Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN ND HUYỆN SƠN ĐỘNG

TỈNH BẮC GIANG


CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 23/2024/HSST

Ngày 10 - 7 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG - TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Toàn;

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Đức Dụng;
  2. Bà Hoàng Thị Chung;

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Thị Trang – Thư ký Toà án nhân dân huyện Sơn Động.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Minh Đức – Kiểm sát viên sơ cấp.

Trong ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2024/TLST - HS, ngày 12 tháng 6 năm 2024; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2024/QĐXX- HSST, ngày 26 tháng 6 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Văn C, sinh năm 1985;
  2. Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam.

    Nơi sinh: Huyện S, tỉnh Bắc Giang; Nơi ĐKNKTT và thường trú: Thôn H, xã L, huyện S, tỉnh Bắc Giang.

    Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không.

    Họ và tên bố: Nguyễn Hồng T (đã chết); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị L; H và tên vợ: Hoàng Thị C1; Bị cáo có 02 con; Bị cáo có 04 anh chị em ruột, bản thân là con thứ tư trong gia đình.

    Tiền án, tiền sự: Không có.

    Nhân thân: Ngày 18/11/2021, Nguyễn Văn C bị Chủ tịch UBND xã L, huyện S ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 207/QĐ-XPHC xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc; Ngày 21/11/2021 C đã nộp phạt đủ số tiền này.

    Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

  3. Đặng Hữu L1, sinh năm 1983;
  4. Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam; Nơi ĐKNKTT và thường trú: Thôn T, xã Đ, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.

    Dân tộc: Dao; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 06/12; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không.

    Họ và tên bố: Đặng Văn T1; Họ và tên mẹ: Lý Thị S; V là Đặng Thị M và có 02 con; Bị cáo có 05 anh chị em ruột, bản thân là con thứ hai trong gia đình.

    Tiền án: Bản án số 64/2023/HS-ST ngày 06/6/2023 của TAND tỉnh Quảng Ninh xử phạt Đặng Hữu L1 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng về tội đánh bạc.

    Tiền sự: Không có.

    Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

  5. Đỗ Văn H1, sinh năm 1987;
  6. Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam.

    Nơi sinh: Thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; Nơi ĐKNKTT và thường trú: Thôn Đ, xã S, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.

    Dân tộc: Sán Dìu; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 9/12; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không.

    Họ và tên bố: Đỗ Văn L2; Họ và tên mẹ: Đặng Thị K; H và tên vợ: Lê Thị T2; Bị cáo có 01 con mới sinh; Bị cáo có 05 anh chị em ruột, bản thân là con thứ 5 trong gia đình.

    Tiền án, tiền sự: Không có.

    Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

  7. Phạm Văn P, sinh năm 1979;
  8. Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam.

    Nơi sinh: Huyện S, tỉnh Bắc Giang; Nơi ĐKNKTT và thường trú: Thôn T, xã L, huyện S, tỉnh Bắc Giang.

    Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 02/12; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không.

    Họ và tên bố: Phạm Văn N; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị T3; H và tên vợ: Nguyễn Thị N1; Bị cáo có 03 con; Bị cáo có 05 anh chị em ruột, bản thân là con thứ ba trong gia đình.

    Tiền án, tiền sự: Không có.

    Nhân thân: Ngày 23/07/2001, P bị Công an huyện S ra Quyết định xử phạt hành chính 200.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản; Ngày 07/08/2001, P đã nộp phạt tiền theo quyết định.

    Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

  9. Hoàng Văn H2, sinh năm 1978;
  10. Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam.

    Nơi sinh: Huyện S, tỉnh Bắc Giang; Nơi ĐKNKTT và thường trú: Thôn Đ, xã D, huyện S, tỉnh Bắc Giang.

    Dân tộc: Tày; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: Lớp 02/12.; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không.

    Họ và tên bố: Hoàng Văn V1; Họ và tên mẹ: Hoàng Thị P1; H và tên vợ: Hoàng Thị C2 và có 02 con; Bị cáo có 05 anh chị em ruột, bản thân là con thứ ba trong gia đình.

    Tiền án, tiền sự: Không có.

    Nhân thân: Bản án số 18/2021/HSST ngày 22/07/2021 của TAND huyện Sơn Động tỉnh Bắc Giang xử phạt Hoàng Văn H2 08 tháng tù về tội Đánh bạc nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 tháng

    Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

  11. Trương Quốc T4, sinh năm 1980;
  12. Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam.

    Nơi sinh: Thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; Nơi ĐKNKTT: Khu C, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Nơi thường trú hiện nay: Thôn Đ, xã L, huyện B, tỉnh Quảng Ninh.

    Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không.

    Họ và tên bố: Trương Quốc K1 (đã chết); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị T5; H và tên vợ: Vũ Thị Thu M1 và có 02 con; Bị cáo có 05 anh chị em ruột, bản thân là con thứ 5 trong gia đình.

    Tiền án, tiền sự: Không có.

    Nhân thân: Bản án số 14/2011/HSST ngày 02/12/2011 của Tòa án nhân dân huyện Ba Chẽ tỉnh Quảng Ninh xử phạt Trương Quốc T4 09 tháng tù về tội đánh bạc, thời hạn tù tính từ ngày 01/07/2011. Ngày 30/11/2016, Trương Quốc T4 bị Công an huyện B ra Quyết định xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc. Ngày 04/01/2017, T4 đã nộp phạt xong.Bản án số 129/2017/HS-ST ngày 20/12/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt Trương Quốc T4 09 tháng tù về tội đánh bạc, thời hạn tù tính từ ngày 17/05/2017.

    Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

  13. Hoàng Văn T6, sinh năm 1964;
  14. Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam.

    Nơi sinh: Huyện S, tỉnh Bắc Giang; Nơi ĐKNKTT và thường trú: Thôn Đ, xã D, huyện S, tỉnh Bắc Giang.

    Dân tộc: Tày; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 03/12; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không.

    Họ và tên bố: Hoàng Văn Ự (đã chết); Họ và tên mẹ: Vũ Thị X (đã chết); H và tên vợ: Vi Thị Q và có 05 con; Bị cáo có 03 anh chị em ruột, bản thân là con thứ 03 trong gia đình.

    Tiền án, tiền sự: Không có.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 01/01/2024 đến ngày 09/01/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

  15. Đỗ Văn L3, sinh năm 1985;
  16. Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam.

    Nơi sinh: Thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; Nơi ĐKNKTT và thường trú: Thôn Đ, xã S, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.

    Dân tộc: Sán Dìu; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 09/12; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không.

    Họ và tên bố: Đỗ Văn L2; Họ và tên mẹ: Đặng Thị K; H và tên vợ: Vi Thị M2 và có 02 con; Bị cáo có 05 anh chị em ruột, bản thân là con thứ 04 trong gia đình.

    Tiền án, tiền sự: Không có.

    Nhân thân: Ngày 19/02/2019, Đỗ Văn L3 bị Công an thành phố H, tỉnh Quảng Ninh ra Quyết định xử phạt hành chính 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Ngày 19/02/2019, L3 đã nộp phạt đủ số tiền này. Bản án số 03/2021/HSST ngày 11/3/2021 của Tòa án nhân dân huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh xử phạt Đỗ Văn L3 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng tù về tội Đánh bạc.

    Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

  17. Trần Văn L4, sinh năm 1990;
  18. Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam.

    Nơi sinh: Huyện S, tỉnh Bắc Giang; Nơi ĐKNKTT và thường trú: Thôn Đ, xã D, huyện S, tỉnh Bắc Giang.

    Dân tộc: Sán Chay; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 09/12; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không.

    Họ và tên bố: Trần Văn C3; Họ và tên mẹ: Hoàng Thị N2 (đã chết); H và tên vợ: Hoàng Thị M3 (đã ly hôn) và có 01 con; Bị cáo có 04 anh chị em ruột, bản thân là con thứ 4 trong gia đình.

    Tiền án, tiền sự: Không có.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 01/01/2024 đến ngày 09/01/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

  19. Hoàng Văn T7, sinh năm 1986;
  20. Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam.

    Nơi sinh: Huyện S, tỉnh Bắc Giang; Nơi ĐKNKTT và thường trú: Thôn Đ, xã D, huyện S, tỉnh Bắc Giang.

    Dân tộc: Tày; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 09/12; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không.

    Họ và tên bố: Hoàng Văn ứ (đã chết); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị Q1 (đã chết); H và tên vợ: Lộc Thị X1 và có 02 con; Bị cáo có 03 anh chị em ruột, bản thân là con thứ 02 trong gia đình.

    Tiền án, tiền sự: Không có.

    Nhân thân: Bản án số 39/2012/HSST ngày 26/11/2012 của Tòa án nhân dân huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh xử phạt Hoàng Văn T7 03 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, thời hạn tù tính từ ngày 02/9/2012, bị cáo đã chấp hành xong.

    Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

  21. Lộc Văn T8, sinh năm 1989;
  22. Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam.

    Nơi sinh: Huyện S, tỉnh Bắc Giang; Nơi ĐKNKTT và thường trú: Thôn Đ, xã D, huyện S, tỉnh Bắc Giang.

    Dân tộc: Sán Chí; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không.

    Họ và tên bố: Lộc Văn T9; Họ và tên mẹ: Trần Thị L5; H và tên vợ: Triệu Thị T10 và có 02 con; Bị cáo có 04 anh chị em ruột, bản thân là con thứ 02 trong gia đình.

    Tiền án, tiền sự: Không có.

    Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Hoàng Văn H3, sinh năm 1982; Vắng mặt.
  2. Nơi thường trú: Thôn Đ, xã D, huyện S, Bắc Giang.

  3. Anh Nguyễn Thanh T11, sinh năm 1982; Vắng mặt.
  4. Nơi thường trú: Khu B, phường H, Đ, Quảng Ninh.

  5. Anh Nông Văn P2, sinh năm 1980; Vắng mặt.
  6. Nơi thường trú: Thôn Đồng Giảng B, xã Lương Mông, Ba Chẽ, Quảng Ninh

  7. Ông Ngọc Xuân D, sinh năm 1981; Vắng mặt.
  8. Nơi thường trú: Thôn T, xã L, huyện S, tỉnh Bắc Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Buổi tối ngày 31/12/2023, Nguyễn Văn C, Đặng Hữu L1, Đỗ Văn H1, Đỗ Văn L3, Trương Quốc T4, Nguyễn Văn P3, Nguyễn Thanh T11, Phạm Văn P và Ngọc Văn T12 đến ăn cơm tại quán ăn M4 ở thôn T, xã L, huyện S. Sau khi ăn cơm xong, C cùng mọi người đến quán bi-a của anh Phạm Văn P ngồi chơi, uống nước và đánh bi-a. Tại đây, các đối tượng biết tại rừng keo ở thôn T, xã L, huyện S có đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa nên Nguyễn Văn C, Đặng Hữu L1, Đỗ Văn H1, Đỗ Văn L3, Trương Quốc T4, Phạm Văn P, Nguyễn Văn P3, Nguyễn Thanh T11 và Ngọc Văn T12 lấy xe mô tô đi đến thôn T, xã L để đánh bạc; Trên đường đi Ngọc Văn T12 đi về nhà trước. Khi đến rừng keo của gia đình ông Ngọc Xuân D ở thôn T, xã L, huyện S, C cùng các đối tượng thấy không có ai; thấy có bạt trải sẵn dưới đất và móc trên cây, có bát, đĩa, quân vị trên bạt nên C cùng các đối tượng ngồi xuống bạt. Lúc này, Hoàng Văn H2 đi đến và ngồi xuống bạt cùng mọi người. Sau đó, Hoàng Văn H2, Phạm Văn P, Nguyễn Văn C, Đỗ Văn L3, Đỗ Văn H1, Trương Quốc T4, Đặng Hữu L1 cùng nhau đánh bạc dưới hình thức xóc đĩa; C là người xóc cái cho mọi người đánh bạc. Quá trình các đối tượng đánh bạc lần lượt có Trần Văn L4, Hoàng Văn T6, Hoàng Văn T7, Lộc Văn T8 đến và tham gia đánh bạc cùng mọi người. Trong suốt quá trình đánh bạc Nguyễn Văn C là người xóc cái cho mọi người đánh bạc. Các đối tượng đánh bạc đến hồi 22 giờ 50 phút cùng ngày thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S bắt quả tang; Thu giữ tại chiếu bạc: Số tiền 17.065.000 đồng; 01 bát sứ; 01 địa sứ; 04 quân vị; 01 chiếc thảm bằng vải màu đỏ, hoa văn màu đen; 01 chiếc bạt nhựa, một mặt màu xanh, một mặt màu cam; 01 chiếc điện thoại Nokia đen trắng và một số đồ vật, tài sản khác. Thu giữ trên người các đối tượng: Trần Văn L4 3.370.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu ViVo Y21s, màu xanh; Nguyễn Thanh T11 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro; Hoàng Văn T6 01 điện thoại di động nhãn hiệu ViVo Y21, màu xanh; Hoàng Văn H3 số tiền 30.220.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus, màu vàng.

2. Các bị cáo khai hình thức đánh bạc bằng hình thức đánh xóc đĩa như sau: Các đối tượng quy định đặt cược thấp nhất mỗi ván là 100.000 đồng, cao nhất không giới hạn số tiền; bên tay trái của người cầm cái là cửa lẻ, bên tay phải của người cầm cái là cửa chẵn; tỷ lệ thắng thua là 1/1. Các đối tượng sử dụng 01 bát sứ, 01 đĩa sứ và 04 quân vị một mặt được bôi màu, một mặt để trắng; người xóc cái sẽ cho 04 quân vị vào đĩa, úp bát lên rồi dùng hai tay xóc lên, xóc xuống nhiều lần sau đó đặt xuống để mọi người đặt tiền (bên chẵn hoặc bên lẻ). Sau khi người cầm cái mở bát: nếu 04 quân vị có 03 quân mặt màu, 01 quân mặt trắng hoặc ngược lại thì cửa lẻ thắng; nếu 04 quân vị có 02 mặt trắng, 02 mặt màu hoặc 04 mặt trắng hoặc 04 mặt màu thì cửa chẵn thắng. Người xóc cái có trách nhiệm thu tiền của bên thua trả cho bên thắng, nếu thừa thì được hưởng, nếu thiếu thì lấy tiền của mình bù vào.

3. Quá trình điều tra các bị cáo khai số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc như sau:

Nguyễn Văn Công khai mang theo và sử dụng 3.500.000đ để đánh bạc. Quá trình đánh bạc, C là người xóc cái đánh bạc với người chơi; Khi Công an bắt quả tang, C thua hết tiền và bỏ chạy.

Đặng Hữu L1 khai mang theo 5.000.000đ, sử dụng 1.500.000đ để đánh bạc. Khi Công an bắt quả tang, L1 đang hòa tiền, cầm theo 1.500.000đ là tiền đánh bạc bỏ chạy và đã làm rơi mất trong lúc bỏ chạy.

Đỗ Văn H1 khai mang theo và sử dụng 1.000.000đ để đánh bạc; Khi Công an bắt quả tang, H1 thua hết tiền và bỏ chạy.

Phạm Văn P khai mang theo và sử dụng 700.000đ để đánh bạc; Khi Công an bắt quả tang, P thua hết tiền và bỏ chạy.

Hoàng Văn H2 khai mang theo 850.000đ, sử dụng 600.000đ để đánh bạc; Khi Công an bắt quả tang, H2 thua hết số tiền sử dụng để đánh bạc và bỏ chạy.

Trương Quốc T4 khai mang theo và sử dụng 500.000đ để đánh bạc; Khi Công an bắt quả tang, T4 thua hết tiền này và bỏ chạy.

Hoàng Văn T6 khai mang theo và sử dụng 500.000đ để đánh bạc. Khi Công an bắt quả tang, T6 thua 300.000đ, còn 200.000₫ đã để xuống chiếu bạc.

Đỗ Văn L3 khai mang theo và sử dụng 400.000đ để đánh bạc; Khi Công an bắt quả tang, L3 thua hết tiền và bỏ chạy.

Trần Văn L4 khai mang theo 3.670.000đ, sử dụng 300.000đ để đánh bạc; Khi Công an bắt quả tang, L4 thua hết số tiền sử dụng để đánh bạc. Lập giao nộp 3.370.000đ không sử dụng để đánh bạc.

Hoàng Văn T7 khai mang theo và sử dụng 300.000đ để đánh bạc; Khi Công an bắt quả tang, T7 thua hết tiền và bỏ chạy.

Lộc Văn T8 khai mang theo 230.000đ, sử dụng 200.000đ để đánh bạc. Khi Công an bắt quả tang, T8 thua hết số tiền sử dụng để đánh bạc và bỏ chạy.

Tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc là 18.565.000₫ (trong đó 17.065.000 đồng thu tại chiếu bạc; 1.500.000₫ L1 sử dụng đánh bạc làm rơi mất khi bỏ chạy).

4. Quá trình điều tra, truy tố các bị cáo Nguyễn Văn C, Đặng Hữu L1, Đỗ Văn H1, Phạm Văn P, Hoàng Văn H2, Trương Quốc T4, Hoàng Văn T6, Đỗ Văn L3, Trần Văn L4, Hoàng Văn T7 và Lộc Văn T8 đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân và đồng phạm.

5. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động đã giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo Nguyễn Văn C, Đặng Hữu L1, Đỗ Văn H1, Phạm Văn P, Hoàng Văn H2, Trương Quốc T4, Hoàng Văn T6, Đỗ Văn L3, Trần Văn L4, Hoàng Văn T7 và Lộc Văn T8 về tội “Đánh bạc” và đề nghị:

a) Về hình phạt:

Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt: Nguyễn Văn C từ 10 đến 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 56; Điều 58; Khoản 5 Điều 65; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt: Đặng Hữu L1 từ 10 đến 12 tháng tù; tổng hợp hình phạt của Bản án số 64/2023/HS-ST ngày 06/6/2023 của TAND tỉnh Quảng Ninh xử phạt 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo sang tù giam; buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho hai bản án từ 34 đến 36 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt: Đỗ Văn L3 từ 07 đến 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt: Trương Quốc T4 từ 07 đến 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt: Hoàng Văn H2 từ 07 đến 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt: Đỗ Văn H1 từ 08 đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 16 đến 20 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 10/7/2024.

Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt: Phạm Văn P từ 07 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 16 đến 20 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 10/7/2024.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt: Hoàng Văn T6 từ 07 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 14 đến 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 10/7/2024.

Xử phạt: Trần Văn L4 từ 07 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 14 đến 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 10/7/2024.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt: Hoàng Văn T7 từ 07 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 14 đến 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 10/7/2024.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt: Lộc Văn T8 từ 07 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 14 đến 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 10/7/2024.

Giao các bị cáo Lộc Văn T8, Hoàng Văn T6, Hoàng Văn T7 và Trần Văn L4 cho UBND xã D, huyện S quản lý giáo dục trong thời gian thử thách; Giao bị cáo Phạm Văn P cho UBND xã L, huyện S quản lý giáo dục trong thời gian thử thách; Giao bị cáo Đỗ Văn H1 cho UBND xã S, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo Nguyễn Văn C, Đặng Hữu L1, Đỗ Văn H1, Phạm Văn P, Trương Quốc T4 và Đỗ Văn L3 mỗi bị cáo phải nộp số tiền từ 10.000.000đ đến 13.000.000đ sung công quỹ nhà nước. Các bị cáo Hoàng Văn H2, Hoàng Văn T6, Trần Văn L4, Hoàng Văn T7 và Lộc Văn T8 không áp dụng.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu sung công quỹ nhà nước: Số tiền 17.065.000đ (niêm phong trong phong bì thư kí hiệu A1), 01 bình ắc quy GS màu đen thu giữ tại chiếu bạc.

Trả lại cho: Hoàng Văn H2 01 xe mô tô Wave biển kiểm soát 98L1-070.80; Trần Văn L4 01 xe mô tô biển kiểm soát 98N2-8804, số tiền 3.370.000đ (niêm phong trong phong bì thư ký hiệu B4) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y21 màu xanh; Lộc Văn T8 01 xe mô tô biển kiểm soát 98N4- 9111; Hoàng Văn T6 01 điện thoại di động Vivo Y21s. Phạm Văn P 01 xe mô tô gắn biển kiểm soát 98L1- 134.58, nhưng tạm giữ lại để đảm bảo cho việc thi hành án dân sự.

Tịch thu tiêu hủy: 03 chiếc bát sứ, 02 chiếc đĩa sứ, 04 quân vị, 01 chiếc thảm vải màu đỏ có hoa văn màu đen, 02 chiếc bạt nhựa (mỗi chiếc có một mặt màu xanh, một mặt màu cam), 02 con dao quắm, 01 bình gas mini, 02 bóng điện màu trắng, 01 bộ bài chưa qua sử dụng, 01 chiếc đầu khò gắn bình gas, 09 chiếc ghế nhựa và 01 chiếc kéo.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố Tụng hình sự; Các bị cáo Nguyễn Văn C, Đặng Hữu L1, Đỗ Văn H1, Phạm Văn P, Trương Quốc T4 và Đỗ Văn L3 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Hoàng Văn H2, Hoàng Văn T6, Trần Văn L4, Hoàng Văn T7 và Lộc Văn T8.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc niêm yết./.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá trình tiến hành tố tụng Điều tra viên, Kiểm sát viên thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ai tố cáo, khiếu nại gì. Hội đồng xét xử kết luận hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đều đúng quy định và hợp pháp.

2. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Văn C, Đặng Hữu L1, Đỗ Văn H1, Phạm Văn P, Hoàng Văn H2, Trương Quốc T4, Hoàng Văn T6, Đỗ Văn L3, Trần Văn L4, Hoàng Văn T7 và Lộc Văn T8 đều thành khẩn khai báo. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng đã được thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thì đã có đủ cơ sở kết luận: Hồi 22 giờ 50 phút ngày 31/12/2023, tại khu rừng trồng keo của gia đình ông Ngọc Xuân D, ở thôn T, xã L, huyện S, tỉnh Bắc Giang, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S bắt quả tang Nguyễn Văn C, Đặng Hữu L1, Đỗ Văn H1, Phạm Văn P, Hoàng Văn H2, Trương Quốc T4, Hoàng Văn T6, Đỗ Văn L3, Trần Văn L4, Hoàng Văn T7 và Lộc Văn T8 đang có hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh xóc đĩa được thua bằng tiền. Bắt giữ được Trần Văn L4, Hoàng Văn T6 và 02 người khác không tham gia đánh bạc, còn các đối tượng khác bỏ chạy thoát sau đó ra đầu thú. Thu giữ tại chiếu bạc số tiền 17.065.000đ cùng nhiều đồ vật, tài sản khác. Quá trình bỏ chạy, Đặng Hữu L1 cầm theo và làm rơi mất 1.500.000 đồng là tiền sử dụng để đánh bạc. Như vậy, tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 18.565.000đ.

Bản Cáo trạng số 22/CT-VKS ngày 08/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động truy tố các bị cáo Nguyễn Văn C, Đặng Hữu L1, Đỗ Văn H1, Phạm Văn P, Hoàng Văn H2, Trương Quốc T4, Hoàng Văn T6, Đỗ Văn L3, Trần Văn L4, Hoàng Văn T7 và Lộc Văn T8 về tội “Đánh bạc” là đúng người, đúng tội. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị về điều luật áp dụng, mức hình phạt, xử lý vật chứng và án phí đối với các bị cáo là phù hợp theo quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Các bị cáo tham gia đánh bạc bằng hình thức sát phạt nhau với lỗi cố ý nhằm thu lợi bất chính. Như vậy hành vi nêu trên của các bị cáo đã xâm phạm vào trật tự an toàn công cộng, gây mất trật tự trị an xã hội và dễ gây ra các tệ nạn xã hội khác. Do đó, việc truy tố và đưa các bị cáo ra xét xử trước pháp luật là rất cần thiết để răn đe các bị cáo nói riêng và ngăn ngừa chung.

3. Xét về vai trò của các bị cáo trong vụ án và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Về vai trò của các bị cáo: Các bị cáo Nguyễn Văn C, Đặng Hữu L1, Đỗ Văn H1, Phạm Văn P, Hoàng Văn H2, Trương Quốc T4, Hoàng Văn T6, Đỗ Văn L3, Trần Văn L4, Hoàng Văn T7 và Lộc Văn T8 tham gia đánh bạc không có sự bàn bạc thống nhất nên phạm tội trong trường hợp đồng phạm giản đơn. Bị cáo Nguyễn Văn C là người trực tiếp xóc cái và có số tiền nhiều nhất, bị cáo Đặng Hữu L1 là người tích cực tham gia chơi, có số tiền nhiều, có tiền án nên bị cáo là người chịu vai trò bằng C; Bị cáo Đỗ Văn H1 tham gia chơi tích cực và có số tiền nhiều thứ hai nên phải chịu vai trò sau C, L1; Các bị cáo Phạm Văn P, Hoàng Văn H2, Trương Quốc T4, Hoàng Văn T6, Đỗ Văn L3, Trần Văn L4, Hoàng Văn T7 và Lộc Văn T8 là những người tích cực tham gia chơi và có số tiền ít hơn nên chịu vai trò thứ yếu trong vụ án.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Đặng Hữu L1 phạm tội có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thuộc trường hợp “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Nguyễn Văn C, Đỗ Văn H1, Phạm Văn P, Hoàng Văn H2, Trương Quốc T4, Hoàng Văn T6, Đỗ Văn L3, Trần Văn L4, Hoàng Văn T7 và Lộc Văn T8 phạm tội đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo Nguyễn Văn C, Đỗ Văn H1 và Lộc Văn T8 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiệm trọng; sau khi phạm tội đã ra đầu thú, bị cáo Phạm Văn P có bố để, mẹ đẻ được tặng thưởng Huy chương kháng chiến nên được hưởng tình tiết nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Hoàng Văn T6 và Trần Văn L4 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiệm trọng nên được hưởng tình tiết nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Đặng Hữu L1, Hoàng Văn T7, Đỗ Văn L3 và Hoàng Văn H2 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã ra đầu thú nên được hưởng tình tiết nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Trương Quốc T4 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy:

Đối với các bị cáo Đỗ Văn H1, Lộc Văn T8, Hoàng Văn T6 và Trần Văn L4 đều có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng. Bị cáo Hoàng Văn T7, nhân thân tại Bản án số 39/2012/HSST ngày 26/11/2012 của Tòa án nhân dân huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 03 tháng tù về tội trộm cắp tài sản; Bị cáo Phạm Văn P, nhân thân ngày 23/07/2001, bị Công an huyện S ra Quyết định xử phạt hành chính 200.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản; Bị cáo T7 và P đã chấp hành xong nhiều năm, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng. Do đó, xét các bị cáo Đỗ Văn H1, Lộc Văn T8, Hoàng Văn T6 và Trần Văn L4, Hoàng Văn T7 và Phạm Văn P có đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018, Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Điều 65 của Bộ luật Hình sự là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Đối với các bị cáo: Bị cáo Nguyễn Văn C có nhân thân xấu, ngày 18/11/2021, bị Chủ tịch UBND xã L, huyện S ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 207/QĐ-XPHC xử phạt 1.500.000 về hành vi Đánh bạc. Bị cáo Đỗ Văn L3 có nhân thân xấu, ngày 19/02/2019 bị Công an thành phố H, tỉnh Quảng Ninh ra Quyết định xử phạt hành chính 750.000đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Bản án số 03/2021/HSST ngày 11/3/2021 của Tòa án nhân dân huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng tù về tội Đánh bạc. Bị cáo Trương Quốc T4 có nhân thân xấu, Bản án số 14/2011/HSST ngày 02/12/2011 của Tòa án nhân dân huyện Ba Chẽ tỉnh Quảng Ninh xử phạt 09 tháng tù về tội đánh bạc; Ngày 30/11/2016, bị Công an huyện B ra Quyết định xử phạt hành chính 1.500.000₫ về hành vi đánh bạc; Bản án số 129/2017/HS-ST ngày 20/12/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 09 tháng tù về tội đánh bạc. Bị cáo Hoàng Văn H2 có nhân thân xấu, Bản án số 18/2021/HSST ngày 22/07/2021 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang xử phạt 08 tháng tù về tội Đánh bạc nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 tháng. Bị cáo Đặng Hữu L1 có 01 tiền án, Bản án số 64/2023/HS-ST ngày 06/6/2023 của TAND tỉnh Quảng Ninh xử phạt 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng về tội đánh bạc. Như vậy, các bị cáo Nguyễn Văn C, Đỗ Văn L3, Trương Quốc T4, Hoàng Văn H2 và Đặng Hữu L1 trong thời gian ngắn đã liên tục phạm tội, các bị cáo thể hiện coi thường kỷ cương pháp luật, do đó cần phải áp dụng biện pháp cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mới đảm bảo tính giáo dục răn đe các bị cáo là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo.

Bị cáo Đặng Hữu L1 có 01 tiền án, Bản án số 64/2023/HS-ST ngày 06/6/2023 của TAND tỉnh Quảng Ninh xử phạt 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng về tội đánh bạc, đến ngày phạm tội lần này bị cáo đang trong thời gian thử thách; do đó, bị cáo phải chịu hình phạt của bản án mới và 24 tháng tù chuyển sang tù giam của bản án bị cáo đang thi hành theo Điều 56, khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.

4. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo phạm tội với động cơ, mục đích hưởng lợi bất chính, do vậy cần phải áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự, phạt tiền từ 10 đến 50.000.000đ. Các bị cáo Nguyễn Văn C, Đặng Hữu L1, Đỗ Văn H1, Phạm Văn P, Trương Quốc T4 và Đỗ Văn L3 mỗi bị cáo phải nộp số tiền 10.000.000đ sung công quỹ nhà nước. Đối với bị cáo Hoàng Văn H2, Hoàng Văn T6, Trần Văn L4, Hoàng Văn T7 và Lộc Văn T8 đều là người dân tộc thiểu số thường xuyên sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên không áp dụng.

4. Về xử lý vật chứng:

Đối với 03 chiếc bát sứ, 02 chiếc đĩa sứ, 04 quân vị, 01 chiếc thảm vải màu đỏ có hoa văn màu đỏ đen, 02 chiếc bạt nhựa (mỗi chiếc có một mặt màu xanh, một mặt màu cam), 02 con dao quắm, 01 bình gas mini, 02 bóng điện màu trắng, 01 bộ bài chưa qua sử dụng, 01 chiếc đầu khò gắn bình gas, 09 chiếc ghế nhựa và 01 chiếc kéo. Các bị cáo dùng vào việc phạm tội, xét giá trị thấp và không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền 17.065.000đ, 01 bình ắc quy GS màu đen các bị cáo dùng vào việc phạm tội, cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.

Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 98N2- 8804, số tiền 3.370.000đ và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y21 màu xanh của Trần Văn L4; 01 xe mô tô biển kiểm soát 98N4- 9111 của Lộc Văn T8; 01 xe mô tô biển kiểm soát 98L1- 070.80 của Hoàng Văn H2; 01 điện thoại di động Vivo Y21s của Hoàng Văn T6; Các bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội nên cần trả lại cho các bị cáo.

Trả cho Phạm Văn P 01 xe mô tô gắn biển kiểm soát 98L1- 134.58 nhưng tạm giữ lại để đảm bảo cho việc thi hành án dân sự.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro, màu xanh của Nguyễn Thanh T11; 01 điện thoại di động Nokia, 01 xe mô tô gắn BKS 14S1- 3267 và số tiền 30.220.000đ của Nguyễn Văn P3; 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus màu vàng và 01 xe mô tô gắn BKS 14B1- 056.76 của Hoàng Văn H3; 01 xe mô tô BKS 98B1- 896.41 của Ngọc Xuân Đ. Kết quả điều tra xác định là tài sản của các đối tượng nhưng không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S trả lại cho chủ sở hữu là có căn cứ.

Đối với số tiền 1.500.000đ Đặng Hữu L1 sử dụng để đánh bạc và làm rơi mất khi bỏ chạy, Cơ quan điều tra không thu giữ được nên không xem xét xử lý.

5. Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Văn C, Đặng Hữu L1, Đỗ Văn H1, Phạm Văn P, Trương Quốc T4 và Đỗ Văn L3 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Hoàng Văn H2, Hoàng Văn T6, Trần Văn L4, Hoàng Văn T7 và Lộc Văn T8 đều là người dân tộc thiểu số thường xuyên sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

6. Đối với các đối tượng có liên quan:

Đối với Hoàng Văn H3, Nguyễn Thanh T11, Nguyễn Văn P3, Hoàng Văn Đ1 và Hoàng Văn K2 tuy có mặt tại sới bạc nhưng không tham gia đánh bạc nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.

Đối với người có tên “Nam Bầu” ở tỉnh Quảng Ninh theo bị cáo Đặng Hữu L1 khai có mặt tại sới bạc và tham gia đánh bạc nhưng L1 không quen biết, không biết tên, tuổi, địa chỉ; ngoài lời khai của L1 thì không có tài liệu, chứng cứ nào khác nên Cơ quan điều tra không xác minh được để xem xét xử lý là có căn cứ.

Đối với Ngọc Xuân D, không biết việc các đối tượng đánh bạc tại khu rừng trồng keo của gia đình nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.

Đối với đối tượng chuẩn bị các công cụ, phương tiện để các bị cáo đánh bạc (02 bát sứ, 01 đĩa sứ...), Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định của pháp luật là có căn cứ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt: Nguyễn Văn C 10 (mười) tháng tù về tội “Đánh bạc” thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

2. Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 56; Điều 58; Khoản 5 Điều 65; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt: Đặng Hữu L1 10 (mười) tháng tù về tội “Đánh bạc”; tổng hợp hình phạt của Bản án số 64/2023/HS-ST ngày 06/6/2023 của TAND tỉnh Quảng Ninh xử phạt 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo sang tù giam; buộc bị cáo phải cháp hành hình phạt chung cho hai bản án là 02 (hai) năm 10 (mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

3. Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt: Đỗ Văn L3 07 (bảy) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

4. Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt: Trương Quốc T4 07 (bảy) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

5. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt: Hoàng Văn H2 07 (bảy) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

6. Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt: Đỗ Văn H1 08 (tám) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 10/7/2024.

Xử phạt: Phạm Văn P 07 (bảy) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 10/7/2024.

7. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt: Hoàng Văn T6 07 (bảy) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 10/7/2024.

Xử phạt: Trần Văn L4 07 (bảy) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 10/7/2024.

8. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt: Hoàng Văn T7 07 (bảy) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 10/7/2024.

9. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt: Lộc Văn T8 07 (bảy) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 10/7/2024.

Giao các bị cáo Lộc Văn T8, Hoàng Văn T6, Hoàng Văn T7 và Trần Văn L4 cho UBND xã D, huyện S quản lý giáo dục trong thời gian thử thách; Giao bị cáo Phạm Văn P cho UBND xã L, huyện S quản lý giáo dục trong thời gian thử thách; Giao bị cáo Đỗ Văn H1 cho UBND xã S, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

10. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo Nguyễn Văn C, Đặng Hữu L1, Đỗ Văn H1, Phạm Văn P, Trương Quốc T4 và Đỗ Văn L3 mỗi bị cáo phải nộp số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng) sung công quỹ nhà nước. Các bị cáo Hoàng Văn H2, Hoàng Văn T6, Trần Văn L4, Hoàng Văn T7 và Lộc Văn T8 không áp dụng.

11. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu sung công quỹ nhà nước: Số tiền 17.065.000đ (niêm phong trong phong bì thư ký hiệu A1), 01 bình ắc quy GS màu đen thu giữ tại chiếu bạc.

Trả lại cho: Hoàng Văn H2 01 xe mô tô Wave biển kiểm soát 98L1-070.80; Trần Văn L4 01 xe mô tô biển kiểm soát 98N2- 8804, số tiền 3.370.000đ (niêm phong trong phong bì thư ký hiệu B4) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y21 màu xanh; Lộc Văn T8 01 xe mô tô biển kiểm soát 98N4- 9111; Hoàng Văn T6 01 điện thoại di động Vivo Y21s; Phạm Văn P 01 xe mô tô gắn biển kiểm soát 98L1- 134.58 nhưng tạm giữ lại để đảm bảo cho việc thi hành án dân sự.

Tịch thu tiêu hủy: 03 chiếc bát sứ, 02 chiếc đĩa sứ, 04 quân vị, 01 chiếc thảm vải màu đỏ có hoa văn màu đen, 02 chiếc bạt nhựa, 02 con dao quắm, 01 bình gas mini, 02 bóng điện màu trắng, 01 bộ bài chưa qua sử dụng, 01 chiếc đầu khò gắn bình gas, 09 chiếc ghế nhựa và 01 chiếc kéo.

Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 18/6/2024 giữa Công an huyện S với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Động.

12. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố Tụng hình sự; Các bị cáo Nguyễn Văn C, Đặng Hữu L1, Đỗ Văn H1, Phạm Văn P, Trương Quốc T4 và Đỗ Văn L3 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Các bị cáo Hoàng Văn H2, Hoàng Văn T6, Trần Văn L4, Hoàng Văn T7 và Lộc Văn T8 được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

13. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Sơn Động;
  • - CQCSĐT Công an huyện Sơn Động;
  • - Chi cục THADS huyện SÐ;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - Bị cáo và những người tham gia tố tụng;
  • - UBND xã Dương Hưu, xã Long Sơn huyện Sơn Động; UBND xã Sơn Dương, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Toàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2024/HSST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG - TỈNH BẮC GIANG về hình sự sơ thẩm về tội đánh bạc

  • Số bản án: 23/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG - TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Buổi tối ngày 31/12/2023, Nguyễn Văn C, Đặng Hữu L1, Đỗ Văn H1, Đỗ Văn L3, Trương Quốc T4, Nguyễn Văn P3, Nguyễn Thanh T11, Phạm Văn P và Ngọc Văn T12 đến ăn cơm tại quán ăn M4 ở thôn T, xã L, huyện S. Sau khi ăn cơm xong, C cùng mọi người đến quán bi-a của anh Phạm Văn P ngồi chơi, uống nước và đánh bi-a. Tại đây, các đối tượng biết tại rừng keo ở thôn T, xã L, huyện S có đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa nên Nguyễn Văn C, Đặng Hữu L1, Đỗ Văn H1, Đỗ Văn L3, Trương Quốc T4, Phạm Văn P, Nguyễn Văn P3, Nguyễn Thanh T11 và Ngọc Văn T12 lấy xe mô tô đi đến thôn T, xã L để đánh bạc; Trên đường đi Ngọc Văn T12 đi về nhà trước. Khi đến rừng keo của gia đình ông Ngọc Xuân D ở thôn T, xã L, huyện S, C cùng các đối tượng thấy không có ai; thấy có bạt trải sẵn dưới đất và móc trên cây, có bát, đĩa, quân vị trên bạt nên C cùng các đối tượng ngồi xuống bạt. Lúc này, Hoàng Văn H2 đi đến và ngồi xuống bạt cùng mọi người. Sau đó, Hoàng Văn H2, Phạm Văn P, Nguyễn Văn C, Đỗ Văn L3, Đỗ Văn H1, Trương Quốc T4, Đặng Hữu L1 cùng nhau đánh bạc dưới hình thức xóc đĩa; C là người xóc cái cho mọi người đánh bạc. Quá trình các đối tượng đánh bạc lần lượt có Trần Văn L4, Hoàng Văn T6, Hoàng Văn T7, Lộc Văn T8 đến và tham gia đánh bạc cùng mọi người. Trong suốt quá trình đánh bạc Nguyễn Văn C là người xóc cái cho mọi người đánh bạc. Các đối tượng đánh bạc đến hồi 22 giờ 50 phút cùng ngày thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S bắt quả tang; Thu giữ tại chiếu bạc: Số tiền 17.065.000 đồng; 01 bát sứ; 01 địa sứ; 04 quân vị; 01 chiếc thảm bằng vải màu đỏ, hoa văn màu đen; 01 chiếc bạt nhựa, một mặt màu xanh, một mặt màu cam; 01 chiếc điện thoại Nokia đen trắng và một số đồ vật, tài sản khác. Thu giữ trên người các đối tượng: Trần Văn L4 3.370.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu ViVo Y21s, màu xanh; Nguyễn Thanh T11 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro; Hoàng Văn T6 01 điện thoại di động nhãn hiệu ViVo Y21, màu xanh; Hoàng Văn H3 số tiền 30.220.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus, màu vàng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger