân sách cho các hoạt động ngăn ngừa, khắc phục, giải quyết các hậu quả do ma tuý đem lại.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân người phạm tội:
- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Trần Văn T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo Trịnh Kiếm H có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” căn cứ điểm h, khoản 1, điều 52 Bộ luật hình sự
· Tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa các bị cáo Trần Văn T và Trịnh Kiếm H có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn, hối cải, bị cáo Trần Văn T có bà nội là bà Bùi Thị C là Bà mẹ Việt Nam anh hùng, mẹ đẻ là bà Bùi Thị L có nhiều đóng góp cho cách mạng được tặng huy hiệu “Cựu thanh niên xung phong làm theo lời bác”, bị cáo Trịnh Kiếm H đã ra đầu thú, đồng thời bố bị cáo là ông Trịnh Xuân V1 là người có công với cách mạng, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến công giải phóng hàng nhì, Huân chương chiến sỹ giải phóng hạng 3 đây là các tình tiết quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2, điều 51 Bộ luật hình sự tương ứng với từng bị cáo khi lượng hình.
[4] Về hình phạt chính: Từ những đánh giá, phân tích nêu trên. Căn cứ vào hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo cũng như tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, HĐXX xét thấy cần áp dụng điểm c, khoản 1, điều 249; điểm s, khoản 1, khoản 2, điều 51, điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Văn T buộc bị cáo sống cách ly xã hội một thời gian để bị cáo có thời gian lao động, cải tạo thành người có ích. Cần áp dụng khoản 1, điều 251; điểm s, khoản 1, khoản 2, điều 51, điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trịnh Kiếm H buộc bị cáo sống cách ly xã hội một thời gian để bị cáo có thời gian lao động, cải tạo thành người có ích.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ (năm triệu đồng) đến 500.000.000đ (năm trăm triệu đồng), cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, tịch thu tài sản đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự, điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- 01 phong bì niêm phong bên trong có 0,11 gam chất ma túy loại Heroin còn lại sau giám định và toàn bộ vỏ bao gói là vật cấm lưu hành cần tịch thu xuất hủy. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung của Trần Văn T sử dụng để gọi điện hỏi mua ma túy sau đó sử dụng để chuyển khoản trả tiền mua ma túy cho H, 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen của Trịnh Kiếm H dùng để liên lạc bán ma túy và nhận tiền qua tài khoản vì vậy cần tịch thu phát mại xung quỹ Nhà nước 02 chiếc điện thoại nêu trên.
- Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 28F1-123.53 thu giữ của Trần Văn T, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Quách Thị N vì vậy HĐXX không đề cập giải quyết.
- Đối với số tiền 400.000đ bị cáo Trịnh Kiếm H có được từ việc bán ma túy cho Trần Văn T cần truy thu từ bị cáo để xung quỹ Nhà nước.
[7] Về các vấn đề khác;
Đối với người phụ nữ bán ma túy cho Trịnh Kiếm H đã tiến hành điều tra nhưng chưa xác định được lai lịch, khi nào cơ quan điều tra làm rõ sẽ xử lý sau.
Đối với chị Bùi Thị K quá trình điều tra làm rõ khi Trịnh Kiếm H bán Heroine cho Trần Văn T, chị K không biết, chị K cũng không biết việc H cất dấu ma túy nhằm mục đích bán kiếm lời vì vậy không xem xét xử lý là có căn cứ.
[8] Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[9] Lời nói sau cùng: Bị cáo Trần Văn T và Trịnh Kiếm H đã nhận thức được hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo Trịnh Kiếm H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
Căn cứ điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51, điều 38 của Bộ luật hình sự;- - Xử phạt bị cáo Trần Văn T 14 (mười bốn) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 15 tháng 12 năm 2023.
- - Xử phạt bị cáo Trịnh Kiếm H 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 19 tháng 12 năm 2023.
- Vật chứng: Căn cứ điều 46, điều 47 Bộ luật hình sự ; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong có 0,11 gam chất ma túy loại Heroine còn lại sau giám định và toàn bộ vỏ bao gói.
- - Tịch thu phát mại xung quỹ Nhà nước với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung của Trần Văn T, 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen của Trịnh Kiếm H
- - Truy thu từ bị cáo Trịnh Kiếm H số tiền 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng) để xung quỹ Nhà nước.
- Án phí: Khoản 2, điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án buộc bị cáo Trần Văn T và Trịnh Kiếm H mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo:
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền làm đơn kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Hoà Bình.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền làm đơn kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Hoà Bình.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Trung Nghĩa |
Bản án số 23/2024/HS-ST ngày 15/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THỦY, TỈNH HÒA BÌNH về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 23/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THỦY, TỈNH HÒA BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trịnh Kiếm H phạm tội mua bán trái phép chất ma túy
