Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ

TỈNH ĐỒNG THÁP

Bản án số: 23/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 15-5-2024

“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Mai Trinh.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Lê Thành Trung;
  2. Ông Bùi Minh Châu.

- Thư ký phiên tòa: Chị Ngô Thị Kim Lài - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Sóc – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 01/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 01 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 242/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số:42/2024/QĐST- HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thúy H, sinh năm 1995.

Địa chỉ cư trú: Số G, đường M - ĐaKai, tổ A, thôn F, xã M, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

- Bị đơn: Anh Mai Văn T, sinh năm 1985.

Địa chỉ cư trú: Khóm S, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 16/7/2023 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án chị Nguyễn Thị Thúy H trình bày: Về hôn nhân chị và anh T cưới nhau năm 2016, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp. Sau khi cưới anh chị thuê nhà số G, đường M, tổ A, thôn F, xã M, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận sinh sống. Quá trình chung sống hạnh phúc, nhưng đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẩn, nguyên nhân do anh T không chí thú làm mà lại thường hay ăn chơi, quậy phá nhà và có hành động doạ giết chị. Chị có trình báo Công an xã M và Công an xã đến làm việc với anh T, không cho anh T trú tại địa phương. Kể từ đó anh T về nhà ở khóm S, phường A sinh sống cho đến nay, khi đi anh T có dẫn theo cháu Mai Thúy V. Nhận thấy không còn tình cảm vợ chồng, nên:

- Về hôn nhân: Chị yêu cầu ly hôn với anh T.

- Về nuôi con chung: Có 02 con chung tên Mai Trà M, sinh ngày 21/10/2016 và Mai Thúy V, sinh ngày 11/6/2018. Hiện nay cháu Trà M sống với chị, cháu Thúy V sống với anh T. Chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Trà M, thống nhất giao Thúy V cho anh T nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng cho con.

- Về chia tài sản chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Đối với bị đơn ông Mai Văn T: Đã được Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng cố tình vắng mặt và cũng không gửi văn bản ý kiến về yêu cầu khởi kiện của chị H.

Ý kiến của Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu về việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đều được thực hiện theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và phát biểu ý kiến về nội dung giải quyết vụ án về hôn nhân: Căn cứ Điều 9, Điều 19, Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 91, Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự

- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thúy H với ông Mai Văn T.

- Về con chung: Chị Nguyễn Thị Thúy H, được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Mai Trà M, sinh ngày 21/10/2016, anh Mai Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị H không yêu cầu.

Anh Mai Văn T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Mai Thúy V, sinh ngày 11/6/2018, chị Nguyễn Thị Thúy H không phải cấp dưỡng nuôi con do T không yêu cầu.

- Về tài sản và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Tòa án nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là vụ kiện Ly hôn, tranh chấp về nuôi con và bị đơn anh Mai Văn T có địa chỉ cư trú: Khóm S, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, bị đơn anh Mai Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng vẫn vắng mặt không tham gia phiên toà. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Đối với chị Nguyễn Thị Thúy H có đơn xin vắng mặt tham gia phiên tòa xét xử. Vì vậy căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị Nguyễn Thị Thúy H là phù hợp theo quy định pháp luật.

[2] Về nội dung:

[2.1] Xét về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thúy H yêu cầu ly hôn với anh Mai Văn T. Hội đồng xét xử xét thấy theo đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo thì giữa chị H và anh T là hôn nhân hợp pháp có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp. Từ khi Tòa án thụ lý đến ngày mở phiên tòa xét xử, mặc dù đã được tống đạt, triệu tập hợp lệ nhưng anh T không tham gia tố tụng tại Tòa, cũng như không có văn bản ý kiến và phản đối yêu cầu của chị H. Điều đó thể hiện anh T không có thiện chí trong việc hàn gắn tình cảm vợ chồng đối với chị H. Hơn nữa chị H và anh T ly thân từ năm 2022 đến nay và theo xác nhận của Công A và Uỷ ban nhân xã M, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận thì thời gian anh chị còn sống chúng chị H từng trình báo anh T có hành vi hâm dọa, đánh chị H và gia đình chị, nên Công an xã M không cho anh T tạm trú tại địa phường. Từ phân tích trên cho thấy, tình cảm giữa chị H và anh T không còn, mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu ly hôn của chị H là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

“1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.”

[2.2] Về con chung: Chị H và anh T có 02 con chung tên Mai Trà M, sinh ngày 21/10/2016 và Mai Thúy V, sinh ngày 11/6/2018. Hiện nay cháu Trà M sống với chị, cháu Thúy V sống với anh T. Chị H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Trà M, thống nhất giao Thúy V cho anh T nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng cho con. Hội đồng xét xử xét thấy hiện nay chị H đang nuôi cháu Trà M và cháu có nguyên vọng sống với chị. Anh T1 đang nuôi dưỡng cháu Thúy V và anh T1 cũng không có ý kiến về yêu cầu của chị H, nên xét thấy yêu cầu của chị H là căn cứ chấp nhận. Chị H được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Trà M, anh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con do chị H không yêu cầu. Anh T1 được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Thúy V, chị H không phải cấp dưỡng nuôi con do T1 không yêu cầu. Chị H, anh T1 cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở nhau trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

[2.3] Về tài sản chung: Chị H trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[2.4] Về nợ chung: Chị H trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[3] Xét đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử xét chấp nhận.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc các đương sự phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định, theo đó:

[4.1] Chị Nguyễn Thị Thúy H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp, theo biên lai số 0001854 ngày 29/12/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hồng Ngự, chị H đã nộp xong.

[4.2] Anh Mai Văn T không phải chịu án phí dân sự sở thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Căn cứ Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thúy H. Cho chị Nguyễn Thị Thúy H ly hôn với anh Mai Văn T.

2. Về nuôi con chung: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Thúy H. Chị Nguyễn Thị Thúy H được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Mai Trà M, sinh ngày 21/10/2016, anh Mai Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị H không yêu cầu.

Anh Mai Văn T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Mai Thúy V, sinh ngày 11/6/2018, chị Nguyễn Thị Thúy H không phải cấp dưỡng nuôi con do anh T không yêu cầu.

Chị Nguyễn Thị Thúy H và anh Mai Văn T cùng các thành viên gia đình không được cản trở chị H và anh T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Thúy H trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về nợ chung: Chị Nguyễn Thị Thúy H trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Thúy H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí, theo biên lai số 0001854 ngày 29/12/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hồng Ngự, chị H đã nộp xong.

Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 15/5/2024). Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND Tp. Hồng Ngự;
  • - UBND xã Bình Thành, TP. Hồng Ngự;
  • - Lưu VT, Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Mai Trinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2024/HNGĐ-ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 23/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BẢN ÁN HÔN NHÂN
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger