Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỸ TÚ

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

-

Bản án số: 23/2024/HS-ST

Ngày: 12 – 7 – 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Thanh Hoa.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đặng Duy Tân.

Ông Nguyễn Văn Châu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Minh Tiến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Võ Thanh Tuấn – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: La Quang H (T), sinh ngày 05/7/1987; nơi sinh: Tại tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký HKTT: Thôn K, xã Đ, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; chỗ ở hiện nay: Thôn K, xã Đ, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông La Văn C (chết) và bà Hoàng Thị P, sinh năm 1969 (sống); tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 16/02/2024 đến ngày 22/02/2024 chuyển tạm giam cho đến nay (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Ông Nguyễn Văn Ú, sinh năm 1971, địa chỉ: ấp X, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt vì có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt).
  • - Bà Nguyễn Thị C1, sinh năm 1963, địa chỉ: ấp X, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt vì có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt).
  • - Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1969, địa chỉ: ấp X, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt vì có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt).
  • - Bà Trần Thị Út M, sinh năm 1974, địa chỉ: ấp X, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt vì có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt).
  • - Bà Trần Ngọc Đ, sinh năm 1964, địa chỉ: ấp X, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt vì có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt).
  • - Bà Trần Thị Thanh K, sinh năm 1976, địa chỉ: ấp T, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
  • - Bà Trần Thị D, sinh năm 1986, địa chỉ: ấp X, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt vì có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt).
  • - Bà Kim Thị Kiều T2, sinh năm 1990, địa chỉ: ấp M, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
  • - Ông Dương Văn H1, sinh năm 1975, địa chỉ: ấp X, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt vì có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt).
  • - Bà Nguyễn Thị Ú1, sinh năm 1966, địa chỉ: ấp P, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt vì có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt).
  • - Ông Lê Văn H2, sinh năm 1975, địa chỉ: ấp P, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt vì có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt).
  • - Ông Lê Văn N, sinh năm 1973, địa chỉ: ấp P, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng ( vắng mặt vì có đơn xin giải quyết vắng mặt).
  • - Ông Lê Hải K1, sinh năm 1972, địa chỉ: ấp P, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
  • - Ông Phan Văn Đ1, sinh năm 1982, địa chỉ: ấp P, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt vì có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt).
  • - Ông Trương Văn T3, sinh năm 1976, địa chỉ: ấp P, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
  • - Ông Nguyễn Văn T4, sinh năm 1980, địa chỉ: ấp P, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt vì có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt).
  • - Bà Tiền Thị Út B, sinh năm 1976, địa chỉ: ấp P, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt vì có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt).
  • - Ông Nguyễn Thanh N1, sinh năm 1987, địa chỉ: ấp P, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt vì có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt).
  • - Bà Nguyễn Thị Tố O, sinh năm 1962, địa chỉ: ấp X, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt vì có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt).
  • - Bà Nguyễn Thị Diệu H3, sinh năm 1969, địa chỉ: ấp X, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt vì có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt).
  • - Bà Đinh Thị M1, sinh năm 1963, địa chỉ: ấp T, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt vì có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt).
  • - Ông Phạm Văn Đ2, sinh năm 1990, địa chỉ: ấp T, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt vì có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt).
  • - Bà Cao Thị H4, sinh năm 1961, địa chỉ: ấp P, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt vì có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt).
  • - Bà Lê Ngọc Đ3, sinh năm 1977, địa chỉ: ấp M, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt vì có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng thời gian từ tháng 03/2023 đến ngày 18/10/2023, bị cáo làm thuê cho đối tượng tên Khu (chưa xác định được nhân thân lai lịch), về việc cho vay tiền (vay góp ngày và vay lãi đứng) với mức lương 5.000.000 đồng/tháng và chi phí đi lại 300.000 đồng/ngày. Nguồn tiền vốn cho vay là do đối tượng K2 cung cấp để thực hiện việc cho vay ở các xã trên địa bàn thuộc huyện M. Cơ quan CSĐT Công an huyện M xác định có tổng cộng 46 người dân đã vay tiền của bị cáo trên địa bàn huyện M, tỉnh Sóc Trăng, cụ thể gồm: xã M 21 người, xã M 07 người, xã M 16 người và xã M 02 người; đã làm việc được 24 người và vắng mặt địa phương, không xác định được nhân thân lai lịch là 22 người.

Hành vi cho vay lãi nặng của La Quang H với thủ đoạn cho vay lãi nặng là in tờ rơi, với nội dung “CHO VAY TIỀN GÓP” kèm số điện thoại. Sau đó đi phát tán cho người quen thông qua mối quan hệ bạn bè ngoài xã hội và phát tán nhiều nơi trên địa bàn huyện M. Khi có người dân liên hệ qua số điện thoại cần vay tiền thì bị cáo Huy tiến hành hẹn gặp trực tiếp với người vay và thỏa thuận cho vay tiền với động cơ, mục đích cuối cùng là lấy lãi suất cao nhằm vụ lợi cho bản thân.

Hình thức cho vay bao gồm: “tiền góp ngày” và “tiền lãi đứng” với lãi suất như sau:

  • Vay góp theo ngày thì lãi suất 20%/số tiền gốc cho vay/24 ngày (tương đương với 0,833%/số tiền gốc cho vay/ngày, tức 304%/năm);
  • Vay góp lãi đứng thì thu tiền lãi 60.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày (tương đương 6%/ngày, tức 2.190%/năm);

Với mức lãi suất cho vay gấp 36,5 lần so với mức lãi suất tối đa cho phép theo quy định pháp luật (lãi suất tối đa cho phép theo quy định trong Bộ luật Dân sự là 0,055%/ngày), tức là La Quang H cho vay: nếu vay góp ngày 0,833%/ngày, nếu vay lãi đứng 6%/ngày) và vượt trên mức 05 lần theo quy định của Bộ luật Dân sự (lãi suất cho phép vượt gấp 05 lần là 0,278%/ngày). Mỗi lần cho vay thì bị cáo lấy tiền phí cho vay là 5% đến 10%/tổng tiền vay đối với những lần vay mới và các lần đáo hạn vay.

Theo đó, trong khoảng thời gian từ tháng 3 năm 2023 đến ngày 18 tháng 10 năm 2023, La Quang H đã cho tổng số 46 người vay và đáo hạn vay, trong đó: Đã làm việc và chứng minh, làm rõ cụ thể về cách thức, hình thức vay và trả nợ vay của tổng cộng 24/46 người vay tiền. Tổng số tiền vốn (gốc) của các lượt vay đối với 24 người vay là 411.000.000 đồng; hiện người vay còn thiếu bị cáo tổng số tiền vốn vay là 92.265.000 đồng; tổng tiền phí cho vay mà bị cáo đã thu được từ người vay là 20.050.000 đồng; tổng số tiền lãi bị cáo đã thu đúng quy định pháp luật là 4.082.164 đồng; tổng số tiền lãi mà bị cáo đã thu vượt mức quy định là 60.187.529 đồng. Tổng số tiền bị cáo đã thu lợi bất chính đối với 24 trường hợp vay là: 80.237.529 đồng, cụ thể như sau:

  1. Ông Nguyễn Văn Ú (Út Mỹ H5): Từ ngày 08/8/2023 đến 18/10/2023, ông Ú đã vay tiền góp theo ngày của bị cáo 01 dây, tổng số tiền gốc vay 5.000.000 đồng, tiền phí 250.000 đồng, lãi suất cho vay là 0,833%/ngày. Số tiền lãi tối đa theo quy định của Bộ luật dân sự là 38.000 đồng; số tiền lãi vượt mức so với quy định là 545.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính để truy cứu trách nhiệm hình sự là 795.000 đồng (lãi vượt mức quy định 545.000 đồng + Tiền Phí: 250.000đ). Ông Ú còn thiếu lại số tiền gốc vay là 2.083.000 đồng.
  2. Bà Nguyễn Thị C1 (Chiến M): Từ ngày 24/08/2023 đến 18/10/2023 bà C1 đã vay góp ngày của bị cáo tổng cộng 02 dây, tổng số tiền gốc của các lần vay là 8.000.000 đồng, tiền phí 400.000 đồng, lãi suất cho vay là 0,833%/ngày. Số tiền lãi tối đa theo quy định của Bộ luật dân sự là 61.000 đồng; số tiền lãi vượt mức so với quy định là 871.963 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính để truy cứu trách nhiệm hình sự là 1.272.000 đồng (lãi vượt mức quy định 871.963 đồng + Tiền Phí: 400.000đ). Bà C1 còn thiếu lại số tiền gốc vay là 3.333.000 đồng
  3. Ông Nguyễn Văn T1 (T1 MH): Từ ngày 22/08/2023 đến 18/10/2023, ông T1 đã vay tiền góp ngày của bị cáo 01 dây góp ngày với tổng số tiền vay 3.000.000 đồng, tiền phí 150.000 đồng, lãi suất cho vay là 0,833%/ngày. Số tiền lãi tối đa theo quy định của Bộ luật dân sự là 36.164 đồng; số tiền lãi vượt mức so với quy định là 513.836 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính để truy cứu trách nhiệm hình sự là 664.000 đồng (lãi vượt mức quy định 513.836 đồng + Tiền Phí: 150.000đ). Ông T1 còn thiếu lại số tiền gốc vay là 250.000 đồng.
  4. Bà Trần Thị Út M (Mẫn M): Từ ngày 10/07/2023 đến 18/10/2023, bà M đã vay góp ngày của bị cáo 03 dây, tổng số tiền gốc của các lần vay là 11.000.000 đồng, tiền phí 250.000 đồng, lãi suất cho vay là 0,833%/ngày. Số tiền lãi tối đa theo quy định của Bộ luật dân sự là 136.000 đồng; số tiền lãi vượt mức so với quy định là 1.931.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính để truy cứu trách nhiệm hình sự là 2.181.000 đồng (lãi vượt mức quy định 1.931.000 đồng + Tiền Phí: 250.000đ). Bà M còn thiếu lại số tiền gốc vay là 667.000 đồng.
  5. Bà Trần Ngọc Đ (Đợm MH): Từ ngày 01/3/2023 đến 18/10/2023, bà Đ đã vay góp ngày của bị cáo 02 dây, tổng số tiền gốc của các lần vay là 24.000.000 đồng, tiền phí 1.200.000 đồng, lãi suất cho vay là 0,833%/ngày. Số tiền lãi tối đa theo quy định của Bộ luật dân sự là 266.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính để truy cứu trách nhiệm hình sự là 4.984.000 đồng (lãi vượt mức quy định 3.784.000 đồng + Tiền Phí: 1.200.000đ). Bà Đ còn thiếu lại số tiền gốc là 3.750.000 đồng.
  6. Bà Trần Thị Thanh K (Kiều Mỹ H6): Từ ngày 09/05/2023 đến 18/10/2023 bà K đã vay góp ngày của bị cáo 08 dây, tổng số tiền gốc vay là 31.000.000 đồng,tiền phí là 1.550.000 đồng, lãi suất cho vay là 0,833%/ngày. Số tiền lãi tối đa theo quy định của Bộ luật dân sự là 336.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính để truy cứu trách nhiệm hình sự là 6.322.000 đồng (lãi vượt mức quy định 4.772.000 đồng + Tiền Phí: 1.550.000₫), bà K còn thiếu lại số tiền gốc vay là 5.458.000 đồng
  7. Bà Trần Thị D (Dậy): Từ ngày 04/07/2023 đến 18/10/2023 bà D đã vay của bị cáo với tổng số tiền gốc của các lần vay là 8.000.000 đồng, tiền phí 400.000 đồng, lãi suất cho vay là 0,833%/ngày. Số tiền lãi tối đa theo quy định của Bộ luật dân sự là 81.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính để truy cứu trách nhiệm hình sự là 1.544.000 đồng (lãi vượt mức quy định 1.144.000 đồng + Tiền Phí: 400.000đ), bà D còn thiếu lại số tiền gốc vay là 1.875.000 đồng.
  8. Bà Kim Thị Kiều T2 (T6): Từ ngày 19/4/2023 đến 18/10/2023 bà T2 đã vay góp ngày của bị cáo với tổng số tiền gốc là 12.000.000 đồng, tiền phí là 600.000 đồng, lãi suất cho vay là 0,833%/ngày. Số tiền lãi tối đa theo quy định của Bộ luật dân sự là 140.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính để truy cứu trách nhiệm hình sự là 2.585.000 đồng (lãi vượt mức quy định 1.985.000 đồng + Tiền Phí: 400.000đ), bà T2 còn thiếu lại số tiền gốc vay là 1.375.000 đồng.
  9. Ông Dương Văn H1 (Hiệp Mỹ H): Từ ngày 15/08/2023 đến 18/10/2023 ông H1 đã vay của bị cáo 01 dây góp ngày, đáo hạn tổng cộng 01 lần, tổng số tiền gốc vay là 10.000.000 đồng, tiền phí 500.000 đồng. Số tiền lãi tối đa theo quy định của Bộ luật dân sự là 99.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính để truy cứu trách nhiệm hình sự là 1.901.000 đồng (lãi vượt mức quy định 1.401.000 đồng + Tiền Phí: 500.000₫), ông H1 còn thiếu lại số tiền gốc vay là 2.500.000 đồng
  10. bà Nguyễn Thị Ú1 (Út MP): Từ ngày 01/09/2023 đến 18/10/2023 bà Ú1 đã vay góp ngày của bị cáo 01 dây, đáo hạn 01 lần, tổng số tiền gốc của các lần vay là 7.000.000 đồng, tiền phí 350.000 đồng, lãi suất cho vay là 0,833%/ngày. Số tiền lãi tối đa theo quy định của Bộ luật dân sự là 62.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính để truy cứu trách nhiệm hình sự là 1.230.000 đồng (lãi vượt mức quy định 880.000 đồng + Tiền Phí: 350.000₫), bà Ú1 còn thiếu lại số tiền gốc vay là 2.292.000 đồng.
  11. Ông Lê Văn H2 (Hoàng MP): Từ ngày 01/06/2023 đến 18/10/2023 ông Lê Văn H2 đã vay góp ngày của bị cáo với 05 dây với tổng số tiền gốc của các lần vay là 24.000.000 đồng, tiền phí là 1.200.000 đồng, lãi suất cho vay là 0,833%/ngày. Số tiền lãi tối đa theo quy định của Bộ luật dân sự là 152.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính để truy cứu trách nhiệm hình sự là 3.357.000 đồng (lãi vượt mức quy định 2.157.000 đồng + Tiền Phí: 1.200.000đ), ông H2 còn thiếu lại số tiền gốc vay là 12.458.000 đồng.
  12. Ông Lê Văn N (N.Phước): Từ ngày 20/08/2023 đến 18/10/2023 ông Lê Văn N đã vay góp ngày của bị cáo với 02 dây với tổng số tiền gốc của các lần vay là 15.000.000 đồng, tiền phí là 750.000 đồng, lãi suất cho vay là 0,833%/ngày. Số tiền lãi tối đa theo quy định của Bộ luật dân sự là 121.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính để truy cứu trách nhiệm hình sự là 2.463.000 đồng (lãi vượt mức quy định 1.713.000 đồng + Tiền Phí: 750.000đ), ông N còn thiếu lại số tiền gốc vay là 5.833.000 đồng.
  13. Ông Lê Văn K3 (Khôi MP): Từ ngày 06/10/2023 đến 18/10/2023 ông Lê Văn K3 đã vay góp ngày của bị cáo với 01 dây với tổng số tiền gốc vay là 3.000.000 đồng, tiền phí là 150.000 đồng, lãi suất cho vay là 0,833%/ngày. Số tiền lãi tối đa theo quy định của Bộ luật dân sự là 21.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính để truy cứu trách nhiệm hình sự là 454.000 đồng (lãi vượt mức quy định 304.000 đồng + Tiền Phí: 150.000đ), ông K3 còn thiếu lại số tiền gốc vay là 1.375.000 đồng.
  14. Ông Phan Văn Đ1 (Đấu MP): Từ ngày 20/08/2023 đến 18/10/2023 ông Đ1 đã vay góp ngày của bị cáo với 01 dây với tổng số tiền gốc của các lần vay là 5.000.000 đồng, tiền phí là 250.000 đồng, lãi suất cho vay là 0,833%/ngày. Số tiền lãi tối đa theo quy định của Bộ luật dân sự là 21.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính để truy cứu trách nhiệm hình sự là 554.000 đồng (lãi vượt mức quy định 304.000 đồng + Tiền Phí: 250.000đ), ông Đ1 còn thiếu lại số tiền gốc vay là 3.375.000 đồng.
  15. Ông Trương Văn T3 (Thắng M): Từ ngày 11/09/2023 đến 18/10/2023 ông Trương Văn T3 đã vay góp ngày của bị cáo với 02 dây với tổng số tiền gốc của các lần vay là 10.000.000 đồng, tiền phí là 500.000 đồng, lãi suất cho vay là 0,833%/ngày. Số tiền lãi tối đa theo quy định của Bộ luật dân sự là 115.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính để truy cứu trách nhiệm hình sự là 2.135.000 đồng (lãi vượt mức quy định 1.635.000 đồng + Tiền Phí: 500.000đ), ông T3 còn thiếu lại số tiền gốc vay là 1.250.000 đồng.
  16. Ông Nguyễn Văn T4 (T4): Từ ngày 01/06/2023 đến 18/10/2023 ông Nguyễn Văn T4 đã vay góp ngày của bị cáo với 01 dây, đáo hạn 04 lần với tổng số tiền gốc của các lần vay là 35.000.000 đồng, tiền phí là 1.750.000 đồng, lãi suất cho vay là 0,833%/ngày. Số tiền lãi tối đa theo quy định của Bộ luật dân sự là 416.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính để truy cứu trách nhiệm hình sự là 7.667.000 đồng (lãi vượt mức quy định 5.917.000 đồng + Tiền Phí: 1.750.000đ), ông T4 còn thiếu lại số tiền gốc vay là 3.333.000 đồng.
  17. Bà Tiền Thị Út B (B Mỹ P): Từ ngày 01/3/2023 đến 18/10/2023, bà B đã vay góp ngày của bị cáo 02 dây với tổng số tiền gốc là 25.000.000 đồng, tiền phí là 1.250.000 đồng, lãi suất cho vay là 0,833%/ngày. Số tiền lãi tối đa theo quy định của Bộ luật dân sự là 258.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính để truy cứu trách nhiệm hình sự là 4.909.000 đồng (lãi vượt mức quy định 3.659.000 đồng + Tiền Phí: 1.250.000₫), bà B còn thiếu lại số tiền gốc vay là 5.417.000 đồng.
  18. Ông Nguyễn Thanh N1 (Ngàn M.Phước): Từ ngày 21/08/2023 đến 18/10/2023 ông N1 đã vay góp ngày của bị cáo với 01 dây với tổng số tiền gốc của các lần vay là 5.000.000 đồng, tiền phí là 250.000 đồng, lãi suất cho vay là 0,833%/ngày. Số tiền lãi tối đa theo quy định của Bộ luật dân sự là 16.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính để truy cứu trách nhiệm hình sự là 484.000 đồng (lãi vượt mức quy định 234.000 đồng + Tiền Phí: 250.000đ). Ông N1 còn thiếu lại số tiền gốc vay là 3.750.000 đồng.
  19. Bà Nguyễn Thị Tố O (O1): Từ ngày 01/06/2023 đến 18/10/2023, Bà O đã vay tiền góp ngày của bị cáo 02 dây với tổng số tiền là 95.000.000 đồng, tiền phí 4.750.000 đồng, lãi suất cho vay là 0,833%/ngày. Số tiền lãi tối đa theo quy định của Bộ luật dân sự là 1.195.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính để truy cứu trách nhiệm hình sự là 21.730.000 đồng (lãi vượt mức quy định 16.980.000 đồng + Tiền Phí: 4.750.000₫), bà O còn thiếu lại số tiền gốc vay là 4.125.000 đồng.
  20. Bà Nguyễn Thị Diệu H3 (Hiền M): Từ ngày 01/4/2023 đến 18/10/2023 bà H3 đã vay góp ngày của bị cáo 04 dây với tổng số tiền là 39.000.000 đồng, tiền phí 1.950.000 đồng, lãi suất cho vay là 0,833%/ngày. Số tiền lãi tối đa theo quy định của Bộ luật dân sự là 472.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính để truy cứu trách nhiệm hình sự là 8.661.000 đồng (lãi vượt mức quy định 6.711.000 đồng + Tiền Phí: 1.950.000₫), bà H3 còn thiếu lại số tiền gốc vay là 3.083.000 đồng. Ngoài ra, bà H3 còn vay lãi đứng 01 dây với số tiền 10.000.000 đồng, lãi suất 600.000 đồng/01 ngày, tiền phí 500.000 đồng, số tiền lãi theo quy định 23.000 đồng, tổng tiền thu lợi bất chính để truy cứu trách nhiệm hình sự là 2.977.000 đồng (tiền lãi vượt mức quy định 2.477.000 đồng + tiền phí 500.000 đồng), bà H3 còn thiếu lại tiền gốc vay 10.000.000 đồng.

    Tổng số tiền thu lợi bất chính để truy cứu trách nhiệm hình sự (vay góp ngày và vay lãi đứng) là 11.638.000 đồng (lãi vượt mức quy định 6.711.000 đồng + Tiền Phí: 1.950.000₫).

  21. Bà Đinh Thị M1 (M3): Từ ngày 15/10/2023 đến 18/10/2023, bà M1 đã vay góp ngày của bị cáo với tổng số tiền gốc là 3.000.000 đồng, tiền phí 300.000 đồng, lãi suất cho vay là 0,833%/ngày. Số tiền lãi tối đa theo quy định của Bộ luật dân sự là 3.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính để truy cứu trách nhiệm hình sự là 347.000 đồng (lãi vượt mức quy định 47.000 đồng + Tiền Phí: 300.000 đồng), bà M1 còn thiếu lại số tiền gốc vay là 2.750.000 đồng.
  22. Ông Phạm Văn Đ2 (Đỗi MT): Từ ngày 15/10/2023 đến 18/10/2023 ông Đ2 đã vay góp ngày của bị cáo với tổng số tiền gốc là 3.000.000 đồng, tiền phí 300.000 đồng, lãi suất cho vay là 0,833%/ngày. Số tiền lãi tối đa theo quy định của Bộ luật dân sự là 3.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính để truy cứu trách nhiệm hình sự là 366.000 đồng (lãi vượt mức quy định 66.000 đồng + Tiền Phí: 300.000 đồng), ông Đ2 còn thiếu lại số tiền gốc là 2.769.000 đổng.
  23. Bà Cao Thị H4 (H4 MP): Từ ngày 01/08/2023 đến 18/10/2023 bà H4 đã vay góp ngày của bị cáo với tổng số tiền gốc là 10.000.000 đồng, tiền phí 500.000 đồng, lãi suất cho vay là 0,833%/ngày. Số tiền lãi tối đa theo quy định của Bộ luật dân sự là 11.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính để truy cứu trách nhiệm hình sự là 656.000 đồng (lãi vượt mức quy định 156.000 đồng + Tiền Phí: 500.000đ), bà H4 còn thiếu lại số tiền gốc vay là 9.167.000 đồng.
  24. Bà Lê Thị Đ4 (Điệp MT): Từ ngày 01/07/2023 đến 18/10/2023 bà Đ4 đã vay góp ngày của bị cáo với tổng số tiền gốc là 10.000.000 đồng. Tuy nhiên, bị cáo đã xuất tiền cá nhân đóng tiền cho Bà Đ4 (do bà Đ4 là mẹ vợ của La Quang H). Do đó, trường hợp bà Đ4 không phát sinh lãi, hiện nay không còn nợ tiền gốc.

Tại cáo trạng số: 16/CT-VKS-CT ngày 02/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dânhuyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng đã truy tố bị cáo về “Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi phạm tội nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo phạm“Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” và đề nghị:

Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 201; Điều 36; Điều 50; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017); Điều 299, Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự đối với bị cáo La Quang H (T), xử phạt bị cáo La Quang H (T) 01 (một) năm 02 (tháng) 19 (mười chín) ngày cải tạo không giam giữ và trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa.

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào khoản 3 Điều 201 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 3 Điều 3 nghị quyết 01/2021/NQ – HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về hướng dẫn áp dụng Điều 201 Bộ luật hình sự và việc xét xử vụ án hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.

Xử phạt bổ sung đối với bị cáo La Quang H (T) với số tiền là 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) đến 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) để nộp Ngân sách Nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu NOKIA màu đen, loại bàn phím; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6s, màu trắng, IMEI: 35 32207 1360612.

Trả lại 01 (một) giấy căn cước công dân bản gốc tên Phạm Văn Ú2 cho ông Phạm Văn Ú2; 01 (một) giấy căn cước công dân bản gốc tên Phạm Văn Đ2 cho ông Phạm Văn Đ5; 01 (một) giấy căn cước công dân bản gốc tên Đinh Thị M1 cho bà Đinh Thị M1; 01 (một) giấy căn cước công dân bản gốc tên Phan Văn Đ1 tên Phan Văn Đ1; 01 (một) giấy căn cước công dân bản gốc tên La Quang H cho bị cáo La Quang H.

Tịch thu tiêu hủy:

  • 01 (một) bọc nylon màu đen chứa tờ rơi có in hình người phụ nữ cầm giấy căn cước công dân trước ngực và có dòng chữ “Nguyễn Thị Tố O” chuyên lừa đảo dựt nợ, trọng lượng 02 kg; sim số 0969 735 325; sim số: 0984 958 829;
  • 30 (ba mươi) tờ rơi có in màu hình người phụ nữ, giấy căn cước công dân tên Lê Thị Quỳnh N2 có dòng chữ chuyên lừa đảo, dựt nợ; 30 (ba mươi) tờ rơi có in màu hình người phụ nữ, giấy căn cước công dân tên G Trương Huyền M2 có dòng chữ chuyên lừa đảo, dựt nợ; 03 (ba) tờ rơi có in màu hình người phụ nữ, giấy căn cước công dân tên Điền C2 Sà Thia có dòng chữ đối tượng lừa đảo chiếm đoạt tài sản; 10 (mười) tờ rơi có in màu hình người nam trước ngực áo thun tên L TCĐ sđt: 0971.882.xxx đối tượng lừa đảo chiếm đoạt tài sản; 10 (mười) tờ rơi có in màu hình người nam cầm giấy CMND tên Trần Tú V –V 304 sđt: 0941.755.xxx đối tượng lừa đảo chiếm đoạt tài sản; 04 (bốn) tờ rơi có in màu hình người phụ nữ, giấy căn cước công dân tên Nguyễn Thị Tuyết N3 có dòng chữ đối tượng lừa đảo chiếm đoạt tài sản; 05 (năm) tờ rơi có in màu hình người phụ nữ tên Trần Thị L1 có dòng chữ đối tượng lừa đảo chiếm đoạt tài sản;

[10]. Về áp dụng các biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 5 nghị quyết 01/2021/NQ – HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về hướng dẫn áp dụng Điều 201 Bộ luật hình sự và việc xét xử vụ án hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.

* Buộc bị cáo La Quang H (T) phải có trách nhiệm trả lại cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan với tổng số là 60.187.529 đồng (Sáu mươi triệu một trăm tám mươi bảy nghìn năm trăm hai mươi chín đồng) là số tiền bị cáo thu lãi vượt quá quy định cụ thể như sau:

  • Trả lại cho ông Nguyễn Văn Ú số tiền là 545.000 đồng (Năm trăm bốn mươi lăm nghìn đồng).
  • Trả lại cho ông Nguyễn Thị C1 871.693 đồng (T5 trăm bảy mươi mốt nghìn sáu trăm chín mươi ba nghìn đồng).
  • Trả lại cho ông Nguyễn Văn T1 số tiền 513.836 đồng (Năm trăm mười ba nghìn tám trăm ba mươi sáu đồng).
  • Trả lại cho Trần Thị Út M số tiền 1.931.000 đồng (Một triệu chín trăm ba mươi mốt nghìn đồng).
  • Trả lại cho bà Trần Ngọc Đ số tiền 3.784.000 đồng (Ba triệu bảy trăm tám mươi bốn nghìn đồng).
  • Trả lại cho bà Trần Thị Thanh K số tiền 4.772.000 đồng (Bốn triệu bảy trăm bảy mươi hai nghìn đồng).
  • Trả lại cho bà Trần Thị D số tiền 1.144.000 đồng (Một triệu một trăm bốn mươi bốn nghìn đồng)
  • Trả lại cho bà Kim Thị Kiều T2 số tiền 1.985.000 đồng (Một triệu chín trăm tám mươi lăm nghìn đồng).
  • Trả lại cho ông Dương Văn H1 nộp lại số tiền 1.401.000 đồng (Một triệu bốn trăm lẽ một nghìn đồng).
  • Trả lại cho bà Nguyễn Thị Ú1 số tiền 880.000 đồng (T5 trăm tám mươi nghìn đồng)
  • Trả lại cho ông Lê Văn H2 số tiền 2.157.000 đồng (Hai triệu một trăm năm mươi bảy nghìn đồng).
  • Trả lại cho ông Lê Văn N số tiền 1.713.000 đồng (Một triệu bảy trăm mười ba nghìn đồng).
  • Trả lại cho ông Lê Văn K3 số tiền 304.000 đồng (Ba trăm lẽ bốn nghìn đồng)
  • Trả lại cho ông Phan Văn Đ1 số tiền 304.000 đồng (Ba trăm lẽ bốn nghìn đồng)
  • Trả lại cho ông Trương Văn T3 số tiền 1.635.000 đồng (Một triệu sáu trăm ba mươi lăm nghìn đồng).
  • Trả lại cho Nguyễn Văn T4 số tiền 5.917.000 đồng (Năm triệu chín trăm mười bảy nghìn đồng).
  • Trả lại cho bà Tiền Thị Út B số tiền 3.659.000 đồng (Ba triệu sáu trăm năm mươi chín nghìn đồng).
  • Trả lại cho ông Nguyễn Thanh N1 số tiền 234.000 đồng (Hai trăm ba mươi bốn nghìn đồng).
  • Trả lại cho bà Nguyễn Thị Tố O số tiền 16.980.000 đồng (Mười sáu triệu chín trăm tám mươi nghìn đồng).
  • Trả lại cho bà Nguyễn Thị Diệu H3 số tiền 6.711.000 đồng (Sáu triệu bảy trăm mười một nghìn đồng).
  • Trả lại cho bà Đinh Thị M1 số tiền 47.000 đồng (Bốn mươi bảy nghìn đồng).
  • Trả lại cho ông Phan Văn Đ6 số tiền 66.000 đồng (Sáu mươi sáu nghìn đồng).
  • Trả lại cho bà Cao Thị H4 số tiền 156.000 đồng (Một trăm năm mươi sáu nghìn đồng).

* Đối với số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 là 4.082.164 đồng (Bốn triệu không trăm tám mươi hai nghìn một trăm sáu mươi bốn đồng) là tiền có được từ việc phạm tội nên buộc bị cáo nộp lại và tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước.

* Đối với số tiền phí hoa hồng khi cho vay 20.050.000 đồng (Hai mươi triệu không trăm năm mươi nghìn đồng) là tiền có được do phạm tội mà có nên buộc bị cáo nộp lại và tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.

* Đối với số tiền gốc cho vay mà những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án còn nợ là 92.265.000 đồng (Chín mươi hai triệu hai trăm sáu mươi lăm nghìn đồng) là tiền dùng làm phương tiện phạm tội nên cần buộc những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan giao nộp lại để tịch thu sung quỹ Nhà nước cụ thể như sau:

  • Buộc ông Nguyễn Văn Ú nộp lại số tiền 2.083.000 đồng (Hai triệu không trăm tám mươi ba nghìn đồng).
  • Buộc bà Nguyễn Thị C1 nộp lại số tiền 3.333.000 đồng (Ba triệu ba trăm ba mươi ba nghìn đồng)
  • Buộc ông Nguyễn Văn T1 nộp lại số tiền 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng).
  • Buộc bà Trần Thị Út M nộp lại số tiền 667.000 đồng (Sáu trăm sáu mươi bảy nghìn đồng).
  • Buộc bà Trần Ngọc Đ nộp lại số tiền 3.750.000 đồng (Ba triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
  • Buộc bà Trần Thị Thanh K nộp lại số tiền 5.458.000 đồng (Năm triệu bốn trăm năm mươi tám nghìn đồng).
  • Buộc bà Trần Thị D nộp lại số tiền 1.875.000 đồng (Một triệu tám trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).
  • Buộc bà Kim Thị Kiều T2 nộp lại số tiền 1.375.000 đồng (Một triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).
  • Buộc ông Dương Văn H1 nộp lại số tiền 1.375.000 đồng (Một triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).
  • Buộc bà Nguyễn Thị Ú1 nộp lại số tiền 2.292.000 đồng (Hai triệu hai trăm chín mươi hai nghìn đồng).
  • Buộc ông Lê Văn H2 nộp lại số tiền 12.458.000 đồng (Mười hai triệu bốn trăm năm mươi tám nghìn đồng).
  • Buộc ông Lê Văn N nộp lại số tiền 5.833.000 đồng (Năm triệu tám trăm ba mươi ba nghìn đồng).
  • Buộc ông Lê Văn K3 nộp lại số tiền 1.375.000 đồng (Một triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).
  • Buộc ông Phan Văn Đ1 nộp lại số tiền 3.375.000 đồng (Ba triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).
  • Buộc ông Trương Văn T3 nộp lại số tiền 1.250.000 đồng (Một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).
  • Buộc ông Nguyễn Văn T4 nộp lại số tiền 3.330.000 đồng (Ba triệu ba trăm ba mươi nghìn đồng).
  • Buộc bà Tiền Thị Út B nộp lại số tiền 5.417.000 đồng (Năm triệu bốn trăm mười bảy nghìn đồng).
  • Buộc ông Nguyễn Thanh N1 nộp lại số tiền 3.750.000 đồng (Ba triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
  • Buộc bà Nguyễn Thị Tố O nộp lại số tiền 4.125.000 đồng (Bốn triệu một trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
  • Buộc bà Nguyễn Thị Diệu H3 nộp lại số tiền 13.083.000 đồng (Mười ba triệu không trăm tám mươi ba nghìn đồng).
  • Buộc bà Đinh Thị M1 nộp lại số tiền 2.750.000 đồng (Hai triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
  • Buộc ông Phan Văn Đ6 nộp lại số tiền 2.769.000 đồng (Hai triệu bảy trăm sáu mươi chín nghìn đồng).
  • Buộc bà Cao Thị H4 nộp lại số tiền 9.167.000 đồng (Chín triệu một trăm sáu mươi bảy nghìn đồng).

* Đối với số tiền gốc cho vay là 411.000.000 đồng (Bốn trăm mười một triệu đồng) được khấu trừ vào số tiền gốc mà những người vay còn nợ là 92.246.000 đồng (Chín mươi hai triệu hai trăm bốn mươi sáu đồng) nên số tiền còn lại là 318.735.000 đồng (Ba trăm mười tám triệu bảy trăm ba mươi lăm nghìn đồng). Xét thấy, đây là tiền người phạm tội dùng để cho vay nên buộc bị cáo nộp lại và tịch thu sung quỹ Nhà nước.

[11] Đối với đối tượng tên Khu và T3 do chưa xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan Điều tra tiến hành xác minh xử lý sau là có căn cứ.

[12] Đối với 22 người vay tiền chưa đủ cơ sở để chứng minh làm rõ được cụ thể họ đã vay và trả nợ vay của bị cáo La Quang H, do họ vắng mặt địa phương nên không tiến hành làm việc được hoặc không xác định được nhân thân, lai lịch. Do đó chỉ có lời trình bày một phía của bị cáo H nên Cơ quan CSĐT Công an huyện M chưa có cơ sở xem xét trách nhiệm hình sự, cũng như trách nhiệm dân sự của bị cáo đối với những trường hợp người vay tiền đã nêu trên là có căn cứ.

[13] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[14] Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh; việc áp dụng pháp luật về tội danh, về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; xử lý vật chứng; về áp dụng biện pháp tư pháp; là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo La Quang H (T) phạm Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 201; khoản 1 Điều 38; Điều 50; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017); Điều 299, Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự đối với bị cáo La Quang H (T).

    Xử phạt bị cáo La Quang H (T) 01 (một) năm 02 (hai) tháng 19 (mười chín) ngày cải tạo không giam giữ. Trả tự do cho bị cáo La Quang H (T) tại phiên toà do bị cáo bị xử phạt bằng hình phạt không phải là hình phạt tù.

  2. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào khoản 3 Điều 201 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 3 Điều 3 nghị quyết 01/2021/NQ – HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về hướng dẫn áp dụng Điều 201 Bộ luật hình sự và việc xét xử vụ án hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.

    Xử phạt bổ sung đối với bị cáo La Quang H (T) với số tiền là 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) để nộp Ngân sách Nhà nước.

  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

    Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu NOKIA màu đen, loại bàn phím; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6s, màu trắng, IMEI: 35 32207 1360612.

    Trả lại 01 (một) giấy căn cước công dân bản gốc tên Phạm Văn Ú2 cho ông Phạm Văn Ú2; 01 (một) giấy căn cước công dân bản gốc tên Phạm Văn Đ2 cho ông Phạm Văn Đ5; 01 (một) giấy căn cước công dân bản gốc tên Đinh Thị M1 cho bà Đinh Thị M1; 01 (một) giấy căn cước công dân bản gốc tên Phan Văn Đ1 tên Phan Văn Đ1; 01 (một) giấy căn cước công dân bản gốc tên La Quang H cho bị cáo La Quang H.

    Tịch thu tiêu hủy:

    • 01 (một) bọc nylon màu đen chứa tờ rơi có in hình người phụ nữ cầm giấy căn cước công dân trước ngực và có dòng chữ “Nguyễn Thị Tố O” chuyên lừa đảo dựt nợ, trọng lượng 02 kg; sim số 0969 735 325; sim số: 0984 958 829;
    • 30 (ba mươi) tờ rơi có in màu hình người phụ nữ, giấy căn cước công dân tên Lê Thị Quỳnh N2 có dòng chữ chuyên lừa đảo, dựt nợ; 30 (ba mươi) tờ rơi có in màu hình người phụ nữ, giấy căn cước công dân tên G Trương Huyền M2 có dòng chữ chuyên lừa đảo, dựt nợ; 03 (ba) tờ rơi có in màu hình người phụ nữ, giấy căn cước công dân tên Điền C2 Sà Thia có dòng chữ đối tượng lừa đảo chiếm đoạt tài sản; 10 (mười) tờ rơi có in màu hình người nam trước ngực áo thun tên L TCĐ sđt: 0971.882.xxx đối tượng lừa đảo chiếm đoạt tài sản; 10 (mười) tờ rơi có in màu hình người nam cầm giấy CMND tên Trần Tú V –V 304 sđt: 0941.755.xxx đối tượng lừa đảo chiếm đoạt tài sản; 04 (bốn) tờ rơi có in màu hình người phụ nữ, giấy căn cước công dân tên Nguyễn Thị Tuyết N3 có dòng chữ đối tượng lừa đảo chiếm đoạt tài sản; 05 (năm) tờ rơi có in màu hình người phụ nữ tên Trần Thị L1 có dòng chữ đối tượng lừa đảo chiếm đoạt tài sản;
  4. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 5 nghị quyết 01/2021/NQ – HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về hướng dẫn áp dụng Điều 201 Bộ luật hình sự và việc xét xử vụ án hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.

    * Buộc bị cáo La Quang H (T) phải có trách nhiệm trả lại cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan với tổng số là 60.187.529 đồng (Sáu mươi triệu một trăm tám mươi bảy nghìn năm trăm hai mươi chín đồng) cụ thể như sau:

    • Trả lại cho ông Nguyễn Văn Ú số tiền là 545.000 đồng (Năm trăm bốn mươi lăm nghìn đồng).
    • Trả lại cho ông Nguyễn Thị C1 871.693 đồng (T5 trăm bảy mươi mốt nghìn sáu trăm chín mươi ba nghìn đồng).
    • Trả lại cho ông Nguyễn Văn T1 số tiền 513.836 đồng (Năm trăm mười ba nghìn tám trăm ba mươi sáu đồng).
    • Trả lại cho Trần Thị Út M số tiền 1.931.000 đồng (Một triệu chín trăm ba mươi mốt nghìn đồng).
    • Trả lại cho bà Trần Ngọc Đ số tiền 3.784.000 đồng (Ba triệu bảy trăm tám mươi bốn nghìn đồng).
    • Trả lại cho bà Trần Thị Thanh K số tiền 4.772.000 đồng (Bốn triệu bảy trăm bảy mươi hai nghìn đồng).
    • Trả lại cho bà Trần Thị D số tiền 1.144.000 đồng (Một triệu một trăm bốn mươi bốn nghìn đồng).
    • Trả lại cho bà Kim Thị Kiều T2 số tiền 1.985.000 đồng (Một triệu chín trăm tám mươi lăm nghìn đồng).
    • Trả lại cho ông Dương Văn H1 nộp lại số tiền 1.401.000 đồng (Một triệu bốn trăm lẽ một nghìn đồng).
    • Trả lại cho bà Nguyễn Thị Ú1 số tiền 880.000 đồng (T5 trăm tám mươi nghìn đồng)
    • Trả lại cho ông Lê Văn H2 số tiền 2.157.000 đồng (Hai triệu một trăm năm mươi bảy nghìn đồng).
    • Trả lại cho ông Lê Văn N số tiền 1.713.000 đồng (Một triệu bảy trăm mười ba nghìn đồng).
    • Trả lại cho ông Lê Văn K3 số tiền 304.000 đồng (Ba trăm lẽ bốn nghìn đồng)
    • Trả lại cho ông Phan Văn Đ1 số tiền 304.000 đồng (Ba trăm lẽ bốn nghìn đồng)
    • Trả lại cho ông Trương Văn T3 số tiền 1.635.000 đồng (Một triệu sáu trăm ba mươi lăm nghìn đồng).
    • Trả lại cho Nguyễn Văn T4 số tiền 5.917.000 đồng (Năm triệu chín trăm mười bảy nghìn đồng).
    • Trả lại cho bà Tiền Thị Út B số tiền 3.659.000 đồng (Ba triệu sáu trăm năm mươi chín nghìn đồng).
    • Trả lại cho ông Nguyễn Thanh N1 số tiền 234.000 đồng (Hai trăm ba mươi bốn nghìn đồng).
    • Trả lại cho bà Nguyễn Thị Tố O số tiền 16.980.000 đồng (Mười sáu triệu chín trăm tám mươi nghìn đồng).
    • Trả lại cho bà Nguyễn Thị Diệu H3 số tiền 6.711.000 đồng (Sáu triệu bảy trăm mười một nghìn đồng).
    • Trả lại cho bà Đinh Thị M1 số tiền 47.000 đồng (Bốn mươi bảy nghìn đồng).
    • Trả lại cho ông Phan Văn Đ6 số tiền 66.000 đồng (Sáu mươi sáu nghìn đồng).
    • Trả lại cho bà Cao Thị H4 số tiền 156.000 đồng (Một trăm năm mươi sáu nghìn đồng).

    * Buộc bị cáo La Quang H (T) phải có trách nhiệm nộp lại số tiền là 4.082.164 đồng (Bốn triệu không trăm tám mươi hai nghìn một trăm sáu mươi bốn đồng) và tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước.

    * Buộc bị cáo La Quang H (T) phải có trách nhiệm nộp lại số tiền phí hoa hồng khi cho vay 20.050.000 đồng (Hai mươi triệu không trăm năm mươi nghìn đồng) và tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.

    * Buộc bị cáo La Quang H (T) phải có trách nhiệm nộp lại số tiền gốc cho vay là 318.735.000 đồng (Ba trăm mười tám triệu bảy trăm ba mươi lăm nghìn đồng) và tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.

    * Buộc những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải có trách nhiệm nộp lại số tiền là 92.265.000 đồng (Chín mươi hai triệu hai trăm sáu mươi lăm nghìn đồng) để tịch thu nộp ngân sách Nhà nước cụ thể như sau:

    • Buộc ông Nguyễn Văn Ú nộp lại số tiền 2.083.000 đồng (Hai triệu không trăm tám mươi ba nghìn đồng).
    • Buộc bà Nguyễn Thị C1 nộp lại số tiền 3.333.000 đồng (Ba triệu ba trăm ba mươi ba nghìn đồng)
    • Buộc ông Nguyễn Văn T1 nộp lại số tiền 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng).
    • Buộc bà Trần Thị Út M nộp lại số tiền 667.000 đồng (Sáu trăm sáu mươi bảy nghìn đồng).
    • Buộc bà Trần Ngọc Đ nộp lại số tiền 3.750.000 đồng (Ba triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
    • Buộc bà Trần Thị Thanh K nộp lại số tiền 5.458.000 đồng (Năm triệu bốn trăm năm mươi tám nghìn đồng).
    • Buộc bà Trần Thị D nộp lại số tiền 1.875.000 đồng (Một triệu tám trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).
    • Buộc bà Kim Thị Kiều T2 nộp lại số tiền 1.375.000 đồng (Một triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).
    • Buộc ông Dương Văn H1 nộp lại số tiền 1.375.000 đồng (Một triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).
    • Buộc bà Nguyễn Thị Ú1 nộp lại số tiền 2.292.000 đồng (Hai triệu hai trăm chín mươi hai nghìn đồng).
    • Buộc ông Lê Văn H2 nộp lại số tiền 12.458.000 đồng (Mười hai triệu bốn trăm năm mươi tám nghìn đồng).
    • Buộc ông Lê Văn N nộp lại số tiền 5.833.000 đồng (Năm triệu tám trăm ba mươi ba nghìn đồng).
    • Buộc ông Lê Văn K3 nộp lại số tiền 1.375.000 đồng (Một triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).
    • Buộc ông Phan Văn Đ1 nộp lại số tiền 3.375.000 đồng (Ba triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).
    • Buộc ông Trương Văn T3 nộp lại số tiền 1.250.000 đồng (Một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).
    • Buộc ông Nguyễn Văn T4 nộp lại số tiền 3.330.000 đồng (Ba triệu ba trăm ba mươi nghìn đồng).
    • Buộc bà Tiền Thị Út B nộp lại số tiền 5.417.000 đồng (Năm triệu bốn trăm mười bảy nghìn đồng).
    • Buộc ông Nguyễn Thanh N1 nộp lại số tiền 3.750.000 đồng (Ba triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
    • Buộc bà Nguyễn Thị Tố O nộp lại số tiền 4.125.000 đồng (Bốn triệu một trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
    • Buộc bà Nguyễn Thị Diệu H3 nộp lại số tiền 13.083.000 đồng (Mười ba triệu không trăm tám mươi ba nghìn đồng).
    • Buộc bà Đinh Thị M1 nộp lại số tiền 2.750.000 đồng (Hai triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
    • Buộc ông Phan Văn Đ6 nộp lại số tiền 2.769.000 đồng (Hai triệu bảy trăm sáu mươi chín nghìn đồng).
    • Buộc bà Cao Thị H4 nộp lại số tiền 9.167.000 đồng (Chín triệu một trăm sáu mươi bảy nghìn đồng).
  5. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

    Buộc bị cáo La Quang H (T) phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6. Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; NLQ
  • - VKSND huyện Mỹ Tú;
  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng;
  • - Sở tư pháp tỉnh Sóc Trăng;
  • - CQĐT CA huyện Mỹ Tú;
  • - Tổ hồ sơ nghiệp vụ CA huyện;
  • - Cơ quan THAHS CA huyện Mỹ Tú;
  • - Nhà tạm giữ CA huyện Mỹ Tú;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Dương Thị Thanh Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2024/HS-ST ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG về hình sự (tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự)

  • Số bản án: 23/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cho vay lãi nặng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger