Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2024/HSST

Ngày: 11/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huế.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Tú Nam và bà Phạm Thị Ngọc Huế.

-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền- Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà tham gia phiên tòa: Ông Phan Anh Tuấn- Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế (Số E đường Đ, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 16/2024/HSST ngày 15 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2024/QĐXXST-HS ngày 23/5/2024 đối với bị cáo:

1. Nguyễn Thị G; sinh ngày 01/01/1967 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Nơi cư trú: Thôn H, xã B, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Thầu xây dựng; trình độ văn hoá: 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình P và bà Nguyễn Thị T; chồng: Đặng H; con: Có 06 con, lớn nhất 37 tuổi, nhỏ nhất 16 tuổi. Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 26/01/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

2. Mai Thị Kiều N, tên gọi khác: Bé H1; sinh ngày 02/9/1989 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; giới tính: Nữ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Mai Văn T1 và bà Lê Thị M; chồng: Chưa có; con: có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2021, hiện đang mang thai 32 tuần tuổi.

Quá trình nhân thân: Từ nhỏ ở với gia đình tại xã H, thị xã H (nay là thành phố H), lớn lên đi học văn hóa đến lớp 9, ở nhà lao động tự do. Ngày 24/5/2018, bị Công an thị xã H xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành đánh bạc (đã chấp hành xong). Ngày 29/9/2020, Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà ra bản án hình sự sơ thẩm số 38/2020/HS-ST tuyên phạt Mai Thị Kiều N 8 tháng tù, phạt bổ sung 30.000.000 đồng về tội “Tổ chức đánh bạc”; tuyên phạt 6 tháng tù, phạt bổ sung 20.000.000 đồng về tội Đánh bạc. Tổng hợp hình phạt chung của cả hai tội là 14 tháng tù, phạt bổ sung số tiền 50.000.000 đồng. Ngày 10/10/2020, bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo. Ngày 09/3/2021, Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế ra bản án hình sự phúc thẩm số 19/2021/HSPT tuyên không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm (bị cáo được hoãn thi hành án vì nuôi con dưới 36 tháng tuổi). Ngày 25/9/2023, Tòa án nhân dân huyện Phú Lộc ra bản án hình sự sơ thẩm số 64/2023/HS-ST tuyên phạt Mai Thị Kiều N 8 tháng tù, phạt bổ sung 12.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”. Tổng hợp với hình phạt tại bản án hình sự phúc thẩm số 19/2021/HSPT của Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế, buộc Mai Thị Kiều N phải chấp hành hình phạt chung là 22 tháng tù và phạt bổ sung số tiền 62.000.000 đồng. (bị cáo chưa chấp hành hình phạt).

Tiền sự: Không; tiền án: 02 tiền án về tội “Đánh bạc”.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 19/01/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

Người làm chứng:

  1. Anh Phan Tấn T2, sinh năm 1981; Nơi cư trú: Thôn P, xã B, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
  2. Anh Hồ Ngọc Q, sinh năm 1984; Nơi cư trú: Số E T, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
  3. Chị Nguyễn Thị T3, sinh năm 1978; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 20/12/2023, Nguyễn Thị G, Mai Thị Kiều N đã đến Công an xã B tự thú về hành vi đánh bạc dưới hình thức ghi số đề vào ngày 19/11/2023 với tang số 201.334.000 đồng. Sau khi tiếp nhận, Công an xã B đã chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H điều tra theo thẩm quyền. Quá trình điều tra xác định: Vào ngày 19/11/2023, Mai Thị Kiều N sử dụng điện thoại di động S A70 đăng nhập vào ứng dụng Zalo, sử dụng tài khoản Zalo có tên “COSY” được đăng ký bằng số điện thoại 0914.418.xxx nhắn tin cho Nguyễn Thị G sử dụng tài khoản Zalo có tên “SORY” được đăng ký bằng số điện thoại 0326.795.xxx để đánh bạc bằng hình thức ghi số đề đài miền N (Tiền Giang, Kiên Giang, Lâm Đồng).

Tang số đánh bạc cụ thể như sau: Đài miền N (Tiền Giang, Kiên Giang, Lâm Đồng), N đã gửi cho G 113 con số với tổng số tiền đánh là 28.434.000 đồng. Sau khi có kết quả xổ số, các con số N gửi cho G đã trúng đề (gồm các con số: 771, 11, 668, 68, 619, 719) với số tiền trúng là 172.900.000 đồng.

Như vậy, vào ngày 19/11/2023, Nguyễn Thị Giàu c hành vi đánh bạc cùng Mai Thị Kiều N 01 lượt đánh với tổng số tiền đánh và tiền trúng là 201.334.000 đồng. Do đó, Nguyễn Thị G, Mai Thị Kiều N phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đánh bạc với tang số 201.334.000đồng.

Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại Samsung Galaxy A70; 01 điện thoại Samsung Galaxy A52.

Đối với số tiền thực đánh 22.680.000 đồng Mai Thị Kiều N dùng để đánh bạc và số tiền 50.000.000 đồng là tiền thắng bạc Nguyễn Thị G đã trả N, quá trình điều tra, N chưa nộp lại số tiền trên.

Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Bản Cáo trạng số 21/CT-VKS ngày 26/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế quyết định truy tố các bị cáo Nguyễn Thị G, Mai Thị Kiều N, về tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế thực hành quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo phạm tội Đánh bạc.

Áp dụng khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 54, Điều 65, Điều 17 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị G từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo; xử phạt bổ sung bị cáo từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.

Áp dụng khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm r, n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 54, Điều 55, Điều 56 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Mai Thị Kiều N 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù; xử phạt bổ sung bị cáo từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.

Tổng hợp hình phạt 22 tháng tù, phạt tiền 62.000.000 đồng, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 64/2023/HSST ngày 25/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Phú Lộc, Thừa Thiên Huế. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại Samsung Galaxy A70; 01 điện thoại Samsung Galaxy A52.

Về biện pháp tư pháp khác: Buộc bị cáo Mai Thị Kiều N nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 72.680.000 đồng.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà. Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo, người làm chứng, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên toà hôm nay, các bị cáo Nguyễn Thị G, Mai Thị Kiều N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, xét lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để kết luận:

Trong ngày 19 tháng 11 năm 2023, tại thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, Nguyễn Thị G và Mai Thị Kiều N có hành vi đánh bạc dưới hình thức ghi số đề với tang số dùng vào mục đích đánh bạc là 201.334.000 đồng. Hành vi này của các bị cáo đã cấu thành tội “Đánh bạc”. Do vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố đối với các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

- Bị cáo Nguyễn Thị G không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Bị cáo Mai Thị Kiều N đã bị xử phạt 08 tháng tù về tội “Đánh bạc” theo Bản án số 72/2022/HSST ngày 31/3/2022 của Tòa án nhân dân huyện Phú Lộc, bản án này chưa được xóa án tích, nên lần phạm tội này bị cáo N đã phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là Tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo khi phạm tội đều tự thú, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm r khoản 1 điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Đối với bị cáo Nguyễn Thị G đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Đối với bị cáo Mai Thị Kiều N đã thành khẩn khai báo, đang có thai 12 tuần nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm n, s khoản 1 điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và hình phạt:

Đây là vụ án đồng phạm mang tính chất giản đơn, các bị cáo đều là người thực hành cùng thực hiện tội phạm, tuy nhiên bị cáo G là người có hành vi giới thiệu bị cáo N tham gia đánh bạc, nên phải chịu trách nhiệm hình sự với vai trò cao hơn bị cáo N trong vụ án.

Các bị cáo Nguyễn Thị G, Mai Thị Kiều N là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc đánh bạc là vi phạm pháp luật nhưng vì hám lợi nên các bị cáo vẫn cố ý thực hiện nhằm thu lợi bất chính, do đó cần phải có hình phạt phù hợp để giáo dục, răn đe chung.

Đối với bị cáo Nguyễn Thị G khi phạm tội có nhiều (02) tình tiết giảm nhẹ, nên cần xem xét áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt cho bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng. Nhận thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo tại cộng đồng mà không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, do đó cần áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo là phù hợp, tạo điều kiện cho bị cáo cải tạo trở thành công dân tốt, thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật.

Đối với bị cáo Mai Thị Kiều N có nhân thân xấu, đã từng bị kết án về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc nhưng không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục phạm tội thể hiện sự coi thường pháp luật. Do đó, cần phải xử nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe giáo dục bị cáo. Tuy nhiên, khi phạm tội bị cáo được hưởng nhiều (03) tình tiết giảm nhẹ, nên cần xem xét áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt cho bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, giúp bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật và yên tâm cải tạo.Do bị cáo N phạm tội trong khi đang chấp hành hình phạt của các bản án đã xét xử trước đây nên cần áp dụng các Điều 55 và khoản 2 Điều 56 của Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của các bản án theo quy định.

Trong vụ án, quá trình điều tra xác định Mai Thị Kiều N có khai nhận ghi số đề của những người khác để chuyển lên cho Nguyễn Thị G. Tuy nhiên, không có tài liệu chứng minh N là ghi đề cho G. Nguyễn Thị G trực tiếp đánh bạc với Mai Thị Kiều N, không thành lập đường dây ghi đề nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H không xử lý Nguyễn Thị G, Mai Thị Kiều N về tội “Tổ chức đánh bạc” là có căn cứ.

[8] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 điện thoại Samsung Galaxy A70; 01 điện thoại Samsung Galaxy A52, là công cụ phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

[9] Về các biện pháp tư pháp khác: Truy thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 72.680.000 đồng là số tiền thu lợi bất chính của bị cáo Mai Thị Kiều N. Bị cáo đã nộp số tiền 2.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế nên cần khấu trừ cho bị cáo.

[10] Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: Điểm b Khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thị G, Mai Thị Kiều N phạm tội “Đánh bạc”.

Căn cứ:

1.1 Căn cứ: Điểm b Khoản 2, Khoản 3 Điều 321; Điều 65; Điểm r, s Khoản 1 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị G 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 36 tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Nguyễn Thị G cho Ủy ban nhân dân xã B, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế nơi bị cáo cư trú giám sát giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Nguyễn Thị G cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Nguyễn Thị G phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thị G 20.000.000 đồng .

1.2 Căn cứ: Điểm b Khoản 2, Khoản 3 Điều 321; Điều 38; Điểm r, n, s khoản 1, Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 54, Điều 55; Khoản 2 Điều 56 Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt: Bị cáo Mai Thị Kiều N 18 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Phạt bổ sung bị cáo Mai Thị Kiều N 20.000.000 đồng .

Tổng hợp hình phạt 22 tháng tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 64/2023/HSST ngày 25/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Phú Lộc, Thừa Thiên Huế. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 03 (ba) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt giam thi hành án, được trừ vào thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/02/2020 đến ngày 27/02/2020.

Tổng hợp phần phạt bổ sung số tiền 62.000.000 đồng. Buộc bị cáo phải nộp số tiền 82.000.000 đồng.

2. Về biện pháp tư pháp:

- Buộc bị cáo Mai Thị Kiều N truy nộp số tiền 72.680.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước, được khấu trừ vào số tiền 2.000.000 đồng bị cáo đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001526 ngày 10/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế. Bị cáo còn phải tiếp tục nộp số tiền 70.680.000 đồng.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên bố:

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại Samsung Galaxy A70; 01 điện thoại Samsung Galaxy A52.

(Vật chứng trên có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/5/2024 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H và Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã Hương Trà).

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc các bị cáo Nguyễn Thị G, Mai Thị Kiều N mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh TTHuế, VKSND tỉnh TTHuế;
  • -Sở Tư pháp tỉnh TTHuế;
  • -Phòng PV06 Công an tỉnh TTHuế;
  • -Công an thị xã Hương Trà;
  • -VKSND thị xã Hương Trà;
  • -THA HS, THA DS;
  • -Các bị cáo;
  • -Lưu.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Thị Huế

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2024/HSST ngày 11/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về hình sự: đánh bạc

  • Số bản án: 23/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger