TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU TP. CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 23/2023/KDTM
Ngày: 14/8/2023
V/v “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU – THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gầm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Hồng Thúy
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Đỗ Thị Lệ Hằng
- Bà Nguyễn Thị Ngọc Thu
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Ngọc Diệp – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều – thành phố Cần Thơ.
Trong các ngày 27 tháng 7 năm 2023 và ngày 14 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều thành phố Cần Thơ, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 486/2022/TLST- DS ngày 21 tháng 10 năm 2022, về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 532/2023/QĐST-DS ngày 05 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: NGÂN HÀNG TMCP Q (tên viết tắt là V1).
- Địa chỉ: Tầng A (tầng trệt) và tầng 2, tòa nhà S A, phường B, quận A, thành phố Hồ Chí Minh.
- NGÂN HÀNG TMCP Q – CHI NHÁNH C – PHÒNG GIAO DỊCH CÁI KHẾ.
- Địa chỉ: 1 T, phường C, quận N, TP ..
- Uỷ quyền cho ông Bùi Phúc V – cán bộ Phòng xử lý nợ Ngân hàng TMCP Q tham gia tô tụng
- * Bị đơn: Công ty TNHH Một Thành Viên T
- Địa chỉ: 1 đường Cách mạng tháng tám, phường A, quận N, TP ..
- Nay là Địa chỉ: E N, phường A, quận N, TP ..
- Đại diện theo pháp luật: Bà Trần Thị N, sinh năm: 1969.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày như sau:
Ngân hàng TMCP Q (V1) Phòng G ký với Công ty TNHH Một Thành Viên T (sau đây được viết tắt là Công ty TNHH MTV T), người đại diện theo pháp luật là bà Trần Thị N theo Hợp đồng tín dụng số 040.HĐTD.665.17 ngày
17/02/2017, Phụ lục Hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ số 8417394.20 ngày 20/04/2020, Phụ lục Hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ số 6808277.21 ngày 23/01/2021 với nội dung: VIB cho C1 vay số tiền 684.000.000 đồng; Mục đích vay vốn: Thanh toán mua 01 ô tô mới nhãn hiệu FORD TRANSIT; Thời hạn vay: 84 tháng, từ ngày 17/02/2017 đến ngày 17/02/2024; Lãi suất tại thời điểm giải ngân 8,6 %/năm. Lãi suất này là lãi suất ưu đãi và chỉ được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân khoản vay. Hết thời hạn ưu đãi nói trên, lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở cộng biên độ 3.99%/năm;
Hoàn trả nợ gốc theo:
- Hợp đồng tín dụng số 040.HĐTD.665.17 ngày 17/02/2017, vào ngày 20 hàng tháng, trả trong 84 tháng, trong 82 tháng đầu mỗi tháng trả 8,140,000 đồng, tháng cuối trả 8,380,000 đồng, kỳ trả đầu tiên vào ngày 20/03/2017;
- Phụ lục Hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ số 8417394.20 ngày 20/04/2020: Không trả gốc trong 06 tháng kế tiếp (từ 20/01/2021 đến 21/09/2020), trả gốc vào ngày 20 hàng tháng, trả trong 41 tháng, trong 40 tháng đầu mỗi tháng trả 9,337,000 đồng, tháng cuối trả 9,340,000 đồng, kỳ trả nợ đầu tiên 20/10/2020.
- Phụ lục Hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ số 6808277.21 ngày 23/01/2021: Không trả gốc trong 03 tháng kế tiếp (từ 20/01/2021 đến 20/03/2021), trả trong 35 tháng, trong 34 tháng đầu mỗi tháng trả 10,137,400 đồng, tháng cuối trả 10,137,400 đồng, kỳ trả nợ đầu tiên 20/04/2021;
- Hoàn trả lãi vào ngày 20 hàng tháng
- Trả phí theo quy định của V1 từng thời kỳ
- Lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn
VIB đã giải ngân cho Công ty TNHH MTV T theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số 040.KUNN.665.17 ngày 17/02/2017 với số tiền 684.000.000 đồng theo đúng yêu cầu của khách hàng và phù hợp với Hợp đồng tín dụng.
Ngân hàng TMCP Q (V1) Phòng giao dịch C ký với Công ty TNHH MTV T, người đại diện theo pháp luật là bà Trần Thị N theo Hợp đồng tín dụng số 578.HĐTD.665.18 ngày 02/11/2018, Phụ lục Hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ số 3903515.20 ngày 20/04/2020, Phụ lục Hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ số 6771417.21 ngày 23/01/2021 với nội dung: VIB cho Công ty TNHH MTV T vay số tiền 777.000.000 đồng; Mục đích vay vốn: Thanh toán mua 01 ô tô mới nhãn hiệu HYUNDAI SOLATI; Thời hạn vay: 84 tháng, từ ngày 02/11/2018 đến ngày 02/11/2025; Lãi suất tại thời điểm giải ngân 10,4%/năm. Lãi suất này là lãi suất ưu đãi (so với lãi suất thông thường là: Lãi suất cơ sở theo sản phẩm trong kỳ + biên độ 4,2%/năm) và chỉ được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân Khoản tín dụng. Hết thời hạn ưu đãi nói trên, lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở cộng biên độ 4,2%/năm.
Hoàn trả khoản vay gốc theo:
- Hợp đồng tín dụng số 578.HĐTD.665.18 ngày 02/11/2018: vào ngày 20 hàng tháng, trả trong 84 tháng, mỗi tháng trả 9.250.000 đồng, kỳ trả đầu tiên vào ngày 20/12/2018;
- Phụ lục Hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ số 3903515.20 ngày 20/04/2020: Không trả gốc trong 06 tháng kế tiếp (từ 20/04/2020 đến 20/09/2020), trả gốc vào ngày 20 hàng tháng, trả trong 62 tháng, trong 61 tháng đầu mỗi tháng trả 10.688.000 đồng, kỳ trả nợ đầu tiên 20/10/2020;
- Phụ lục Hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ số 6771417.21 ngày 23/01/2021: Không trả gốc trong 03 tháng kể tiếp (từ 20/01/2021 đến 20/03/2021), trả gốc vào ngày 20 hàng tháng, trả trong 56 tháng, trong 55 tháng đầu mỗi tháng trả 10.688.000 đồng, tháng cuối trả 10.725.000 đồng, kỳ trả nợ đầu tiên 20/04/2021;
- Hoàn trả lãi vào ngày 20 hàng tháng
- Trả phí theo quy định của V1 từng thời kỳ
- Lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn
VIB đã giải ngân cho Công ty TNHH MTV T theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số 578.HĐTD.665.18 ngày 02/11/2018 với số tiền 777.000.000 đồng theo đúng yêu cầu của khách hàng và phù hợp với Hợp đồng tín dụng (sau đây viết tắt Hợp đồng tín dụng là HĐTD).
Quá trình thực hiện hợp đồng Công ty TNHH MTV T luôn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi phát sinh nên V1 yêu cầu khách hàng tất toán vay nhưng khách hàng vẫn không thực hiện.
Tạm tính đến ngày 01/06/2023, Công ty TNHH MTV T đã thanh toán cho V1 số tiền là 1.456.720.611 đồng (gốc: 1.014.102.092 đồng, lãi: 442.618.519 đồng). Trong đó:
- HĐTD số 040.HĐTD.665.17 ngày 17/02/2017: gốc đã trả là 353.465.925 đồng, lãi đã trả là 240.790.188 đồng, tổng là 594.256.113 đồng.
- HĐTD số 578.HĐTD.665.18 ngày 02/11/2018: gốc đã trả là 660.636.167 đồng, lãi đã trả là 201.828.331 đồng, tổng là 862.464.498 đồng.
Tạm tính đến ngày 01/06/2023, Công ty TNHH MTV T còn nợ Ngân hàng TMCP Q số tiền: 713.644.168 đồng (Bằng chữ: Bảy trăm mười ba triệu sáu trăm bốn mươi bốn nghìn một trăm sáu mươi tám đồng), trông đó gồm có:
- Nợ gốc HĐTD số 040.HĐTD.665.17 ngày 17/02/2017 là: 330.534.075đồng
- Nợ lãi HĐTD số 040.HĐTD.665.17 ngày 17/02/2017 là: 120.225.624đồng
- Nợ gốc HĐTD số 578.HĐTD.665.18 ngày 02/11/2018 là: 116.363.833đồng
- Nợ lãi HĐTD số 578.HĐTD.665.18 ngày 02/11/2018 là: 146.520.636đồng
Do phía bị đơn đã bị nơ xấu nhóm 5.
- Buộc Công ty TNHH MTV T phải thanh toán ngay cho Ngân hàng TMCP Q số tiền tạm tính đến ngày 01/06/2023 là: 713.644.168 đồng (Bằng chữ: Bảy trăm mười ba triệu sáu trăm bốn mươi bốn nghìn một trăm sáu mươi tám đồng), trong đó gồm có:
- Nợ gốc HĐTD số 040.HĐTD.665.17 ngày 17/02/2017 là: 330.534.075 đồng
- Nợ lãi HĐTD số 040.HĐTD.665.17 ngày 17/02/2017 là: 120.225.624 đồng
- Nợ gốc HĐTD số 578.HĐTD.665.18 ngày 02/11/2018 là: 116.363.833 đồng
- Nợ lãi HĐTD số 578.HĐTD.665.18 ngày 02/11/2018 là: 146.520.636đồng
- Đề nghị Tòa án xem xét tiếp tục tính lãi, lãi quá hạn kể từ ngày 02/06/2023 cho đến khi Công ty TNHH MTV T thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo quy định tại Hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ đã ký với Ngân hàng TMCP Q.
Đại diện theo ủy quyền của Bị đơn là Công ty TNHH MTV T bà Trần Thị N trình bày:
Do tình hình dịch Covid-19 kéo dài đến năm 2022 (4 năm), vẫn diễn ra phức tạp làm cho Công ty TNHH MTV T gặp khó khăn trong việc trả nợ ngân hàng. Dù Bị đơn cũng rất cố gắng tìm biện pháp để trả nợ. Đầu năm 2021, đỉnh điểm là tháng 04 năm 2021 do thiên tai là dịch Covid-19 bùng phát toàn thế giới làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của Công ty, do Công ty TNHH MTV T kinh doanh về ngành du lịch đó là nguồn thu nhập để Công ty trả nợ cho Ngân Hàng. Trong thời gian khó khăn Bị đơn vẫn cố gắng đóng vào ngân hàng dù không đủ khoản nợ mỗi tháng theo hợp đồng đã ký, nhưng đó cũng là thiện chí mà Bị đơn trả nợ, trong khoản thời gian này Ngân hàng không cấp giấy đi đường cho Công ty TNHH MTV T, nhưng Bị đơn cũng chưa dùng đến do dịch bùng phát xe không hoạt động được. Đến cuối năm 2021, đầu năm 2022 Bị đơn có đem 100.000.000 đồng nộp vào phần nợ quá hạn, để ngân hàng cấp giấy đi đường cho xe hoạt động vào dịp Tết năm 2022 nhưng ngân hàng không đồng ý bắt buộc Bị đơn phải tất nợ, trong khi hợp đồng chưa hết hạn. Và công việc kinh doanh của Công ty V2 ổn định nên Bị đơn cũng không có tiền tất toán nợ. Sau nhiều lần làm việc giữa Bị đơn và Ngân H có sự chứng kiến của Công an phường C, thì Ngân H đã cấp giấy đi đường cho xe của Công ty TNHH MTV T.
Thời điểm trước dịch C Bị đơn vẫn đóng cho Ngân hàng gốc và lãi, theo hợp đồng năm 2018 đóng gốc hàng tháng là 9.250.000 đồng và tiền lãi cùng với hợp đồng năm 2017 là 8.140.000 đồng và tiền lãi. Hiện nay, sau khi Ngân hàng khởi kiện thì Bị đơn vẫn đóng 30 triệu hàng tháng mà số tiền đó ngân hàng nói thu gốc. (theo như hợp đồng Bị đơn chỉ cần trả gốc và lãi 25 triệu đồng/tháng mà Bị đơn đã trả nhiều hơn 5.000.000 đồng so với hợp đồng đã ký để Ngân H có thể trả vào khoản Bị đơn quá hạn.
Yêu cầu Tòa án Nhân dân quận Ninh kiều xem xét tạo điều kiện để Ngân Hàng hỗ trợ cho Công ty của Bị đơn theo thông tư số 02/2023/TT-NHNN ký ngày 24 tháng 4 năm 2023, hổ trợ cho Công ty B được cơ cấu lại thời gian trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ trong vòng 12 tháng, hổ trợ cho cá nhân, doanh nghiệp bị ảnh hưởng do đại dịch Covid để có nguồn vốn khôi phục lại kinh tế và không phạt lãi quá hạn trong thời gian đang diễn ra đại dịch C và trả gốc và lãi theo hợp đồng đã ký.
Bị đơn không thống nhất theo đơn khởi kiện của Ngân Hàng yêu cầu Bị đơn tất toán 02 hợp đồng thế chấp xe trên trước thời hạn.
- Tại phiên toà hôm nay:
Đại diện cho Nguyên đơn trình bày: Do phía bị đơn đã bị nơ xấu nhóm 5.
- Buộc Công ty TNHH MTV T phải thanh toán ngay cho Ngân hàng TMCP Q số tiền tạm tính đến ngày 14/8/2023 là: 669.219.881đồng (sáu trăm sáu mươi chín triệu hai trăm mười chín nghìn tám trăm tám mươi mốt đồng), trong đó gồm có:
- Nợ gốc HĐTD số 040.HĐTD.665.17 ngày 17/02/2017 là: 330.534.075đồng
- Nợ lãi HĐTD số 040.HĐTD.665.17 ngày 17/02/2017 là: 131.731.791đồng
- Nợ gốc HĐTD số 578.HĐTD.665.18 ngày 02/11/2018 là: 56.363.833 đồng
- Nợ lãi HĐTD số 578.HĐTD.665.18 ngày 02/11/2018 là: 150.590.182 đồng
- Đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục tính lãi, lãi quá hạn kể từ ngày 15/8/2023 cho đến khi Công ty TNHH MTV T thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo quy định tại Hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ đã ký với Ngân hàng TMCP Q.
Đối với 02 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 030358 đối với nhãn hiệu xe HYANDAI, số loại SOLATI, ô tô khách, màu sơn trắng, dung tích 2497, Biển số xe 015.35. Ngày đăng ký xe 01/11/2018 và Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 016549 đối với nhãn hiệu FORD, số loại TRANSIT, ô tô khách, màu sơn ghi vàng, dung tích 2402. Biển số xe 010.60. Ngày đăng ký xe 15/02/2017. Ngân hàng sẽ trả lại 02 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô trên cho Công ty TNHH MTV T sau khi Công ty TNHH MTV T trả tất nợ.
Bị đơn – Công ty TNHH MTV T vẫn giữ nguyên yêu cầu tại buổi hoà giải và có Đơn đề nghị không phạt lãi do Thiên tai.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng TMCP Q (tên viết tắt là V1) khởi kiện Công ty TNHH MTV T (sau đây gọi tắt là Công ty T) yêu cầu có trách nhiệm trả cho V1 số tiền đã vay theo Hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết. Đây là quan hệ “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Căn cứ theo quy định tại các Điều 26, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận Ninh Kiều – thành phố Cần Thơ.
[2] Về trình tự, thủ tục tố tụng: Qúa trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành đúng các thủ tụng tố tụng. Thời điểm thụ lý vụ án là tranh chấp án Dân sự sơ thẩm, tuy nhiên khi xét xử, Hội đồng xét xử nhận định tranh chấp là án kinh doanh thương mại do Ngân hàng TMCP Q cho pháp nhân vay tiền là bị đơn – Công ty TNHH MTV T để mua xe với mục đích kinh doanh dịch vụ du lịch. Do các bên đương sự không thể thoả thuận được nên vụ án được đưa ra xét xử công khai.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Đối với Hợp đồng tín dụng: (sau đây được viết tắt là HĐTD).
Qúa trình giải quyết, nguyên đơn thừa nhận lý do bị đơn không trả tốt nợ vay cho Ngân hàng TMCP Q và đã lên nợ xấu nhóm 5 nên nguyên đơn khởi kiện. Công ty TNHH MTV T kinh doanh về ngành du lịch nhưng bị ảnh hưởng thiên tai là dịch Covid-19 bùng phát toàn thế giới do đó hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH MTV T - bị đơn gặp khó khăn. Bị đơn không thống nhất số tiền gốc và lãi mà Ngân hàng V1 lập bảng kê, có ý kiến xin Ngân hàng xem xét không phạt lãi do Thiên tai cho bị đơn. Xét với lý do trên của bị đơn, Hội đồng xét xử xét thấy phía Ngân hàng TMCP Q cũng có cơ cấu lại thời gian chu kỳ trả nợ cho Công ty T và phía Công ty T cũng có thừa nhận tại Toà là không trả gốc trong vòng 08 tháng do được VIB xét cho cơ cấu lại. Tại Biên bản làm việc ngày 02/3/2022, phía bị đơn cũng thống nhất trong vòng 03 tháng kể từ ngày làm việc trên sẽ tất toán khoản vay cho V1 và giải chấp tài sản. Như vậy, theo 02 Hợp đồng tín dụng HĐTD số 040.HĐTD.665.17 ngày 17/02/2017 và HĐTD số 578.HĐTD.665.18 ngày 02/11/2018 được ký kết giữa 02 bên Người đại diện theo pháp luật của bị đơn là Công ty TNHH MTV T có bà: Trần Thị N có ký hợp đồng tín dụng với Ngân Hàng TMCP Q – chi nhánh C – phòng G xét việc thỏa thuận giữa nguyên đơn và bị đơn phù hợp với quy định tại Điều 98 Luật các Tổ chức tín dụng nên có hiệu lực pháp luật. Tại thời điểm giao kết hợp đồng bà N người đại diện theo pháp luật của bị đơn có đủ năng lực trách nhiệm dân sự trên tinh thần tự nguyện và thỏa thuận tại các điều, khoản trong hợp đồng của các đương sự phù hợp với quy định pháp luật các Tổ chức tín dụng. Do bị đơn không thanh toán tiền gốc lãi như đã thỏa thuận đầy đủ cho Ngân hàng theo thông báo giao dịch hàng tháng. Như vậy, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu buộc bị đơn thanh toán số tiền gốc và lãi trong hạn còn nợ cho Ngân hàng TMCP Q (V1) số tiền 669.219.881đồng là phù hợp, nghĩ nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ngoài ra, buộc Công ty TNHH MTV T còn phải trả lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng từ ngày 15/8/2023 cho đến khi nào trả xong hết nợ cho Ngân hàng.
[4] Xét yêu cầu của Bị đơn: Thời điểm trước dich Covid-19 Bị đơn – Công ty T vẫn đóng tiền nợ cho Ngân hàng TMCP Q bao gồm gốc và lãi, theo hợp đồng tín dụng năm 2018 đóng gốc hàng tháng là 9.250.000 đồng và tiền lãi cùng với hợp đồng tín dụng năm 2017 là 8.140.000 đồng và tiền lãi. Hiện nay, sau khi Ngân hàng TMCP Q khởi kiện thì bị đơn vẫn đóng 30 triệu hàng tháng mà số tiền đó ngân hàng nói thu gốc. (theo như hợp đồng bị đơn chỉ cần trả gốc và lãi 25 triệu đồng/tháng) mà Bị đơn đã trả nhiều hơn 5.000.000 đồng so với hợp đồng đã ký với Ngân Hàng V1, có thể trả vào khoản Bị đơn nợ quá hạn. Xét tại phiên toà bị đơn có thừa nhận việc trả tiền hàng tháng là Công ty T tự nộp tiền vào tài khoản và Ngân hàng TMCP Q (V1) tự thu. Phía nguyên đơn cho rằng khi bị đơn đã bị nợ xấu lên nhóm 5 VIB sẽ không thu lãi mà chỉ thu gốc, khi thu tiền gốc hết Hợp đồng tín dụng số 578.HĐTD.665.18 ngày 02/11/2018 thì sẽ tiếp tục thu Hợp đồng tín dụng số 040.HĐTD.665.17 ngày 17/02/2017. Xét tại phiên toà xét xử ngày 27/7/2023, bị đơn đề nghị V1 hỗ trợ cho Công ty T theo thông tư số 02/2023/TT-NHNN ký ngày 24 tháng 4 năm 2023, cho Công ty T được cơ cấu lại thời gian trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ trong vòng 12 tháng theo tinh thần hổ trợ cho cá nhân, doanh nghiệp bị ảnh hưởng do đại dịch Covid để có nguồn vốn khôi phục lại kinh tế và không phạt lãi quá hạn trong thời gian đang diễn ra đại dịch C, đại diện uỷ quyền cho Ngân hàng TMCP Q xin tạm dừng phiên toà để về xin ý kiến chỉ thị của lãnh đạo V1, tuy nhiên tại phiên toà tiếp tục xét xử vào ngày 14/8/2023, Ngân hàng TMCP Q (V1) vẫn giữ nguyên ý kiến và yêu cầu khởi kiện do phía bị đơn – Công ty T đã lên nợ xấu nhóm 5, không đáp ứng được điều kiện quy định tại khoản 6 Điều 4 Thông tư 01/2020/TT-NHNN ngày 13/3/2020, được sữa đổi bổ sung bởi Thông tư 03/2021/TT-NHNN ngày 02/4/2021 và Thông tư 14/2021/TT-NHNN ngày 07/9/2021 cho nên với yêu cầu của bị đơn Công ty T đề nghị Tòa án Nhân dân quận Ninh kiều xem xét tạo điều kiện để VIB hỗ trợ cho Công ty T theo thông tư số 02/2023/TT-NHNN ký ngày 24 tháng 4 năm 2023, cho Công ty T được cơ cấu lại thời gian trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ trong vòng 12 tháng theo tinh thần hổ trợ cho cá nhân, doanh nghiệp bị ảnh hưởng do đại dịch Covid để có nguồn vốn khôi phục lại kinh tế và không phạt lãi quá hạn trong thời gian đang diễn ra đại dịch C và trả gốc và lãi theo hợp đồng đã ký là không có căn cứ vì các thỏa thuận phát sinh ràng buộc, phía Bị đơn cũng nhất trí với các nội dung thỏa thuận khi xác lập quan hệ tín dụng bao gồm lãi trong hạn, lãi quá hạn. Công ty TNHH MTV T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi phát sinh, đã lên nợ xấu nhóm 5 nên VIB buộc phải khởi kiện yêu cầu phía Công ty TNHH MTV T tất toán vay theo quy định tại Thông tư 01/2020/TT-NHNN ngày 13/3/2020 của Ngân hàng N1 để thu hồi nợ cho Ngân hàng TMCP Q (V1) là đúng theo quy định của pháp luật. Đối với việc giảm lãi, đại diện V1 trình bày khi Công ty T trả tất toán khoản vay nợ thì Ngân hàng TMCP Q (V1) sẽ xem xét giảm lãi, Hội đồng xét xử ghi nhận ý kiến này của nguyên đơn.
Từ những phân tích nêu trên, căn cứ vào các chứng cứ có tại hồ sơ, lời trình bày của đại diện nguyên đơn, bị đơn, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Ngân hàng TMCP Q (V1).
Quá trình giải quyết vụ án, Ngân hàng TMCP Q không yêu cầu Toà án thẩm định giá trị tài sản đang thế chấp là 01 xe ô tô mới nhãn hiệu FORD TRANSIT theo Hợp đồng tín dụng số 040.HĐTD.665.17 ngày 17/02/2017 và 01 ô tô mới nhãn hiệu HYUNDAI SOLATI theo Hợp đồng tín dụng số 578.HĐTD.665.18 ngày 02/11/2018 và xét tại Đơn khởi kiện và tại phiên toà xét xử, phía Ngân hàng TMCP Q không buộc Công ty TNHH MTV T có trách nhiệm giao trả lại 01 xe ô tô mới nhãn hiệu FORD TRANSIT theo Hợp đồng tín dụng số 040.HĐTD.665.17 ngày 17/02/2017 và 01 ô tô mới nhãn hiệu HYUNDAI SOLATI theo Hợp đồng tín dụng số 578.HĐTD.665.18 ngày 02/11/2018 cho Ngân hàng TMCP Q (V1) để xử lý, phát mãi thu hồi nợ, xét nghĩ đây là sự tự định đoạt của đương sự, Hội đồng xét xử khồng đề cập đến.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn Công ty TNHH MTV T phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm có giá ngạch trên số tiền phải trả cho nguyên đơn. Nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, điểm b Khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 317, Điều 463 Bộ luật Dân sự 2015.
- Điều 90, Điều 91, Điều 95 và Điều 98 Luật các Tổ chức tín dụng;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Luật thi hành án dân sự.
Tuyên xử:
- Buộc Công ty TNHH MTV T phải thanh toán ngay cho Ngân hàng TMCP Q (tên viết tắt là V1) số tiền tạm tính đến ngày 14/8/2023 là: 669.219.881đồng (sáu trăm sáu mươi chín triệu hai trăm mười chín nghìn tám trăm tám mươi mốt đồng), trong đó gồm có:
- Nợ gốc HĐTD số 040.HĐTD.665.17 ngày 17/02/2017 là: 330.534.075đồng
- Nợ lãi HĐTD số 040.HĐTD.665.17 ngày 17/02/2017 là: 131.731.791 đồng
- Nợ gốc HĐTD số 578.HĐTD.665.18 ngày 02/11/2018 là: 56.363.833đồng
- Nợ lãi HĐTD số 578.HĐTD.665.18 ngày 02/11/2018 là: 150.590.182đồng
Đồng thời buộc Công ty TNHH MTV T phải trả tiền lãi quá hạn kể từ ngày 15/8/2023 cho đến khi Công ty TNHH MTV T thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo quy định tại Hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ đã ký với Ngân hàng TMCP Q (V1).
- Trường hợp Công ty TNHH MTV T trả tất nợ cho Ngân hàng TMCP Q (V1) thì Ngân hàng TMCP Q (V1) sẽ giao trả lại 02 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 030358 đối với nhãn hiệu xe HYANDAI, số loại SOLATI, ô tô khách, màu sơn trắng, dung tích 2497, Biển số xe 015.35. Ngày đăng ký xe 01/11/2018 và Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 016549 đối với nhãn hiệu FORD, số loại TRANSIT, ô tô khách, màu sơn ghi vàng, dung tích 2402. Biển số xe 010.60. Ngày đăng ký xe 15/02/2017 cho Công ty TNHH MTV T.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ngân hàng TMCP Q (V1) được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp 20.276.500đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí toà án số 0000019 ngày 19/9/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều– thành phố Cần Thơ.
Bị đơn Công ty T phải chịu 30.768.795đồng án phí kinh doanh thương mại.
Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tiếp theo ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, ngưòi phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điêu 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Võ Hồng Thuý |
Bản án số 23/2023/KDTM ngày 14/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU – THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 23/2023/KDTM
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/08/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU – THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”
