Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BA BỂ

TỈNH BẮC KẠN

Bản án số: 23/2024/HS-ST

Ngày: 11/7/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Linh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Mã Thị Thương Oanh

Bà Lý Thị Thịnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Bào Kim Vân – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Ma Thế Thiện – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 7 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 24/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Hoàng Văn V (Tên gọi khác: Không); Sinh ngày 07/7/1992 tại huyện B, tỉnh Bắc Kạn; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn P, xã Đ, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hoàng Văn O – sinh năm 1964 và bà Lý Thị C – sinh năm 1966; Có vợ là: Ma Thị N - sinh năm 1993 (hiện đang xuất khẩu lao động tại Đài Loan) và 01 con sinh năm 2013;

Tiền án: Không;

Tiền sự: 02 tiền sự.

  • + Ngày 30/11/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 17/QĐ-TA. Đã chấp hành xong ngày 05/3/2023.
  • + Ngày 23/11/2023 bị Chủ tịch UBND xã Đ xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 2.500.000đ (hai triệu năm trăm nghìn đồng) về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 732/QĐ-XPHC, Hoàng Văn V chưa nộp phạt;

Nhân thân:

  • + Ngày 13/10/2021 bị Công an xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo QĐ số 11/QĐ-XPHC, Hoàng Văn V không có khả năng thi hành quyết định này.
  • + Ngày 01/11/2021 bị Công an xã C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) về hành vi “Trộm cắp tài sản”, theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 14/QĐ-XPHC;
  • + Ngày 17/5/2024 bị Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 08 (tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quyết định tại Bản án số 16/2024/HS-ST.

Bị cáo hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B chờ đi chấp hành án trong vụ án khác được trích xuất về Tòa án nhân dân huyện Ba Bể để xét xử. Có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Hoàng Văn T (Tên gọi khác: Không); Sinh ngày 29/9/2003 tại huyện P, tỉnh Bắc Kạn; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn K, xã N, huyện P, tỉnh Bắc Kạn; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hoàng Văn P – sinh năm 1985 và bà Trịnh Mùi T1 – sinh năm 1979; Vợ, con: Chưa có;

Tiền án: Không;

Tiền sự: 02 tiền sự: Ngày 29/8/2023 bị Công an huyện P ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng, mua bán, thế chấp, cầm cố trái phép hoặc chiếm giữ tài sản của người khác” bằng hình thức phạt tiền 4.000.000đ; Ngày 03/01/2024 bị Chủ tịch UBND xã B, huyện B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” bằng hình thức phạt tiền 2.500.000đ; Đến nay Hoàng Văn T đều chưa nộp phạt.

Nhân thân:

  • + Ngày 29/10/2020 bị Công an xã X, huyện P, tỉnh Bắc Kạn xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 750.000đ về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 03/QĐ-XPHC.
  • + Ngày 25/3/2021 bị TAND huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 42/2021/HS-ST.
  • + Ngày 19/10/2021 bị Công an huyện P xử phạt bị phạm hành chính phạt tiền 1.500.000đ về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 209/QĐ-XPHC.
  • + Ngày 17/5/2024 bị Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 17 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quyết định tại Bản án số 15/2024/HS-ST.

Bị cáo hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B chờ đi chấp hành án trong vụ án khác được trích xuất về Tòa án nhân dân huyện Ba Bể để xét xử. Có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Văn T:

Ông Đinh Xuân D – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B. Có mặt.

* Bị hại: Chị Triệu Mùi N1 – Sinh năm 1981; Địa chỉ: Thôn N, xã C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt.

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Bà Nguyễn Phương B – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B. Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Hoàng Văn P - Sinh năm 1985; Địa chỉ: Thôn K, xã N, huyện P, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

* Người làm chứng: Anh Phùng Văn P1 - Sinh năm 2000; Địa chỉ: Thôn N, xã C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 05/02/2024 cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện B đã tiếp nhận tố giác về tội phạm của chị Triệu Mùi N1, sinh năm 1981, địa chỉ thôn K, xã C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn về việc ngày 27/01/2024 chị N1 phát hiện bị mất số tiền khoảng 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng) để trong túi bên dưới gối đầu giường ngủ ở nhà của chị N1.

Qua xác minh, cơ quan điều tra Công an huyện B xác định được Hoàng Văn V, sinh năm 1992, địa chỉ thôn P, xã Đ, huyện B và Hoàng Văn T, sinh năm 2003, địa chỉ thôn K, xã N, huyện P đã thực hiện hành vi trộm cắp số tiền 9.130.000đ (Chín triệu một trăm ba mươi nghìn đồng) của chị Triệu Mùi N1.

Tại cơ quan điều tra, Hoàng Văn V và Hoàng Văn T khai nhận: Vào sáng ngày 27/01/2024 Hoàng Văn T mượn xe môtô nhãn hiệu Yamaha Taurus biển kiểm soát (BKS) 97F9-3848 của ông Hoàng Văn P (bố đẻ của T) từ thôn K, xã N, huyện P xuống thị trấn C, huyện B chơi. Khi đến khu vực thuộc Tiểu khu B, thị trấn C thì gặp Hoàng Văn V nên cả hai đã rủ nhau đi xã C, huyện B tìm tài sản để trộm cắp. Lúc này T mở cốp xe máy ra lấy thuốc lá hút thì V nhìn thấy trong cốp xe có đôi găng tay nên đã cầm lấy và đeo vào tay. Sau đó T điều khiển xe mô tô chở V đi theo đường B đến xã C. Khi đến khu vực đồi K thì Vũ đổi lái điều khiển xe chở T đi đến đoạn đường thuộc thôn N, xã C quan sát thấy nhà chị Triệu Mùi N1 bán hàng tạp hóa đóng cửa, không có ai ở nhà, nên V dừng xe lại để T ngồi trên xe máy cảnh giới còn V đi vòng ra đằng sau nhà tìm bắt trộm gà nhưng không được nên đã quay ra và cả hai tiếp tục điều khiển xe đi ra hướng trung tâm xã C tìm tài sản để trộm cắp. Đi được khoảng 01km thì V bảo T quay lại nhà vừa nãy, khi gần đến nơi, T và V dừng lại, V bảo T ở ngoài cảnh giới còn V đi vào phía sau ngôi nhà để tiếp tục bắt trộm gà nhưng không được. V quan sát thấy cửa sau của ngôi nhà có một thanh chốt làm bằng gỗ ở phía trong, không có ổ khóa, Vũ bỏ găng tay ra rồi luồn tay qua khe hở, rút chốt cửa đi vào trong nhà và vào trong buồng ngủ, khi lật chiếc gối ở trên giường lên thì thấy một chiếc túi vải màu đen có khóa kéo, V kéo khóa ra thấy có tiền nên lấy hết số tiền cho vào túi áo khoác đang mặc và đặt chiếc túi vào vị trí ban đầu rồi đi ra ngoài theo lối cũ, đến chỗ T đang ngồi đợi rồi T khởi động xe chở V đi về hướng Trung tâm xã C. Đi được một đoạn V bảo T điều khiển xe vào một bãi đất trống và lấy số tiền ra đếm, Vũ đếm số tiền chẵn được 9.000.000₫ (Chín triệu đồng), còn T đếm số tiền

lẻ được 130.000đ (Một trăm ba mươi nghìn đồng). Đếm xong V và T chia nhau mỗi người được 4.500.000₫ (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng) còn số tiền lẻ 130.000đ (Một trăm ba mươi nghìn đồng) V để T cầm hết. Tổng số tiền V và T trộm được là 9.130.000đ (Chín triệu một trăm ba mươi nghìn đồng). Sau đó V và T đi đến khu vực cổng Trung tâm y tế huyện B, tại đây mỗi người bỏ ra 500.000₫ (Năm trăm nghìn đồng) nhờ người đàn ông không quen biết mua ma túy hộ, sau khi mua được ma túy V và T khác người khác đi về nhà sử dụng ma túy và đã chi tiêu hết số tiền còn lại. Lời khai của V và T phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

Cơ quan công an đã thu giữ vật chứng của vụ án gồm: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Taurus màu đen, BKS 97F9-3848; 01 (một) găng tay vải, một mặt màu xám, một mặt màu đen, găng tay cũ, đã qua sử dụng; 01 (một) túi vải màu đen, có dây đeo, bên ngoài có dòng chữ YATETU, túi cũ, đã qua sử dụng.

Quá trình điều tra còn xác định được: Hoàng Văn V và Hoàng Văn T là lao động tự do, không có công việc và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng. Hoàng Văn T thuộc diện hộ nghèo có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền. Không có tài liệu chứng minh bản thân các bị cáo hoặc gia đình thuộc diện chính sách, gia đình người có công với cách mạng.

Tại cáo trạng số 25/CT-VKSBB ngày 25/5/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố Hoàng Văn V, Hoàng Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173/BLHS.

Điều luật có nội dung:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000đ đến dưới 50.000.000đ hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

* Tại phiên tòa:

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Hoàng Văn V, Hoàng Văn T và đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Tuyên bố các bị cáo Hoàng Văn V, Hoàng Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản".

+ Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 56; Điều 58/BLHS: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn V từ 12 (Mười hai) đến 15 (Mười lăm) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 08 (tám) tháng tù tại Bản án số 16/2024/HS-ST ngày 17/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Ba Bể. Buộc bị cáo Hoàng Văn V phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 05/02/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 56; Điều 58/BLHS: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T từ 12 (Mười hai) đến 15 (Mười lăm) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 17 (mười bảy) tháng tù tại Bản án số 15/2024/HS-ST ngày 17/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Ba Bể. Buộc bị cáo Hoàng Văn T phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 05/3/2024 được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 14/12/2023 đến ngày 22/12/2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

+ Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48/BLHS; Các Điều 584; 585; 856; 587; 589/BLDS. Buộc các bị cáo Hoàng Văn V, Hoàng Văn T có trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng), trong đó mỗi bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bị hại số tiền 7.500.000₫ (Bảy triệu năm trăm nghìn đồng). Quá trình giải quyết vụ án, bị hại và các bị cáo đã thỏa thuận được với nhau về việc bồi thường, đề nghị HĐXX ghi nhận sự thỏa thuận này.

+ Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47/BLHS và Điều 106/BLTTH:

Tịch thu tiêu hủy đối với: 01 (một) găng tay vải, một mặt màu xám, một mặt màu đen, găng tay cũ, đã qua sử dụng; 01 (một) túi vải màu đen, có dây đeo, bên ngoài có dòng chữ YATETU, túi cũ, đã qua sử dụng: Xác định không còn giá trị.

Trả lại cho ông Hoàng Văn P 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Taurus màu đen, BKS 97F9-3848.

+ Về án phí: Bị cáo Hoàng Văn V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Hoàng Văn T thuộc hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí, đề nghị HĐXX căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.

Án phí dân sự sơ thẩm: Các bị cáo không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

- Bị hại Triệu Mùi Nhạy đề nghị:

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình giải quyết vụ án bị hại yêu cầu các bị cáo phải liên đới bồi thường cho bị hại số tiền 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng), trong đó mỗi bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bị hại số tiền 7.500.000₫ (Bảy triệu năm trăm nghìn đồng), các bị cáo đồng ý bồi thường số tiền theo yêu cầu của bị hại. Ngày 23/4/2024 bị hại và các bị cáo đã lập biên bản thỏa thuận về việc bồi thường thiệt hại, tại phiên tòa bị hại đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận này.

Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Văn P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt: Trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã cung cấp đầy đủ lời khai và thông tin liên quan đến vụ án theo quy định. Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Taurus màu đen, BKS 97F9-3848: Lời khai của ông P thể hiện, ngày 27/01/2024 T có hỏi ông P cho mượn chiếc xe mô tô này để đi chơi, ông P đồng ý. Tuy nhiên, cụ thể T mang chiếc xe đi đâu, với ai, làm gì thì

không nói cho ông P được biết, do đó ông P không biết việc bị cáo T mang xe đi để thực hiện hành vi phạm tội, ông P đề nghị được lấy lại chiếc xe mô tô này.

- Người bào chữa trình bày lời bào chữa: Việc khởi tố, truy tố, xét xử bị cáo Hoàng Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173/BLHS là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Nhất trí với quan điểm luận tội của đại diện Viện Kiểm sát. Về mức hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Hoàng Văn T mức án 12 (Mười hai) tháng tù. Bên cạnh đó, người bào chữa cũng đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và đề nghị miễn toàn bộ án phí sơ thẩm cho bị cáo Hoàng Văn T. Đề nghị HĐXX ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo Hoàng Văn T và bị hại về việc bồi thường thiệt hại. Đề nghị HĐXX trả lại chiếc xe mô tô Yamaha Taurus BKS 97F9-3848 cho ông Hoàng Văn P.

- Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Nhất trí với bản luận tội của Đại diện Viện Kiểm sát và lời bào chữa của người bào chữa. Về trách nhiệm hình sự, đề nghị HĐXX áp dụng mức hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo và đúng quy định pháp luật. Về trách nhiệm dân sự, đề nghị HĐXX ghi nhận sự thỏa thuận của các bị cáo và bị hại về việc bồi thường thiệt hại.

- Tại phiên các tòa bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, nhất trí với nội dung cáo trạng và bản luận tội của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn, nhất trí bồi thường số tiền 15.000.000₫ (Mười lăm triệu đồng) theo yêu cầu của người bị hại và đề nghị HĐXX ghi nhận sự thỏa thuận giữa các bị cáo và bị hại về việc bồi thường thiệt hại.

Bị cáo Hoàng Văn T nhất trí với lời bào chữa của người bào chữa.

Các bị cáo không tự bào chữa, không tranh luận. Tại lời nói sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức án thấp nhất cho các bị cáo để các bị cáo có cơ hội cải tạo, sớm trở về tái hòa nhập gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử; chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập, do bị cáo cung cấp: Xét thấy đảm bảo theo quy định của pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, tuy nhiên họ đã có đầy đủ lời khai tại giai đoạn điều tra và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt theo quy định. Việc vắng mặt của những người này tại phiên tòa không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định.

[2] Về tội danh:

Tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, biên bản sự việc, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường và bản ảnh hiện trường, lời khai của những người tham gia tố tụng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ đó đủ cơ sở xác định: Ngày 27/01/2024 Hoàng Văn V và Hoàng Văn T đã rủ nhau cùng đi trộm cắp tài sản, mục đích để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Cụ thể: Khi phát hiện nhà chị Triệu Mùi N1 tại thôn K, xã C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn đóng cửa, không có ai ở nhà, T đã thực hiện việc cảnh giới bên ngoài cho V đột nhập trái phép vào nhà chị N1 để thực hiện hành vi phạm tội. V đã cạy chốt cửa, đi vào nhà và lấy trộm số tiền 9.130.000đ (Chín triệu một trăm ba mươi nghìn đồng). Các bị cáo đã chia nhau và sử dụng hết số tiền trộm cắp được.

Hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định của Bộ luật hình sự, đã xâm phạm đến quyền sở hữu đối với tài sản của người khác là khách thể được pháp luật hình sự Việt Nam bảo vệ, làm mất trật tự trị an tại địa phương, gây lo lắng cho quần chúng nhân dân trong việc quản lý tài sản. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo đều là người đủ tuổi và đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đầy đủ nhận thức và không bị hạn chế khả năng điều khiển hành vi của mình, bản thân các bị cáo nhận thức rõ hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật, thấy trước hậu quả của hành vi nhưng vì mục đích thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên vẫn cố ý thực hiện.

Như vậy có đủ căn cứ xác định việc truy tố, xét xử các bị cáo Hoàng Văn V, Hoàng Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173/BLHS là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3] Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Đây là trường hợp phạm tội đồng phạm giản đơn, tội phạm các bị cáo thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng, có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn, tuy nhiên cũng gây ảnh hưởng xấu đến việc đảm bảo an ninh trật tự cũng như việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước tại địa phương, cần xử lý nghiêm nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo:

[4.1] Đối với bị cáo Hoàng Văn V:

Bị cáo có 02 tiền sự. Nhân thân xấu, đã bị các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính và xét xử về nhiều hành vi vi phạm pháp luật.

Đối với hành vi phạm tội của Hoàng Văn V xét thấy là liên tục, xảy ra kế tiếp nhau về mặt thời gian, cùng xâm hại một quan hệ xã hội và đều bị chi phối bởi một ý định phạm tội cụ thể thống nhất. Do đó, cần có mức xử phạt phù hợp nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Văn V đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, do đó bị cáo được hưởng 01 (Một) tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS.

Bị cáo Hoàng Văn V không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4.2] Đối với bị cáo Hoàng Văn T:

Bị cáo có 02 tiền sự. Nhân thân xấu, đã bị các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính và xét xử về nhiều hành vi vi phạm pháp luật.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Văn T đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, do đó bị cáo được hưởng 01 (Một) tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS.

Bị cáo Hoàng Văn T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về hình phạt:

Trên cơ sở quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Về hình phạt chính: Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án, hai bị cáo cùng rủ nhau đi thực hiện hành vi phạm tội và thực tế đã cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội, do đó các bị cáo có vai trò ngang nhau, đều là người thực hành trong vụ án. Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội trong một thời gian nhất định mới có thể cải tạo và giáo dục các bị cáo trở thành người công dân lương thiện, có ích cho xã hội. Tuy nhiên, các bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên HĐXX sẽ xem xét mức án tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 173/BLHS quy định về hình phạt bổ sung đối với người phạm tội, tuy nhiên xét hoàn cảnh gia đình bị cáo Hoàng Văn T thuộc hộ nghèo, các bị cáo đều là lao động tự do, nghiện ma túy, không có tài sản riêng gì có giá trị, việc áp dụng hình phạt bổ sung là không khả thi, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

Yêu cầu bồi thường thiệt hại của bị hại là có căn cứ. Các bị cáo và bị hại đã thỏa thuận được với nhau về việc bồi thường thiệt hại số tiền 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng), trong đó, mỗi bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bị hại số tiền 7.500.000₫ (Bảy triệu năm trăm nghìn đồng). Xét thấy sự thỏa thuận của các bị cáo và bị hại là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội, do đó cần ghi nhận.

[7] Về vật chứng:

Gồm có:

  • - 01 (một) găng tay vải, một mặt màu xám, một mặt màu đen, găng tay cũ, đã qua sử dụng; 01 (một) túi vải màu đen, có dây đeo, bên ngoài có dòng chữ YATETU, túi cũ, đã qua sử dụng: Xác định không còn giá trị. Tịch thu, tiêu hủy.
  • - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Taurus màu đen, BKS 97F9-3848 là công cụ, phương tiện phạm tội. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Hoàng Văn T khai chiếc xe mô tô nói trên là tài sản của ông Hoàng Văn P (là bố đẻ của bị cáo) địa chỉ thôn K, xã N, huyện P, tỉnh Bắc Kạn. Ngày 27/01/2024 bị cáo đã hỏi mượn chiếc xe này của ông P để sử dụng, tuy nhiên cụ thể bị cáo lấy xe đi đâu, với ai, làm gì thì bị cáo không nói cho ông P được biết. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của ông Hoàng Văn P và các tài liệu có trong hồ sơ vụ

án được thẩm tra tại phiên tòa. Xác định, ông Hoàng Văn P không biết việc bị cáo T mang chiếc xe đi thực hiện hành vi phạm tội, vì vậy, cần trả lại chiếc xe mô tô này cho ông Hoàng Văn P.

[8] Về vấn đề khác:

Đối với ông Hoàng Văn P là chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Taurus BKS 97F9-3848: Việc Hoàng Văn T sử dụng chiếc xe làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội ông P không biết nên cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với ông Hoàng Văn P, HĐXX xét thấy là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật.

Đối với người đàn ông được các bị cáo nhờ đi mua ma túy hộ, các bị cáo đều không biết danh tính, do đó không đủ căn cứ xác minh, xử lý. Sau khi có được ma túy, các bị cáo tự đem về nhà, tự sử dụng, hành vi của các bị cáo đã được cơ quan cảnh sát điều tra chuyển cho cơ quan chức năng xử lý bằng biện pháp khác, HĐXX xét thấy là phù hợp.

[9] Về quan điểm giải quyết vụ án của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân và người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại:

Xét thấy quan điểm về việc giải quyết vụ án của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn, đề nghị của người bào chữa và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật, cần được chấp nhận.

[10] Về án phí và quyền kháng cáo:

- Về án phí hình sự: Bị cáo Hoàng Văn V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Hoàng Văn T là cá nhân thuộc hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí, xét thấy cần chấp nhận miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Xét thấy, trước khi mở phiên tòa các bị cáo và bị hại đã thỏa thuận được với nhau về việc bồi thường thiệt hại và đề nghị Tòa án ghi nhận. Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Q, miễn án phí dân sự sơ thẩm cho các bị cáo.

- Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh:

Tuyên bố các bị cáo Hoàng Văn V, Hoàng Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt:

2.1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1, Điều 51, Điều 56; Điều 58 của Bộ luật hình sự; Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn V 15 (Mười lăm) tháng tù.

Tổng hợp hình phạt 08 (T2) tháng tù tại bản án số 16/2023/HS-ST ngày 17/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.

Buộc bị cáo Hoàng Văn V phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 23 (Hai mươi ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam

05/02/2024.

2.2. Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1, Điều 51, Điều 56; Điều 58 của Bộ luật hình sự; Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 15 (Mười lăm) tháng tù.

Tổng hợp hình phạt 17 (Mười bảy) tháng tù tại bản án số 15/2023/HS-ST ngày 17/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.

Buộc bị cáo Hoàng Văn T phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 32 (Ba mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 05/3/2024, được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 14/12/2023 đến ngày 22/12/2023.

3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48/BLHS; Các Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 587; Điều 589/BLDS.

Ghi nhận sự thỏa thuận của các bị cáo và bị hại về việc bồi thường số tiền 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng).

Buộc các bị cáo Hoàng Văn V, Hoàng Văn T phải có trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại cho chị Triệu M Nhạy số tiền 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng). Trong đó mỗi bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại như sau:

Bị cáo Hoàng Văn V phải bồi thường số tiền 7.500.000₫ (Bảy triệu năm trăm nghìn đồng).

Bị cáo Hoàng Văn T phải bồi thường số tiền 7.500.000₫ (Bảy triệu năm trăm nghìn đồng).

Việc thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 357/BLDS.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357; Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

4. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47/BLHS; Điều 106/BLTTHS.

4.1. Tịch thu tiêu hủy đối với: 01 (một) găng tay vải, một mặt màu xám, một mặt màu đen, găng tay cũ, đã qua sử dụng; 01 (một) túi vải màu đen, có dây đeo, bên ngoài có dòng chữ YATETU, túi cũ, đã qua sử dụng.

4.2. Trả lại cho ông Hoàng Văn P - sinh năm 1985; Địa chỉ thôn K, xã N, huyện P, tỉnh Bắc Kạn 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại TAURUS-16S2, màu sơn đen, loại xe hai bánh từ 50-175cm³, biển số 97F9-3848, ngày đăng ký 05/08/2009; Số máy: 16S2065593; Số khung” RLCS16S209Y065590; Dung tích xi lanh 113cm³, năm sản xuất 2009; tình trạng: Cũ đã qua sử dụng. Phần đuôi xe gắn biển số đã bị gãy.

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận ngày 28/5/2024 giữa Công an huyện B, tỉnh Bắc Kạn với Chi cục thi hành án dân sự huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn)

5. Về án phí:

Áp dụng Điều 135; khoản 2 Điều 136/BLTTHS, điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm a, f khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản

lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Hoàng Văn V phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Hoàng Văn T được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Kạn;
  • - VKSND tỉnh Bắc Kạn;
  • - VKSND huyện Ba Bê;
  • - Công an huyện Ba Bể;
  • - Chi cục THADS huyện Ba Bể;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Kạn (Khi có HLPL);
  • - THAHS;
  • - Các bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - Bị hại;
  • - NBVQ&LIHPCBH;
  • - NCQLNVLQ;
  • - Lưu HSVA; Văn thư.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thùy Linh

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BA BỂ

TỈNH BẮC KẠN

Số: /2024/TB-TA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Ba Bể, ngày 06 tháng 8 năm 2024

THÔNG BÁO

SỬA CHỮA, BỔ SUNG BẢN ÁN

Căn cứ các điều 45, 260 và 261 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Xét thấy Bản án hình sự sơ thẩm số: 23/2024/HS-ST ngày 11/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn có lỗi do sơ suất trong soạn thảo văn bản cần được sửa chữa, bổ sung như sau:

1. Về nội dung tại dòng thứ 5 (Năm) từ trên xuống của trang 10 (Mười) tiểu mục 2.1 phần QUYẾT ĐỊNH của Bản án sơ thẩm nêu trên đã ghi: “Tổng hợp hình phạt 08 (T2) tháng tù tại bản án số 16/2023/HS-ST ngày 17/5/2024 của Toà án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn”

Nay được sửa chữa, bổ sung như sau: “Tổng hợp hình phạt 08 (T2) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 16/2024/HS-ST ngày 17/5/2024 của Toà án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn".

2. Về nội dung tại dòng thứ 13 (Mười ba) từ trên xuống của trang 10 (Mười) tiểu mục 2.2 phần QUYẾT ĐỊNH của Bản án sơ thẩm nêu trên đã ghi: “Tổng hợp hình phạt 17 (Mười bảy) tháng tù tại bản án số 15/2023/HS-ST ngày 17/5/2024 của Toà án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn”

Nay được sửa chữa, bổ sung như sau: “Tổng hợp hình phạt 17 (Mười bảy) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại bản án số 15/2024/HS-ST ngày 17/5/2024 của Toà án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn”.

3. Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn thông báo các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng và các cơ quan liên quan được biết./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Kạn;
  • - VKSND tỉnh Bắc Kạn;
  • - VKSND huyện Ba Bế;
  • - Công an huyện Ba Bể;
  • - Chi cục THADS huyện Ba Bể;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Kạn (Khi có HLPL);
  • - THAHS;
  • - Các bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - Lưu HSVA; Văn thư.

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thùy Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2024/HS-ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 23/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 27/01/2024 Hoàng Văn V và Hoàng Văn T đã rủ nhau cùng đi trộm cắp tài sản, mục đích để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Cụ thể: Khi phát hiện nhà chị Triệu Mùi N tại thôn Khuổi Sliến, xã Cao Thượng, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn đóng cửa, không có ai ở nhà, T đã thực hiện việc cảnh giới bên ngoài cho V đột nhập trái phép vào nhà chị N để thực hiện hành vi phạm tội. V đã cạy chốt cửa, đi vào nhà và lấy trộm số tiền 9.130.000đ (Chín triệu một trăm ba mươi nghìn đồng). Các bị cáo đã chia nhau và sử dụng hết số tiền trộm cắp được. Hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định của Bộ luật hình sự, đã xâm phạm đến quyền sở hữu đối với tài sản của người khác là khách thể được pháp luật hình sự Việt Nam bảo vệ, làm mất trật tự trị an tại địa phương, gây lo lắng cho quần chúng nhân dân trong việc quản lý tài sản. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo đều là người đủ tuổi và đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đầy đủ nhận thức và không bị hạn chế khả năng điều khiển hành vi của mình, bản thân các bị cáo nhận thức rõ hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật, thấy trước hậu quả của hành vi nhưng vì mục đích thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên vẫn cố ý thực hiện. Như vậy có đủ căn cứ xác định việc truy tố, xét xử các bị cáo Hoàng Văn V, Hoàng Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173/BLHS là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger