Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2024/HNGĐ-PT

Ngày: 23-07-2024

V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con, cấp

dưỡng, chia tài sản chung và nợ chung

khi ly hôn; hợp đồng mua bán; hợp

đồng cầm cố QSD đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Khắc Thịnh.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thị Võ Trinh.

Ông Lê Thành Tôn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Châu – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Bà Huỳnh Thị Đạm - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Trong ngày 23/7/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 39/2023/TLPT-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con, cấp dưỡng, chia tài sản chung và nợ chung khi ly hôn; hợp đồng mua bán; hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 100/2023/HNGĐ-ST ngày 11 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2024/QĐ-PT ngày 16/02/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 07/2024/QĐ-PT ngày 27/02/2024, Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa xét xử phúc thẩm số 05/2024/TB-TA ngày 27/3/2024, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 03/2024/QĐPT-HNGĐ ngày 29/3/2024, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 04/2024/QĐPT-HNGĐ ngày 25/4/2024, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 08/2024/QĐPT-HNGĐ ngày 22/5/2024, Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa xét xử phúc thẩm số 12/2024/TB-TA ngày 20/6/2024 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 10/2024/QĐPT-HNGĐ ngày 26/6/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Nguyễn Tấn Đ - Sinh năm: 1968;
    Địa chỉ: A ấp L, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
  • - Bị đơn: Nguyễn Thị H - Sinh năm: 1979.
    Địa chỉ: A ấp L, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. 1. Lưu Tấn K, sinh năm: 1989;
      Địa chỉ: D ấp H xã T, huyện L, Đồng Tháp.
    2. 2. Ông Nguyễn Phước T- chủ Cửa hàng V;
      Địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện L, Đồng Tháp.
  • - Người kháng cáo: Ông Nguyễn Tấn Đ, là nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn Nguyễn Tấn Đ trình bày:

  • - Về hôn nhân: Vào khoảng năm 1999 ông Đ và bà H tìm hiểu quen nhau rồi chung sống với nhau như vợ chồng, đến năm 2002 có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp, cuộc sống thời gian đầu rất hạnh phúc nhưng về sau có nhiều điểm bất đồng cuộc sống hôn nhân không mang lại hạnh phúc, trong đời sống hằng ngày thường phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, từ những nguyên nhân đó dẫn đến cuộc sống hôn nhân không đạt nay Nguyễn Tấn Đ xin được ly hôn với Nguyễn Thị H.
  • - Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Thị Mộng T1, sinh ngày 30/10/2008 ông Đ đồng ý giao con cho bà H nuôi và đồng ý cấp dưỡng nuôi con theo quy định cho đến khi con đủ 18 tuổi.
  • - Về tài sản chung: Vợ chồng có 08 thửa đất gồm thửa 04 tờ bản đồ số 71, thửa 35 cùng tờ bản đồ số 71; thửa 85; thửa 94 cùng tờ bản đồ 57 đất tọa lạc tại xã L; thửa 80, thửa 280, thửa 69; thửa 93 cùng tờ bản đồ số 63 đất tọa lạc tại xã H và căn nhà cấp 4 nằm trên thửa đất 85. Khi ly hôn ông Nguyễn Tấn Đ đồng ý chia đôi tất cả các thửa đất trên và căn nhà, yêu cầu được hưởng 02 thửa 93, 94 và thửa đất 85 cùng căn nhà trên đất, đồng ý trả giá trị căn nhà và đất nếu hơn diện tích cho bà H và ông Đ tự định giá căn nhà và thửa đất 85 trị giá 1.200.000đ nếu ai nhận nhà và đất sẽ thối lại phân nữa giá trị. Các đồ đạt vật dụng trong nhà ông Đ không yêu cầu hay tranh chấp gì.
  • Ông Đ thống nhất theo Sơ đồ đo đạc đất tranh chấp số: 01/SĐ.ĐÐ/ CNVP.ĐKĐĐ 2022; 02/SÐ.ÐÐ/ CNVP.ĐKĐĐ 2022; 09/SÐ.ĐÐ/ CNVP.ĐKĐĐ 2022; 10/SĐ.ĐÐ/ CNVP.ĐKĐĐ 2022; 11/SÐ.ĐÐ/ CNVP.ĐKĐĐ 2022 huyện L được đo vẽ cùng ngày 09/8/2022 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện L và Biên bản xem xét thẩm định tại chổ và Biên bản định giá của hội đồng định giá huyện L cùng ngày 13/7/2022 đối với các thửa đất và không đồng ý đối với thửa 85 cùng căn nhà trên thửa đất.
  • - Về nợ chung Nguyễn Tấn Đ trình bày: Vợ chồng có nợ Cửa hàng Vật liệu xây dựng P số tiền 37.885.000đ và số tiền cố đất cho anh K 300.000.000₫ ông Đ yêu cầu chia đôi mỗi người trả ½ số nợ trên.
  • Hiện bản chính giấy chứng nhận QSD đất thửa 94 ông Đ đang giữ không thế chấp ai.

Bị đơn Nguyễn Thị H trình bày:

  • - Về hôn nhân: Vào khoảng năm 1999 bà H và ông Đ tìm hiểu quen nhau rồi chung sống với nhau như vợ chồng, đến năm 2002 có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp, cuộc sống thời gian đầu rất hạnh phúc nhưng về sau có nhiều điểm bất đồng cuộc sống hôn nhân không mang lại hạnh phúc, trong đời sống hằng ngày thường phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, từ những nguyên nhân đó dẫn đến cuộc sống hôn nhân không đạt nay bà H đồng ý ly hôn với Nguyễn Tấn Đ.
  • - Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Thị Mộng T1, sinh ngày 30/10/2008 bà H yêu cầu nuôi con và yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con theo quy định.
  • - Về tài sản chung: Vợ chồng có 08 thửa đất gồm thửa 04, thửa 35 cùng tờ bản đồ số 71; thửa 85; thửa 94 cùng tờ bản đồ 57 tọa lạc tại xã L; thửa 80, thửa 280, thửa 69; thửa 93 cùng tờ bản đồ số 63 tọa lạc tại xã H và căn nhà cấp 4 nằm trên thửa đất 85 bà H đồng ý chia đôi tất cả số đất trên cùng căn nhà Tòa chia đâu thì bà H nhận ở đó bà H yêu cầu được nhận căn nhà và trả giá trị cho ông Đ. Các đồ đạt vật dụng trong nhà bà H không yêu cầu hay tranh chấp gì. Đối với ba chiếc xe máy trước đây bà H yêu cầu nay bà H xin rút phần yêu cầu này.
  • Bà H thống nhất theo Sơ đồ đo đạc đất tranh chấp số: 01/SĐ.ĐĐ/ CNVP.ĐKĐĐ 2022; 02/SÐ.ĐÐ/CNVP.ĐKĐĐ 2022; 09/SÐ.ĐÐ/CNVP.ĐKĐĐ 2022; 10/SĐ.ĐĐ/CNVP.ĐKĐĐ 2022; 11/SĐ.ĐÐ/ CNVP.ĐKĐĐ 2022 huyện L được đo vẽ cùng ngày 09/8/2022 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện L và Biên bản xem xét thẩm định tại chổ và Biên bản định giá của hội đồng định giá huyện L cùng ngày 13/7/2022.
  • - Về nợ chung Nguyễn Thị H trình bày: Bà H thừa nhận vợ có nợ tiền Cửa hàng Vật liệu xây dựng Phước T số tiền 37.885.000đ bà H đồng ý chia đôi số nợ này nhưng không đồng ý trả lãi còn đối với số nợ tiền cố đất ông K thì bà H hoàn toàn không hay biết gì bà H chỉ nghe nói là cho mướn thôi nên bà H không đồng ý với số nợ này.
  • Hiện bản chính giấy chứng nhận QSĐ đất thửa 04, thửa 35 cùng tờ bản đồ số 71; thửa 85 cùng tờ bản đồ 57; thửa 80, thửa 280, thửa 69; thửa 93 cùng tờ bản đồ số 63 bà H đang giữ không thế chấp ai.

Tại bản án sơ thẩm số: 100/2023/HNGĐ-ST ngày 11/9/2023, Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp đã quyết định:

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Nguyễn Tấn Đ được ly hôn với Nguyễn Thị H.
  2. Về con chung: Nguyễn Thị H được quyền tiếp tục nuôi con chung tên Nguyễn Thị Mộng T1, sinh ngày 30/10/2008.

    Nguyễn Thị H cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở Nguyễn Tấn Đ trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con khi ly hôn.

  3. Về cấp dưỡng: Nguyễn Tấn Đ tự nguyện cấp dưỡng nuôi con là ½ tháng lương cơ sở đến khi con đủ 18 tuổi, thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 10/2023.
  4. Xác nhận khối tài sản chung của ông Nguyễn Tấn Đ và bà Nguyễn Thị H gồm thửa 04, thửa 35 cùng tờ bản đồ số 71; thửa 85; thửa 94 cùng tờ bản đồ 57 tọa lạc tại xã L; thửa 80, thửa 280, thửa 69; thửa 93 cùng tờ bản đồ số 63 tọa lạc tại xã H và căn nhà cấp 4 nằm trên thửa 85.

    Ông Nguyễn Tấn Đ được quyền sử dụng các thửa đất gồm:

    • - Thửa 94 tờ bản đồ 57 diện tích 2.174,2m² từ mốc M1; M2; M3; M4; M5 về M1 đất tọa lạc tại xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
    • - Thửa 93 tờ bản đồ 63 diện tích 6.222,3m² từ mốc M1; M2; M3; M4; M5; M6; M7; M8; M9; M10; M11; M12; M13; M14 về M1 đất tọa lạc tại xã H, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
    • - Thửa 80 tờ bản đồ 63 diện tích 929,6m² từ mốc M9; M10; M11; M12 về M9 đất tọa lạc tại xã H, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

    Bà Nguyễn Thị H được quyền sử dụng các thửa đất gồm:

    • - Thửa 280 tờ bản đồ 63 diện tích 1.290,4m² từ mốc M2; M3; M4; M5 về M2 đất tọa lạc tại xã H, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
    • - Thửa 69 tờ bản đồ 63 diện tích 3.262,9m² từ mốc M2; M5; M6; M7; M8 về M2 đất tọa lạc tại xã H, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
    • - Thửa 4 tờ bản đồ 71 diện tích 2.133,2 m² từ mốc M1; M2; M3; M4; M8; M9 về M1 đất tọa lạc tại xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
    • - Thửa 35 tờ bản đồ 71 diện tích theo đo đạc thực tế 2.550,9m² từ mốc M8; M4; M5; M6; M7 về M8 đất tọa lạc tại xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
    • - Thửa 85 tờ bản đồ 57 diện tích 666,9m² từ mốc M1; M2; M3; M4 về M1 đất tọa lạc tại xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp và căn nhà cấp 4 nằm trên thửa đất gồm nhà chính nền gạch Ceramic, vách tường dán gạch, mái tol sóng vuông cửa kéo Đài Loan diện tích 107,8m²; mái che nền gạch Ceramic, vách tường dán gạch men, mái tol sóng vuông khung sắt diện tích 25m²; nhà sau nền gạch tàu vách tường mái tol sóng tròn diện tích 33,95m²; nhà kho khung sắt, mái tol sóng vuông, vách tol diện tích 243m².

    (Kèm theo Sơ đồ đo đạc đất tranh chấp số: 01/SĐ.ĐÐ/CNVP.ĐKĐĐ 2022; 02/SĐ.ĐÐ/CNVP.ĐKĐĐ 2022; 09/SĐ.ĐÐ/CNVP.ĐKĐĐ 2022; 10/SĐ.ĐÐ/CNVP.ĐKĐĐ 2022; 11/SĐ.ĐÐ/CNVP.ĐKĐĐ 2022 huyện L được đo vẽ cùng ngày 09/8/2022 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện L và Biên bản xem xét thẩm định tại chổ và Biên bản định giá của hội đồng định giá huyện L cùng ngày 13/7/2022.)

    Khi bản án có hiệu lực pháp luật các đương sự được quyền đến các Cơ quan có thẩm quyền đăng ký, điều chỉnh diện tích quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất đối với phần đất, nhà đã tuyên trên.

    Bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ trả lại cho ông Đ số tiền chênh lệch về tài sản là 295.089.000 đồng (Hai trăm chín mươi lăm triệu, không trăm tám mươi chín nghìn đồng).

  5. Đình chỉ một phần yêu cầu của bà Nguyễn Thị H về việc yêu cầu chia tài sản chung là ba chiếc máy.
  6. Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Phước T về việc yêu cầu ông Nguyễn Tấn Đ, bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Phước T số tiền vốn 37.885.000 đồng, lãi 9.433.000 đồng, tổng cộng vốn và lãi là 47.318.000 đồng.

    Buộc ông Nguyễn Tấn Đ, bà Nguyễn Thị H phải có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Nguyễn Phước T số tiền vốn 37.885.000đ, lãi 9.433.000đ, tổng cộng vốn và lãi là 47.318.000 đồng (Bốn mươi bảy triệu, ba trăm mười tám nghìn đồng).

  7. Chấp nhận yêu cầu độc lập của anh Lưu Tấn K về việc yêu cầu ông Nguyễn Tấn Đ, bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ trả cho anh K số tiền 300.000.000₫.

    Buộc ông Nguyễn Tấn Đ, bà Nguyễn Thị H phải có nghĩa vụ liên đới trả cho anh Lưu Tấn K số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng).

    Anh Lưu Tấn K đồng ý trả lại cho ông Nguyễn Tấn Đ, bà Nguyễn Thị H quyền sử dụng đất thửa đất 93 tờ bản đồ số 63 tọa lạc tại xã H, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

    Tuyên bố hợp đồng thỏa thuận cố đất ngày 01/01/2021 giữa anh Lưu Tấn K và ông Nguyễn Tấn Đ vô hiệu.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) mà người phải thi hành án chưa thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  8. Về chi phí, thẩm định tại chỗ:

    Ông Nguyễn Tấn Đ phải chịu chi phí thẩm định tại chỗ và định giá là 13.928.500 đồng (Mười ba triệu, chín trăm hai mươi tám nghìn, năm trăm đồng) ông Nguyễn Tấn Đ đã nộp xong.

    Bà Nguyễn Thị H phải chịu chi phí thẩm định tại chỗ và định giá 13.928.500 đồng (Mười ba triệu, chín trăm hai mươi tám nghìn, năm trăm đồng) số tiền này ông Nguyễn Tấn Đ đã tạm nộp nên bà Nguyễn Thị H phải có nghĩa vụ trả lại cho ông Nguyễn Tấn Đ 13.928.500 đồng (Mười ba triệu, chín trăm hai mươi tám nghìn, năm trăm đồng) phí thẩm định tại chỗ và định giá.

  9. Về án phí và tạm ứng án phí:

    Ông Nguyễn Tấn Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) mà ông Đ đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0005785, ngày 20/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp (ông Đ đã nộp xong) và 300.000 đồng án phí về cấp dưỡng nhưng khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) mà ông Nguyễn Tấn Đ đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0005784, ngày 20/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp (ông Nguyễn Tấn Đ đã nộp xong)

    Ông Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về phần tài sản được hưởng là 36.136.200 đồng (Ba mươi sáu triệu, một trăm ba mươi sáu nghìn, hai trăm đồng) nhưng được khấu trừ 39.015.200 đồng (Ba mươi chín triệu, không trăm mười lăm nghìn, hai trăm đồng) đã nộp theo biên lai thu số 0005788 ngày 25/10/2021 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp. Ông Nguyễn Tấn Đ được nhận lại 2.879.000 đồng (Hai triệu, tám trăm bảy mươi chín nghìn đồng).

    Bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về phần tài sản được hưởng là 39.038.500 đồng (Ba mươi chín triệu, không trăm ba mươi tám nghìn, năm trăm đồng) nhưng được khấu trừ 750.000 đồng (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 0005891 ngày 09/12/2021 và 6.958.000₫ (Sáu triệu, chín trăm năm mươi tám nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 0005940 ngày 19/01/2022 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp, bà Nguyễn Thị H còn phải nộp 31.330.500 đồng (Ba mươi mốt triệu, ba trăm ba mươi nghìn, năm trăm đồng).

    Ông Nguyễn Tấn Đ và bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí về phần nợ là 17.365.900 đồng (Mười bảy triệu, ba trăm sáu mươi lăm nghìn, chín trăm đồng).

    Hoàn trả cho anh Lưu Tấn K tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 7.500.000 đồng (Bảy triệu, năm trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng lệ phí, án phí Tòa án số 0010686, ngày 25/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

    Hoàn trả cho ông Nguyễn Phước T tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 1.231.000 đồng (Một triệu, hai trăm ba mươi mốt nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng lệ phí, án phí Tòa án số 0010702, ngày 26/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về quyền và thời hạn kháng cáo của đương sự, quyền và nghĩa vụ của người được thi hành án, người phải thi hành án, thời hiệu thi hành án theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm:

Ngày 12 tháng 9 năm 2023 và ngày 04 tháng 01 năm 2024 nguyên đơn Nguyễn Tấn Đ có đơn kháng cáo và kháng cáo với nội dung yêu cầu sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng chia đôi thửa đất số 85, tờ bản đồ số 57, diện tích đất 666,9m² và căn nhà cấp 4 trên đất hoặc nếu bà H nhận được toàn bộ tài sản nêu trên thì bà H phải trả giá trị cho ông Đ 600.000.000 đồng, nếu ông Đ nhận được toàn bộ tài sản nêu trên thì ông Đ sẽ trả giá trị cho bà H 600.000.000 đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn Nguyễn Tấn Đ trình bày không rút đơn khởi kiện và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Bị đơn Nguyễn Thị H trình bày không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn Nguyễn Tấn Đ về việc yêu cầu chia đôi thửa đất số 85, tờ bản đồ số 57, diện tích đất 666,9m² và căn nhà cấp 4 trên đất; không đồng ý trả 1/2 giá trị nhà và đất thửa 85 là 600.000.000 đồng như ông Đ yêu cầu, bà thống nhất theo như giá Hội đồng xét xử quyết định.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát:

  • - Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, đương sự và người tham gia tố tụng khác đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý phúc thẩm và xét xử. Đơn kháng cáo của ông Đ đúng thời hạn luật định nên hợp lệ.
  • - Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm ông Đ vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, bà H không đồng ý với yêu cầu của ông Đ nên đã yêu cầu Công ty thẩm định giá đối với nhà và đất tại thửa 85. Qua đó, theo giá mà Công ty thẩm định giá đã cung cấp thì nhà, đất tại thửa 85 có giá là 1.000.000.000₫ (làm tròn số). Tuy nhiên, ông Đ vẫn giữ nguyên yêu cầu được sử dụng nhà, đất để thờ cúng cha, mẹ và đồng ý thối giá trị nhà, đất tại thửa 85 cho bà H với số tiền là 600.000.000đ. Hội đồng xét xử đã phân tích động viên để bà H được nhận nhà, đất tại thửa 85 và thối giá trị lại cho ông Đ nhưng bà H kiên quyết không đồng ý. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Đ, sửa một phần bản án sơ thẩm đối với việc xem xét, nhà, đất tại thửa 85; Đề nghị Hội đồng xét xử giao nhà, đất tại thửa 85 cho ông Đ quản lý sử dụng. Ông Đ phải có nghĩa vụ thối giá trị nhà, đất tại thửa 85 cho bà H với số tiền là 600.000.000đ; Bà H được lưu cư trong thời hạn là 12 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Tấn Đ đối với bà Nguyễn Thị H được Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp về hôn nhân và gia đình là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ông Đ không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm nên có kháng cáo. Tòa án T2 thụ lý giải quyết vụ án theo trình tự phúc thẩm phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 38 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Tấn Đ, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:

Ông Đ và bà H cùng thống nhất vợ chồng có 08 thửa đất, trong đó có thửa đất số 85 cùng căn nhà cấp 4 trên đất, 08 thửa đất này hai bên xác định là tài sản chung của vợ chồng nên yêu cầu chia tài sản chung khi ly hôn là phù hợp với quy định pháp luật.

Theo đó: ông Đ và bà H đã thỏa thuận được 07 thửa đất cụ thể như sau:

  • + Ông Đ được quản lý sử dụng 03 thửa đất gồm: thửa 80, thửa 93 và thửa 94; có tổng diện tích là: 9.326,1m²;
  • + Bà H được quản lý sử dụng 04 thửa đất gồm: thửa 4, thửa 35, thửa 69, thửa 280, có tổng diện tích là: 9.237m².

Tại phiên tòa phúc thẩm, Ông Đ và bà H đồng ý với việc thỏa thuận này, hai bên đều không yêu cầu bù giá trị chênh lệch.

Ngoài ra, các bên còn thống nhất phần nợ chung theo án sơ thẩm đã xét xử nên cả hai không có kháng cáo.

Riêng đối với thửa 85 gồm đất ở và đất trồng cây lâu năm, tờ bản đồ số 57 có diện tích 666,9m² và căn nhà trên đất. Tại phiên tòa phúc thẩm: ông Đ, bà H đều yêu cầu được sử dụng nhà + đất tại thửa 85; Ông Đ tự định giá nhà và đất tại thửa 85 là 1.200.000.000₫ nên đồng ý thối giá trị cho bà H số tiền là 600.000.000đ nếu bà H giao nhà + đất tại thửa 85 cho ông quản lý, sử dụng; Còn nếu bà H quản lý, sử dụng thì phải thối giá trị lại cho ông Đ với số tiền là 600.000.000đ; Với yêu cầu này của ông Đ, bà H không đồng ý; bà H đã yêu cầu tạm ngừng phiên tòa để bà H yêu cầu Công ty thẩm định giá định giá nhà và đất tại thửa 85 tờ bản đồ số 57. Vào ngày 03/7/2024 bà H cung cấp chứng thư thẩm định giá số 0002/24/CN/DTH của Công ty cổ phần D cho kết quả như sau: giá trị đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa 85 tờ bản đồ số 57, đất tọa lạc tại ấp L, xã L, Huyện L, tỉnh Đồng Tháp được thẩm định giá là 1.001.001.510đ (Một tỷ không trăm lẻ một triệu, không trăm lẻ một nghìn năm trăm mười đồng). Với kết quả định gia này, bà H đồng ý thối giá trị nhà, đất tại thửa 85 cho ông Đ là 500.000.000đ để quản lý, sử dụng nhà đất; Còn ông Đ thì không đồng ý theo ý kiến của bà H mà vẫn giữ nguyên ý kiến là yêu cầu quản lý, nhà + đất tại thửa 85, ông Đ đồng ý thối giá trị cho bà H với số tiền là 600.000.000đ; còn nếu bà H quản lý, sử dụng nhà, đất tại thửa 85 thì thối giá trị lại cho ông số tiền là 600.000.000₫.

Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án và căn cứ hiện trạng thực tế; Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:

  • + Thửa đất 85, tờ bản đồ 57 có nguồn gốc là của bên gia đình ông Đ: ông Đ trình bày là của cha mẹ ông Đ tặng cho; Bà H trình bày là của vợ chồng nhận chuyển nhượng của bên gia đình chồng; Hội đồng xét xử xác định đây là tài sản chung của ông Đ, bà H có được trong thời kỳ hôn nhân. Nhưng về hiện trạng thực tế đây là phần đất nằm cặp ranh đất với bên anh, chị, em của ông Đ.
  • + Trên thửa đất 85 có căn nhà cấp 4 của vợ chồng ông Đ xây dựng và là nơi thờ cúng mẹ ông Đ.
  • + Mặc dù thửa đất 85 có diện tích là 666,9m² nhưng về hiện trạng không thể chia đôi bằng hiện vật được vì căn nhà được xây dựng ở giữa thửa đất; trước căn nhà thì ông Đ, bà H dựng lên thành một nhà kho để cho thuê, nhà kho được xây dựng hết mặt trước của căn nhà (mái tol, xung quanh xây tường 20cm, tường cao 2m, khung nhà tiền chế, nền lót gạch men).
  • + Về giá trị thửa đất + căn nhà trên đất: ông Đ đưa ra giá là 1.200.000.000₫ mặc dù không phải là giá do Hội đồng định giá đã định hay giá của Công ty thẩm định nào nhưng việc đưa ra giá là có lợi cho bà H, vì ngoài thửa đất này thì bà H còn được chia 04 thửa đất ở vị trí khác; Như vậy, bà H cũng có thể xây dựng được nơi ở mới và cũng đảm bảo quyền lợi cho bà H.

Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Đ, sửa một phần bản án sơ thẩm; Theo đó, ông Đ được quyền quản lý, sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất tại thửa 85 tờ bản đồ số 57 và có nghĩa vụ thối ½ giá trị đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa 85 cho bà H với số tiền là 600.000.000đ.

Ông Đ đồng ý cho bà H được lưu cư là 12 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Ông Đ đồng ý giao toàn bộ, vật dụng có trong nhà cho bà H, quản lý sử dụng.

Do sửa án sơ thẩm nên ông Đ không phải chịu tiền án phí phúc thẩm.

Bà H phải chịu chi phí đối với yêu cầu Công ty thẩm định giá.

Xét lời trình bày và đề nghị của Đại diện Viện Kiểm S là có căn cứ và phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, Điều 38, Điều 147, Điều 148, khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Tấn Đ.
  2. Sửa một phần quyết định bản án sơ thẩm số: 100/2023/HNGĐ-ST ngày 11 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

Tuyên xử:

  • - Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Nguyễn Tấn Đ; Ông Nguyễn Tấn Đ được ly hôn với bà Nguyễn Thị H.
  • - Về con chung:

    Nguyễn Thị H được quyền tiếp tục nuôi con chung tên Nguyễn Thị Mộng T1, sinh ngày 30/10/2008.

    Ông Nguyễn Tấn Đ tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung tên Nguyễn Thị Mộng T1 sinh ngày 30/10/2008 là ½ tháng lương cơ sở, thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 10/2023 đến khi con đủ 18 tuổi, tự lao động được.

    Nguyễn Thị H cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở Nguyễn Tấn Đ trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con khi ly hôn.

  • - Về tài sản chung:

    Ông Nguyễn Tấn Đ được quyền sử dụng các thửa đất gồm:

    • + Thửa 94 tờ bản đồ 57 diện tích 2.174,2m² loại đất lúa, từ mốc M1; M2; M3; M4; M5 về M1 đất tọa lạc tại xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
    • + Thửa 93 tờ bản đồ 63 diện tích 6.222,3m² loại đất lúa, từ mốc M1; M2; M3; M4; M5; M6; M7; M8; M9; M10; M11; M12; M13; M14 về M1 đất tọa lạc tại xã H, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
    • + Thửa 80 tờ bản đồ 63 diện tích 929,6m² loại đất lúa, từ mốc M9; M10; M11; M12 về M9 đất tọa lạc tại xã H, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
    • + Thửa 85 tờ bản đồ 57 diện tích 666,9m² (trong đó có 300m² đất ở nông thôn và 366,9 m² đất cây lâu năm) từ mốc M1; M2; M3; M4 về M1 đất tọa lạc tại xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp và căn nhà cấp 4 nằm trên thửa đất gồm nhà chính nền gạch Ceramic, tường dán gạch, mái tol sóng vuông cửa kéo Đài Loan tích 107,8m²; mái che nền gạch Ceramic, tường dán gạch men, mái tol sóng vuông khung sắt diện tích 25m²; nhà sau nền gạch tàu vách tường mái tol sóng tròn diện tích 33,95m²; nhà kho khung sắt, mái tol sóng vuông, vách tol, nền gạch diện tích 243m².

    Ông Đ đồng ý trả giá trị đất và tài sản gắn liền trên đất tại thửa 85 cho bà H với số tiền là 600.000.000₫ (Sáu trăm triệu đồng);

    Thời gian lưu cư của bà H trên thửa đất 85 là 12 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

    Bà Nguyễn Thị H được quyền sử dụng các thửa đất gồm:

    • + Thửa 280 tờ bản đồ 63 diện tích 1.290,4m² loại đất lúa, từ mốc M2; M3; M4; M5 về M2 đất tọa lạc tại xã H, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
    • + Thửa 69 tờ bản đồ 63 diện tích 3.262,9m² loại đất lúa, từ mốc M2; M5; M6; M7; M8 về M2 đất tọa lạc tại xã H, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
    • + Thửa 04 tờ bản đồ 71 diện tích 2.133,2 m² loại đất lúa, từ mốc M1; M2; M3; M4; M8; M9 về M1 đất tọa lạc tại xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
    • + Thửa 35 tờ bản đồ 71 diện tích theo đo đạc thực tế 2.550,9m² loại đất lúa, từ mốc M8; M4; M5; M6; M7 về M8 đất tọa lạc tại xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

    (Kèm theo Sơđo đạc đất tranh chấp số: 01/SĐ.ĐÐ/ CNVP.ĐKĐĐ 2022; 02/SĐ.ĐÐ/CNVP.ĐKĐĐ 2022; 09/SĐ.ĐÐ/CNVP.ĐKĐĐ 2022;10/SĐ.ĐÐ/ CNVP.ĐKĐĐ 2022; 11/SĐ.ĐÐ/ CNVP.ĐKĐĐ 2022 huyện L được đo vẽ cùng ngày 09/8/2022; Sơ đồ đo đạc phần đất tranh chấp số 06/SĐ.ĐĐ/CNVP ĐKĐĐ 2024 của Chi nhánh văn đăng ký đất đai huyện L và Biên xem xét thẩm định tại chỗ ngày 13/7/2022; Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 10/5/2024 và Biên định giá của hội đồng định giá huyện L ngày 13/7/2022).

    Đình chỉ một phần yêu cầu của bà Nguyễn Thị H về việc yêu cầu chia tài sản chung là ba chiếc xe máy.

  • - Về nợ chung
    • + Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Phước T về việc yêu cầu ông Nguyễn Tấn Đ, bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Phước T số tiền vốn 37.885.000 đồng, tiền lãi là 9.433.000 đồng, tổng cộng vốn và lãi là 47.318.000 đồng.

      Buộc ông Nguyễn Tấn Đ, bà Nguyễn Thị H phải có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Nguyễn Phước T số tiền vốn 37.885.000đ, lãi 9.433.000đ, tổng cộng vốn và lãi là 47.318.000 đồng (Bốn mươi bảy triệu, ba trăm mười tám nghìn đồng).

    • + Chấp nhận yêu cầu độc lập của anh Lưu Tấn K về việc yêu cầu ông Nguyễn Tấn Đ, bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ trả cho anh K số tiền 300.000.000₫.

      Buộc ông Nguyễn Tấn Đ, bà Nguyễn Thị H phải có nghĩa vụ liên đới trả cho anh Lưu Tấn K số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng).

      Anh Lưu Tấn K đồng ý trả lại cho ông Nguyễn Tấn Đ, bà Nguyễn Thị H quyền sử dụng thửa đất 93 tờ bản đồ số 63 tọa lạc tại xã H, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

      Tuyên bố hợp đồng thỏa thuận cố đất ngày 01/01/2021 giữa anh Lưu Tấn K và ông Nguyễn Tấn Đ là vô hiệu.

      Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiên phải trả cho người được thi hành án) mà người phải thi hành án chưa thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  • - Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản:
    • + Ông Nguyễn Tấn Đ phải chịu chi phí thẩm định tại chỗ và định giá là 13.928.500 đồng (Mười ba triệu, chín trăm hai mươi tám nghìn, năm trăm đồng) ông Nguyễn Tấn Đ đã nộp xong.

      Ông Đ phải chịu tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ ở cấp phúc thẩm với số tiền là 3.850.000 đồng (Số tiền này ông Đ đã nộp và đã chi xong);

    • + Bà Nguyễn Thị H phải chịu chi phí thẩm định tại chỗ và định giá 13.928.500 đồng (Mười ba triệu, chín trăm hai mươi tám nghìn, năm trăm đồng) số tiền này ông Nguyễn Tấn Đ đã tạm nộp nên bà Nguyễn Thị H phải có nghĩa vụ trả lại cho ông Nguyễn Tấn Đ 13.928.500 đồng (Mười ba triệu, chín trăm hai mươi tám nghìn, năm trăm đồng) phí thẩm định tại chỗ và định giá.

      Bà H phải chịu chi phí yêu cầu Công ty thẩm định giá, định giá lại tài sản (Số tiền này bà H đã nộp và đã chi xong).

  • - Về án phí dân sự:
    • + Về án phí dân sự sơ thẩm

      Ông Nguyễn Tấn Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) mà ông Đ đã nộp tạm ứng án phí theo biên số 0005785, ngày 20/10/2021 của C cụchành án dân sự huyện L, tỉnh Đồng Tháp (ông Đ đã nộp xong) và 300.000 đồng án phí về cấp dưỡng nhưng khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) mà ông Nguyễn Tấn Đ đã nộp tạm ứng án phí theo biên số 0005784, ngày 20/10/2021 của C cụchành án dân sự huyện L, tỉnh Đồng Tháp (ông Nguyễn Tấn Đ đã nộp xong)

      Ông Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về phần tài sản được hưởng là 48.185.000 đồng nhưng được khấu trừ 39.015.200 đồng (Ba mươi chín triệu, không trăm mười lăm nghìn, hai trăm đồng) đã nộp theo biên thu số 0005788 ngày 25/10/2021 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp. Ông Nguyễn Tấn Đ còn phải nộp tiếp số tiền là 9.169.800₫.

      Bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về phần tài sản được hưởng là 46.607.000 đồng nhưng được khấu trừ 750.000 đồng (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 0005891 ngày 09/12/2021 và 6.958.000₫ (Sáu triệu, chín trăm năm mươi tám nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 0005940 ngày 19/01/2022 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp; Bà Nguyễn Thị H còn phải nộp 38.899.000₫.

      Ông Nguyễn Tấn Đ và bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí về phần nợ là 17.365.900 đồng (Mười bảy triệu, ba trăm sáu mươi lăm nghìn, chín trăm đồng).

      Hoàn trả cho anh Lưu Tấn K tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 7.500.000 đồng (Bảy triệu, năm trăm nghìn đồng) theo Biên thu tạm ứng lệ phí, án phí Tòa án số 0010686, ngày 25/10/2022 của C cục Thi hành án dân sự huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

      Hoàn trả cho ông Nguyễn Phước T tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 1.231.000 đồng (Một triệu, hai trăm ba mươi mốt nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng lệ phí, án phí Tòa án số 0010702, ngày 26/10/2022 của C cục Thi hành án dân sự huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

    • + Về án phí phúc thẩm:

      Ông Đ được nhận lại 300.000đ tiền án phí phúc thẩm theo biên lai số 0007336 ngày 22/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

- Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

  • - Các đương sự;
  • - VKSND Tỉnh;
  • - TAND huyện Lai Vung ;
  • - CCTHADS huyện Lai Vung;
  • - Phòng GĐKTNV-THA;
  • - Lưu: VT, HS (Châu)

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Khắc Thịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2024/HNGĐ-PT ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về ly hôn, tranh chấp nuôi con, cấp dưỡng, chia tài sản chung và nợ chung khi ly hôn; hợp đồng mua bán; hợp đồng cầm cố qsd đất

  • Số bản án: 23/2024/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con, cấp dưỡng, chia tài sản chung và nợ chung khi ly hôn; hợp đồng mua bán; hợp đồng cầm cố QSD đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger