Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN P

TỈNH PHÚ YÊN

Bản án số: 23/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 11/6/2024

V/v “Tranh chấp ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH PHÚ YÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Sơn

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Lê Bá Tự
  • 2. Ông Phạm Hoàn Thiện

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Công Tân- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Bùi Xuân Tùng- Kiểm sát viên.

Trong ngày 11 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 239/2023/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Lý Thị S, sinh năm 1988
  • HKTT: Thôn Nho Lâm, xã Hòa Quang Nam, huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên;
  • Trú ở: Thôn Phong Niên, xã Hòa Thắng, huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên.
  • Có mặt tại phiên tòa.
  • - Bị đơn: Ông Huỳnh Kim H, sinh năm 1981
  • Trú ở: Thôn N, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên;
  • Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện do bà Lý Thị S viết ngày 13/9/2023, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà S trình bày: Vào năm 2009 bà S và ông Huỳnh Kim H kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện P, hôn nhân tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn không có tiếng nói chung, ông H đánh đập chửi mắng bà S, vào tháng 8/2023 trong lúc vợ chồng cãi vã ông H đã dùng xăng đốt bà S gây thương tích nên phải nhập viện cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh P và công an xã H, huyện P đã giải quyết. Sau đó, bà S về phía gia đình bà S ở cho đến nay. Nay bà S không thể nào tiếp tục chung sống với ông H nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Huỳnh Lý Thu T, sinh ngày 31/12/2009 và Huỳnh Lý Tấn Đ, sinh ngày 07/8/2017. Hiện nay, các con đang ở với ông H, ly hôn bà S đồng ý giao hai con chung cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng. Tại phiên tòa, bà S đồng ý cấp dưỡng nuôi cháu T mỗi tháng 2.000.000đ, thời hạn cấp dưỡng kể từ tháng 9/2024.

Về tài sản chung: Vợ chồng có 40 con trâu, hiện nay ông H đã bán 04 con, còn lại 36 con ông H đang quản lý; 02 chiếc xe môtô, một chiếc hiệu Wave và một chiếc xe tay ga hiệu Click. Ngoài ra vợ chồng có xây cất hạ hiên, phía sau ngôi nhà cấp 4, chữ L ở chung với cha, mẹ ông H. Ly hôn, bà S và ông H tự thỏa thuận phân chia tài sản chung với nhau, không yêu cầu Tòa giải quyết.

Vợ nợ chung: Vợ chồng có nợ bà Huỳnh Thị Kim B 03 chỉ vàng y (9999), ông Lê Kim H1 02 chỉ vàng y (9999) và 1000 USD, khoản nợ này các bên tự thỏa thuận với nhau, không yêu cầu Tòa giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn ông Huỳnh Kim H trình bày: Vào năm 2009 ông H và bà Lý Thị S kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện P, hôn nhân tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn không có tiếng nói chung, trong lúc vợ chồng cãi vã ông H có dùng xăng đốt quần áo nên có trúng bà S gây thương tích phải nhập viện cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh P và công an xã H đã giải quyết. Vào ngày 12/7/2023 (âm lịch) bà S đã bỏ về phía gia đình bà S ở cho đến nay, vợ chồng không còn sống chung. Nay bà S làm đơn ly hôn, ông H không đồng ý, xin bà S bỏ qua lỗi lầm để vợ chồng đoàn tụ nuôi dạy các con nhưng bà S vẫn một mực xin ly hôn thì ông H đồng ý.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Huỳnh Lý Thu T, sinh ngày 31/12/2009 và Huỳnh Lý Tấn Đ, sinh ngày 07/8/2017. Hiện đang ở với ông H, ly hôn ông H xin nhận nuôi 02 con và yêu cầu bà S cấp dưỡng nuôi cháu T mỗi tháng 2.000.000đ, thời hạn cấp dưỡng từ tháng 9/2024, ngoài ra ông H không yêu cầu bà S cấp dưỡng nuôi cháu Đ.

Về tài sản chung: Vợ chồng có 40 con trâu nhưng từ lúc mâu thuẫn bà S bỏ nhà đi nên ông H đã bán 25 con trâu thịt, với số tiền 183.000.000đ, hiện nay chỉ còn 05 con trâu mẹ, 05 trâu lứa và 05 con trâu con; 02 chiếc xe môtô, một chiếc hiệu Wave và một chiếc xe tay ga hiệu Click. Ngoài ra, vợ chồng có xây cất hạ hiên, phía sau ngôi nhà cấp 4, chữ L ở chung với cha, mẹ ông H. Ly hôn, ông H và bà S tự thỏa thuận phân chia tài sản chung với nhau, không yêu cầu Tòa giải quyết.

Vợ nợ chung: Vợ chồng có nợ bà Huỳnh Thị Kim B 03 chỉ vàng y (9999), ông Lê Kim H1 02 chỉ vàng y (9999) và 1000 USD, nhưng đã trả cho ông H1 1000 USD, hiện nay chỉ còn nợ ông H1 02 chỉ vàng y (9999). Đối với khoản nợ trên để các bên tự thỏa thuận với nhau, không yêu cầu Tòa giải quyết.

Đối với bà Huỳnh Thị Kim B và ông Lê Kim H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa giải quyết, không trình bày ý kiến việc vay mượn với bà S, ông H. Tại phiên tòa, bà S và ông H không yêu cầu Tòa giải quyết để các bên tự thỏa thuận với nhau.

Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không thành.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và nêu quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn, cho bà Lý Thị S được ly hôn với ông Huỳnh Kim H; Về con chung: Giao cháu Huỳnh Lý Thu T, sinh ngày 31/12/2009 và Huỳnh Lý Tấn Đ, sinh ngày 07/8/2017 cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng; Về cấp dưỡng, bà Lý Thị S có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu T mỗi tháng 2.000.000đ, thời hạn cấp dưỡng từ tháng 09/2024, ông H không yêu cầu bà S cấp dưỡng nuôi cháu Đ nên đề nghị Tòa không xét; Về tài sản chung: Bà Lý Thị S và ông Huỳnh Kim H tự thỏa thuận với nhau, không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Tòa không xét. Về án phí nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ hôn nhân:Lý Thị S và ông Huỳnh Kim H tự nguyện tìm hiểu và kết hôn với nhau, được Ủy ban nhân dân xã H, huyện P cấp giấy chứng nhận kết hôn vào năm 2009 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Tại phiên tòa, bà S vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn, lý do vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, hơn nữa đã không sống chung với nhau. Bị đơn, ông H không muốn ly hôn, mong muốn vợ chồng đoàn tụ nhưng bà S vẫn một mực cương quyết ly hôn thì ông H đồng ý. Xét thấy, hôn nhân giữa bà S và ông H mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn, cho bà S được ly hôn ông H.

[2] Về con chung:Lý Thị S và ông Huỳnh Kim H có 02 con chung là cháu Huỳnh Lý Thu T, sinh ngày 31/12/2009 và Huỳnh Lý Tấn Đ, sinh ngày 07/8/2017. Tại phiên tòa, bà S và ông H thống nhất thỏa thuận giao 02 con chung cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy, cháu Đ còn nhỏ, còn cháu T có nguyện vọng xin ở với ba và hiện nay đang ở với ông H, do đó để đảm sự phát triển về thể chất và tinh thần và ổn định cuộc sống như lâu nay của các con nên Hội đồng xét xử chấp nhận sự tự nguyện thỏa thuận nêu trên của các bên đương sự, giao hai con chung cho ông H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

[3] Về cấp dưỡng nuôi con: Tại phiên tòa, bà S và ông H thống nhất thỏa thuận, bà S có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Huỳnh Lý Thu T mỗi tháng 2.000.000đ, thời hạn cấp dưỡng từ tháng 9/2024. Xét sự thỏa thuận của bà S và ông H là tự nguyện và phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Ngoài ra, ông H không yêu cầu bà S cấp dưỡng nuôi cháu Huỳnh Lý Tấn Đ nên Tòa không xét.

[4] Về tài sản chung:Lý Thị S và ông Huỳnh Kim H không yêu cầu giải quyết nên Tòa không xét.

Đối với bà Huỳnh Thị Kim B và ông Lê Kim H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa giải quyết việc vay mượn với bà S, ông H. Tại phiên tòa, bà S và ông H không yêu cầu Tòa giải quyết khoản nợ này để các bên tự thỏa thuận với nhau nên Tòa không xét. Nếu sau này các bên có tranh chấp thì sẽ giải quyết bằng vụ án dân sự khác.

[5] Về án phí:Lý Thị S phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí HNGĐ-ST và 300.000đ án phí DSST (phần cấp dưỡng nuôi con).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn, cho bà Lý Thị S được ly hôn với ông Huỳnh Kim H.

Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Huỳnh Lý Thu T, sinh ngày 31/12/2009 và Huỳnh Lý Tấn Đ, sinh ngày 07/8/2017 cho ông Huỳnh Kim H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con:Lý Thị S phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Huỳnh Lý Thu T mỗi tháng 2.000.000đ (Hai triệu đồng), thời hạn cấp dưỡng từ tháng 9/2024 và chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng cho đến khi phát sinh một trong các trường hợp quy định tại Điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Ông H không yêu cầu cầu bà S phải cấp dưỡng nuôi cháu Huỳnh Lý Tấn Đ nên Tòa không xét.

Người không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.

Về tài sản chung:Lý Thị S và ông Huỳnh Kim H tự thỏa thuận với nhau, không yêu cầu giải quyết nên Tòa không xét.

Về án phí: Áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng lệ phí Tòa án.

Lý Thị S phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí HNGĐ-ST và 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí DSST phần cấp dưỡng nuôi con. Bà S đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010204 ngày 27/10/2023 của cơ quan Chi cục Thi hành án Dân sự huyện P, tỉnh Phú Yên. Do đó, bà Lý Thị S còn phải nộp tiếp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án được thực hiện theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND H.P;
  • - CCTHADS H P;
  • - TAND tỉnh Phú Yên;
  • - UBND xã HTrị, h.P
  • Số 07, ngày 10/01/2009
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Thúy Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2024/HNGĐ-ST ngày 11/06/2024 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Phú Yên về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 23/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Phú Yên
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Lý Thị Sang xin ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger