Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HIỆP HÒA

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 23/2024/DS-ST.

Ngày: 12/4/2024

V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Thế Hanh

Ông Nguyễn Công Tân

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hiệp Hòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa tham gia phiên toà: bà Dương Thị Thúy - Kiểm sát viên.

Trong ngày 12/04/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hiệp Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 286/2023/TLST-DS ngày 14 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số:24B/2024/QĐXXST-DS ngày 14/03/2024 của tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương Mại cổ phần S (S1)

Trụ sở chính: Số G, phố T, phường T, quận H, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Ngô Thu H - chức vụ: Tổng giám đốc.

Đại diện theo ủy quyền: ông Hoàng Xuân Q - chức vụ: Giám đốc S1 Chi nhánh K.

Thừa ủy quyền: anh Nguyễn Văn V - Cán bộ S1. Có mặt

Địa chỉ: Ngân hàng TMCP S Chi nhánh K. Đường L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh. (Có mặt)

Theo giấy ủy quyền số: 16/UQ-GĐ ngày 24/7/2023 của Ngân hàng TMCP S.

+ Bị đơn: Ông Trần Văn L, sinh năm 1962.Có mặt

Bà Trần Thị T, sinh năm 1961. Có mặt

Cùng địa chỉ: Thôn N, xã C, huyện H, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn do anh Nguyễn Văn V là đại diện theo ủy quyền trình bày: Ngày 23/12/2019, Ngân hàng TMCP S (S1) và ông Trần Văn L và bà Trần Thị T ký kết Hợp đồng cấp Hạn mức tín dụng số 247/2019/HDHM-CN/SHB112100 với nội dung: Ngân hàng S1 cho vợ chồng ông Trần Văn L và bà Trần Thị T vay 400.000.000 đồng (Bốn trăm đồng chẵn); thời hạn cho vay là 09 tháng kể từ ngày giải ngân vốn vay lần đầu tiên; mục đích cho vay để bổ sung vốn lưu động kinh doanh đồ gỗ; lãi suất vay là 12.4%/năm trong vòng 03 tháng đấu tiên kể từ ngày giải ngân, lãi suất được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần, mức lãi suất áp dụng cho kỳ điều chỉnh bằng lãi suất huy động tiền gửi tiết kiệm VNĐ kỳ hạn 12 tháng trả lãi sau cao nhất KHCN tại thời điểm điều chỉnh cộng biên độ 3,2%/năm; lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn; Tại Khế ước nhận nợ số: 01-247/2019/HDHM-CN/SHB112101 ngày 24/12/2019, vợ chồng ông Trần Văn L và bà Trần Thị T đã nhận 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng chẵn) từ Ngân hàng S1.

Tài sản bảo đảm tiền vay cho các Hợp đồng tín dụng nêu trên là:

Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thửa số 11, tờ bản đồ 70, diện tích 383,3 m2 (trong đó đất ở 378,0 m2 và đất trồng cây lâu năm 5,3 m2) tại thôn N, xã C, huyện H, tỉnh Bắc Giang theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số: Q 037851, do UBND huyện H, tỉnh Bắc Giang cấp ngày 14/05/2001 cho hộ ông Trần Văn L, ngày 17/11/2017 chuyển quyền sở hữu cho ông Trần Văn L. Tại Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số: 160/2017/HĐTC- BTB/SHB.112100 ngày 29/11/2017 và Văn bản sửa đổi bổ sung Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 213/2019 - 160/2017/HĐTC- BTB/SHB.112100 ngày 23/12/2019 do Văn phòng C, tỉnh Bắc Giang chứng nhận. Ông Trần Văn L đã thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất nêu trên cho khoản vay của mình và vợ tại Ngân hàng S1. Tài sản này đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, tỉnh Bắc Giang ngày 29/11/2017

Đến hạn trả nợ ông Trần Văn L và bà Trần Thị T không trả được nợ, Ngân hàng S1 đã nhiều lần yêu cầu ông L và bà T đồng thời là chủ tài sản bảo đảm trả nợ cho Ngân hàng nhưng không thực hiện. Tính đến hết ngày 11/12/2023 là ngày Ngân hàng khởi kiện vợ chồng ông Trần Văn L và bà Trần Thị T còn nợ Ngân hàng TMCP S với tổng số tiền là: 641.591.664 đồng Sáu trăm bốn mươi mốt triệu năm trăm chín mươi mốt nghìn sáu trăm sáu mươi bốn đồng) trong đó dư nợ gốc là 400.000.000 đồng, nợ lãi vay 156.090.896 đồng, nợ lãi quá hạn 85.500.768 đồng.

Tuy nhiên, quá trình Ngân ngân hàng khởi kiện vợ chồng ông L và bà T đã trả được cho S1 một phần tiền nợ gốc.

Tính đến hết ngày 10/4/2024 vợ chồng ông Trần Văn L và bà Trần Thị T còn nợ S1 tổng số tiền là 567.688.200 đồng (Năm trăm sáu mươi bảy triệu sáu trăm tám mươi tám nghìn hai trăm đồng); trong đó nợ gốc là 287.500.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 178.626.633 đồng; nợ lãi quá hạn là 101.561.567 đồng.

Ngân hàng TMCP S đề nghị Tòa án giải quyết những vấn đề sau đây đối với bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Buộc ông Trần Văn L và bà Trần Thị T trả cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền 567.688.200 đồng (Năm trăm sáu mươi bảy triệu sáu trăm tám mươi tám nghìn hai trăm đồng); trong đó nợ gốc là 287.500.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 178.626.633 đồng; nợ lãi quá hạn là 101.561.567 đồng tính đến hết ngày 10/04/2024. Từ ngày 11/4/2024 Ngân hàng tiếp tục tính lãi theo lãi suất nợ quá hạn theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng cho đến khi ông Trần Văn L và Trần Thị T trả hết nợ cho Ngân hàng.
  2. Trường hợp ông Trần Văn L và bà Trần Thị T không trả được nợ thì đề nghị Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phát mại các tài sản bảo đảm sau đây để thu hồi nợ cho Ngân hàng:

    Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thửa số 11, tờ bản đồ 70, diện tích 383,3 m2 (trong đó đất ở 378,0 m2 và đất trồng cây lâu năm 5,3 m2) tại xã T, xã C, huyện H, tỉnh Bắc Giang theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số: Q 037851, do UBND huyện H, tỉnh Bắc Giang cấp ngày 14/05/2001 cho hộ ông Trần Văn L, ngày 17/11/2017 chuyển quyền sở hữu cho ông Trần Văn L.

* Bị đơn là Chị Trần Thị T và ông Trần Văn L tại biên bản ghi lời khai và tại phiên tòa hôm nay trình bày:

Ông, bà xác định vợ chồng ông bà còn nợ Ngân hàng Thương Mại cổ phần S (S1) số tiền nợ tính ngày 10/4/2024 là: tổng số tiền 567.688.200 đồng (Năm trăm sáu mươi bảy triệu sáu trăm tám mươi tám nghìn hai trăm đồng); trong đó nợ gốc là 287.500.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 178.626.633 đồng; nợ lãi quá hạn là 101.561.567 đồng tính đến hết ngày 10/04/2024 như Ngân hàng Thương Mại cổ phần S (S1) trình bày là đúng.

Khi vay vợ chồng ông bà cũng đã dùng tài sản là toàn bộ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 11, tờ bản đồ số: 70 có diện tích 383,3m2 (Trong đó đất ở là 378,0m2 và đất trồng cây lâu năm là 5,3m2) địa chỉ: Thôn N, xã C, huyện H, tỉnh Bắc Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: Q 037851 do Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Bắc Giang cấp ngày 14/5/2001 mang tên hộ ông Trần Văn L. Ngày 17/11/2017 chuyển quyền sở hữu cho ông Trần Văn L đê thế chấp cho S1 bảo đảm cho khoản vay mà vợ chồng ông bà đã vay của S1 Như Ngân hàng trình bày là đúng.

Vợ chồng ông bà đã biết yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương Mại cổ phần S (S1) và đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương Mại cổ phần S (S1) như đại diện cho Ngân hàng trình bày ở trên.

Vợ chồng vợ chồng ông bà đồng ý:

  1. Thanh toán cho Ngân hàng Thương Mại cổ phần S (S1) số tiền tính ngày 10/4/2024 là: tổng số tiền 567.688.200 đồng (Năm trăm sáu mươi bảy triệu sáu trăm tám mươi tám nghìn hai trăm đồng); trong đó nợ gốc là 287.500.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 178.626.633 đồng; nợ lãi quá hạn là 101.561.567 đồng. Ông L, bà T đồng ý tiếp tục phải trả lãi theo hợp đồng tín dụng đã ký kết từ ngày 11/4/2024 cho đến khi trả hết nợ cho S1.
  2. Trong trường hợp vợ chồng không trả nợ được thì S1 có quyền đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phát mại các tài sản bảo đảm để thu hồi nợ cho S1, cụ thể là: Toàn bộ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 11, tờ bản đồ số: 70 có diện tích 383,3m2 (Trong đó đất ở là 378,0m2 và đất trồng cây lâu năm là 5,3m2) địa chỉ: Thôn N, xã C, huyện H, tỉnh Bắc Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: Q 037851 do Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Bắc Giang cấp ngày 14/5/2001 mang tên hộ ông Trần Văn L. Ngày 17/11/2017 chuyển quyền sở hữu cho ông Trần Văn L.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn; bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chấp hành đúng quy định pháp luật.

Về ý kiến giải quyết vụ án:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39; Điều 157; Điều 158; Điều 271; Điều 273 và Điều 278 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 317, Điều 318, Điều 319 và Điều 320 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Căn cứ khoản 2 Điều 91; khoản 2 Điều 95; Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng.

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S.

Buộc bà Trần Thị T và ông Trần Văn L phải thanh toán cho S1 toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi, tiền phạt chậm trả lãi và các khoản phát sinh liên quan theo các Hợp đồng tín dụng đã ký kết nêu trên, tính đến ngày 10/4/2024 tổng dư nợ của khoản vay nêu trên là: 567.688.200 đồng (Năm trăm sáu mươi bảy triệu sáu trăm tám mươi tám nghìn hai trăm đồng); trong đó nợ gốc là 287.500.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 178.626.633 đồng; nợ lãi quá hạn là 101.561.567 đồng.

+ Buộc Trần Thị T và ông Trần Văn L tiếp tục chịu lãi từ ngày 11/4/2024 theo đúng thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến ngày bà Trần Thị T và ông Trần Văn L thanh toán hết dư nợ cho S1.

+ Trường hợp bà Trần Thị T và ông Trần Văn L không thanh toán đầy đủ cho S1, SHB được yêu cầu cơ quan Thi hành án kê biên, phát mại các tài sản bảo đảm để thu hồi nợ cho S1, thông tin tài sản bảo đảm là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 11, tờ bản đồ số: 70 có diện tích 383,3m2 (Trong đó đất ở là 378,0m2 và đất trồng cây lâu năm là 5,3m2) địa chỉ: Thôn N, xã C, huyện H, tỉnh Bắc Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: Q 037851 do Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Bắc Giang cấp ngày 14/5/2001 mang tên hộ ông Trần Văn L. Ngày 17/11/2017 chuyển quyền sở hữu cho ông Trần Văn L. Theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số: 160/2017/HĐTC- BTB/SHB.112100 ngày 29/11/2017 và Văn bản sửa đổi bổ sung Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 213/2019- 160/2017/HĐTC- BTB/SHB.112100 ngày 23/12/2019 do Văn phòng C, tỉnh Bắc Giang chứng nhận, ông Trần Văn L đã thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất nêu trên cho khoản vay của mình và vợ tại Ngân hàng S1. Tài sản này đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H, tỉnh Bắc Giang ngày 29/11/2017

- Về án phí: Bà Trần Thị T và ông Trần Văn L là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả SHB số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

- Về chí phí xem xét thẩm định tại chỗ cần buộc ông L, bà bà T phải chịu theo quy định.

Đề nghị tuyên quyền kháng cáo cho đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Đơn khởi kiện cùng các tài liệu, chứng cứ của Ngân hàng TMCP S do anh Nguyễn Văn V là đại diện theo ủy quyền đã nộp hoàn toàn hợp lệ, đảm bảo đầy đủ, đúng pháp luật.

[1.2] Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào các giấy tờ do S1 giao nộp, lời khai của các đương sự và tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử xét thấy: S1 khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông Trần Văn L và bà Trần Thị T thanh toán số tiền còn nợ tính đến ngày 10/4/2024 là 567.688.200 đồng (Năm trăm sáu mươi bảy triệu sáu trăm tám mươi tám nghìn hai trăm đồng); trong đó nợ gốc là 287.500.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 178.626.633 đồng; nợ lãi quá hạn là 101.561.567 đồng và xử lý tài sản bảo đảm. Quan hệ giữa các bên là quan hệ dân sự giữa các pháp nhân với cá nhân không có mục đích lợi nhuận, các bên đã không tự giải quyết được khi có tranh chấp phát sinh, S1 khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết nên xác định đây là tranh chấp dân sự cụ thể là "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Vợ chồng ba Trần Thị T và ôngTrần Văn L là bị đơn đang cư trú trên địa bàn huyện H nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Hiệp Hòa theo quy định tại Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của của nguyên đơn: Qua lời khai của các đương sự, các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn xuất trình và tại phiên tòa Hội đồng xét xử thấy:

Do có nhu cầu bố sung vốn làm ăn nên vợ chồng ông Trần Văn L và bà Trần Thị T có vay của S1 số tiền nợ gốc 400.000.000 đồng.

Cụ thể: Ngày 23/12/2019, Ngân hàng TMCP S (S1) và ông Trần Văn L và bà Trần Thị T ký kết Hợp đồng cấp Hạn mức tín dụng số 247/2019/HDHM-CN/SHB112100 với nội dung: Ngân hàng S1 cho vợ chồng ông Trần Văn L và bà Trần Thị T vay 400.000.000 đồng (Bốn trăm đồng chẵn); thời hạn cho vay là 09 tháng kể từ ngày giải ngân vốn vay lần đầu tiên; mục đích cho vay để bổ sung vốn lưu động kinh doanh đồ gỗ; lãi suất vay là 12.4%/năm trong vòng 03 tháng đấu tiên kể từ ngày giải ngân, lãi suất được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần, mức lãi suất áp dụng cho kỳ điều chỉnh bằng lãi suất huy động tiền gửi tiết kiệm VNĐ kỳ hạn 12 tháng trả lãi sau cao nhất KHCN tại thời điểm điều chỉnh cộng biên độ 3,2%/năm; lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn; Tại Khế ước nhận nợ số: 01-247/2019/HDHM-CN/SHB112101 ngày 24/12/2019, vợ chồng ông Trần Văn L và bà Trần Thị T đã nhận 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng chẵn) từ Ngân hàng S1. Quá trình trả nợ vợ chồng ông L, bà T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, không trả được cho SHB được tiền nợ gốc và nợ lãi. Tính đến hết ngày 10/4/2024 vợ chồng ông L, bà T mới trả cho S1 được 112.500.000 đồng tiền nợ gốc và một phần tiền nợ lãi. Vì vậy, khoản nợ của bà T và ông L đã chuyển sang khoản nợ quá hạn.

Tổng số tiền nợ gốc mà vợ chồng bà T, ông L nợ SHB tính đến hết ngày 10/04/2024 là: 567.688.200 đồng (Bằng chữ: Năm trăm sáu mươi bảy triệu sáu trăm tám mươi tám nghìn hai trăm đồng); trong đó nợ gốc là 287.500.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 178.626.633 đồng; nợ lãi quá hạn là 101.561.567 đồng. Việc vợ chồng bà T và ông L không trả nợ được cho SHB tiền nợ gốc và nợ lãi nêu trên là vi phạm nghĩa vụ trả nợ của đương sự theo hợp đồng tín dụng hai bên đã ký kết. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện buộc vợ chồng Bà T, ông L trả cho S1 toàn bộ nợ gốc và nợ lãi tính đến ngày 10/04/2024 là: 567.688.200 đồng (Bằng chữ: Năm trăm sáu mươi bảy triệu sáu trăm tám mươi tám nghìn hai trăm đồng); trong đó nợ gốc là 287.500.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 178.626.633 đồng; nợ lãi quá hạn là 101.561.567 đồng là có căn cứ và phù hợp với quy định pháp luật.

[3] Xét về việc S1 yêu cầu vợ chồng bà T, ông L phải tiếp tục trả lãi và các khoản phụ phí phát sinh từ ngày 11/04/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số nợ thì thấy: Khi vay giữa S1 và vợ chồng Bà T, ông L cùng thỏa thuận, tự nguyện ký kết các hợp đồng tín dụng gồm: Hợp đồng cấp Hạn mức tín dụng số 247/2019/HDHM-CN/SHB112100 với nội dung. Trong các điều khoản của hợp đồng đã quy định rõ về lãi suât chậm trả và các điều khoản kèm theo. Vì vậy Việc SHB yêu cầu vợ chồng bà T, ông L phải tiếp tục trả lãi và các khoản phụ phí phát sinh từ ngày 11/04/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số nợ là có căn cứ và cần được chấp nhận theo quy định pháp luật.

[4] Xét Về yêu cầu phát mại tài sản thế chấp là toàn bộ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 11, tờ bản đồ số: 70 có diện tích 383,3m2 (Trong đó đất ở là 378,0m2 và đất trồng cây lâu năm là 5,3m2) địa chỉ: Thôn N, xã C, huyện H, tỉnh Bắc Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: Q 037851 do Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Bắc Giang cấp ngày 14/5/2001 mang tên hộ ông Trần Văn L.

Ngày 17/11/2017 chuyển quyền sở hữu cho ông Trần Văn L nếu bà T và ông L không trả nợ được cho Ngân hàng thấy rằng:

Để đảm bảo cho khoản vay của vợ chồng ông Trần Văn L và S1 đã ký kết Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số: 160/2017/HĐTC-BTB/SHB.112100 ngày 29/11/2017 và Văn bản sửa đổi bổ sung Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 213/2019- 160/2017/HĐTC- BTB/SHB.112100 ngày 23/12/2019 do Văn phòng C, tỉnh Bắc Giang chứng nhận, ông Trần Văn L đã thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất nêu trên cho khoản vay của mình và vợ tại Ngân hàng S1.

Tài sản này đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, tỉnh Bắc Giang ngày 29/11/2017. Khi ký kết hợp đồng thế chấp các bên đều có năng lực hành vi dân sự. Mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Người giam gia ký hợp đồng hoàn toàn tự nguyện. Việc thế chấp tài sản cũng đã được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền. Vì vậy việc trình tự, thủ tục thế chấp là hoàn toàn đúng theo quy định pháp luật. Cần tuyên trong trường hợp bà T và ông L không trả nợ được cho SHB thì SHB có quyền làm đơn yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự huyện Hiệp Hòa phát mại tài sản thế chấp nêu trên để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ của bà T và ông L là có căn cứ.

[5] Về án phí: Do yêu cầu của S1 được chấp nhận nên bị đơn vợ chồng bà Trần Thị T và ông Trần Văn L phải chịu toàn bộ án phí dân sự theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, do vợ chồng ông L, bà T là người cao tuổi (trên 60 tuổi). Vì vậy, cần miễn án phí dân sự sơ thẩm cho vợ chồng ông L, bà T là phù hợp với quy định tại điểm đ, khoản 1 Điều 12 – Bộ luật tố tụng dânn sự. Hoàn Trả cho SHB tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[6] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận, nên ông Trần Văn L, bà Trần Thị T phải chịu chi phí tố tụng về xem xét thẩm định tại chỗ.

[7] Về quyền kháng cáo:

Căn cứ vào Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39; Điều 157; Điều 158; Điều 271; Điều 273 và Điều 278 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Điều 117; Điều 280; Điều 299; Điều 303; Điều 317; Điều 318; Điều 319; Điều 320; Điều 321; Điều 322; Điều 323; Điều 325; Điều 401 Bộ luật dân sự năm 2015; các Điều 91; Điều 95; Điều 98 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi bổ sung năm 2017) Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/NQ – UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương Mại Cổ phần S
    • + Buộc bà Trần Thị T và ông Trần Văn L phải thanh toán cho S1 toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi, tiền phạt chậm trả lãi và các khoản phát sinh liên quan Theo Hợp đồng cấp Hạn mức tín dụng số 247/2019/HDHM-CN/SHB112100 ngày 23/12/2019 mà các bên đã ký kết tính đến hết ngày 10/4/2023 là: 567.688.200 đồng (Bằng chữ: Năm trăm sáu mươi bảy triệu sáu trăm tám mươi tám nghìn hai trăm đồng); trong đó nợ gốc là 287.500.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 178.626.633 đồng; nợ lãi quá hạn là 101.561.567 đồng.
    • + Buộc Trần Thị T và ông Trần Văn L tiếp tục chịu lãi từ ngày 11/04/2024 theo đúng thỏa thuận Theo Hợp đồng cấp Hạn mức tín dụng số 247/2019/HDHM-CN/SHB112100 ngày 23/12/2019 đã ký kết cho đến ngày bà Trần Thị T và ông Trần Văn L thanh toán hết dư nợ cho S1.
    • + Trường hợp bà Trần Thị T và ông Trần Văn L không thanh toán đầy đủ cho Ngân hàng Thương Mại Cổ phần S, Ngân hàng Thương Mại Cổ phần S được yêu cầu cơ quan Thi hành án kê biên, phát mại các tài sản bảo đảm để thu hồi nợ cho S1, thông tin tài sản bảo đảm là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 11, tờ bản đồ số: 70 có diện tích 383,3m2 (Trong đó đất ở là 378,0m2 và đất trồng cây lâu năm là 5,3m2) địa chỉ: Thôn N, xã C, huyện H, tỉnh Bắc Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: Q 037851 do Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Bắc Giang cấp ngày 14/5/2001 mang tên hộ ông Trần Văn L. Ngày 17/11/2017 chuyển quyền sở hữu cho ông Trần Văn L. Theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số: 160/2017/HĐTC- BTB/SHB.112100 ngày 29/11/2017 và Văn bản sửa đổi bổ sung Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 213/2019- 160/2017/HĐTC- BTB/SHB.112100 ngày 23/12/2019 do Văn phòng C, tỉnh Bắc Giang chứng nhận, ông Trần Văn L đã thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất nêu trên cho khoản vay của mình và vợ tại Ngân hàng S1. Tài sản này đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, tỉnh Bắc Giang ngày 29/11/2017.
  2. Nếu số tiền thu được từ việc bán tài sản bảo đảm sau khi trừ đi các chi phí cho việc bán tài sản, các khoản phải nộp cho Nhà nước (nếu có) không đủ trả nợ cho Ngân hàng Thương Mại Cổ phần S thì ông Trần Văn L, bà Trần Thị T phải có trách nhiệm tiếp tục trả nợ gốc và lãi cho đến khi tất toán toàn bộ khoản vay.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: bà Trần Thị T và ông Trần Văn L được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

    Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S do anh Nguyễn Văn V là đại diện theo ủy quyền số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 14.830.000đồng theo biên lai thu tạm ứng án, lệ phí tòa án số: 0003596 ngày 14/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hiệp Hòa.

  4. Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Buộc ông Trần Văn L, bà Trần Thị T phải trả số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ cho Ngân hàng Thương Mại Cổ phần S là 1.600.000đ (Một triệu sáu trăm nghìn đồng).
  5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
  6. Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a; 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND T. Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Hiệp Hòa,
  • - CCTHADS huyện Hiệp Hòa,
  • - Các đương sự,
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Văn Tuấn.

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2024/DS-ST ngày 12/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 23/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S - Bị đơn: Trần Văn L
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger