TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 23/2024/HNGĐ-ST
Ngày 10/6/2024.
Về việc: Tranh chấp ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Vân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Vĩ.
Ông Dương Văn Xuyên.
Thư ký toà án ghi biên bản phiên tòa: Ông Tô Ngọc Lâm - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tham gia phiên tòa: Ông Tạ Quốc Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số: 82/2024/TLST-HNGĐ ngày 22/01/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2024/QĐST-HNGĐ ngày 23/5/2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Như K, sinh ngày 23/11/1985. Nơi cư trú: Thôn P, xã M, huyện S, thành phố Hà Nội.
2. Bị đơn: Ông Hạ Văn Q, sinh ngày 18/11/1986. Nơi cư trú: Thôn P, xã M, huyện S, thành phố Hà Nội.
Có mặt: Bà K, ông Q.
NHẬN THẤY
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 12/01/2024 và những bản tự khai tiếp theo, nguyên đơn là bà Nguyễn Như K trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà kết hôn với ông Hạ Văn Q trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện S, thành phố Hà Nội ngày 06/9/2010. Sau khi kết hôn vợ chồng bà chung sống cùng nhau tại thôn P, xã M, huyện S, thành phố Hà Nội, ăn ở chung với bố mẹ ông Q một thời gian thì ở riêng nhà. Quá trình chung sống đến năm 2017 thì vợ chồng bà phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do ông Q sau khi đi xuất khẩu lao động về thì ham chơi, không có việc làm, không có thu nhập ổn định, vay nợ nhiều người. Gia đình đã nhiều lần phải trả nợ thay cho ông Q. Ngoài ra, vợ chồng bà còn có mâu thuẫn trong sinh hoạt vợ chồng. Ông Q nhiều lần mắng chửi, đuổi bà ra khỏi nhà. Khi vợ chồng mâu thuẫn, bà đã nhờ gia đình hòa giải nhiều lần nhưng ông Q không thay đổi. Khoảng tháng 6/2022, bà về nhà bố mẹ đẻ tại thôn X, xã T, huyện S, thành phố Hà Nội sinh sống. Cùng năm, bà đã làm đơn xin ly hôn ông Q, nhưng do được gia đình, họ hàng khuyên bảo nên bà rút đơn về để vợ chồng đoàn tụ. Tuy nhiên, tình cảm vợ chồng không được cải thiện, mâu thuẫn không được giải quyết, vợ chồng bà tiếp tục sống ly thân mỗi người một nhà. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, bà xin ly hôn ông Q để ổn định cuộc sống riêng.
- Về con chung: Bà và ông Quảng s được 02 con chung là: Hạ Khánh L, sinh ngày 05/4/2011 và Hạ Đăng K1, sinh ngày 28/01/2013.
Ly hôn, bà có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu L, ông Q là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu K1.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Bà không yêu cầu giải quyết.
Hiện bà đang làm giáo viên Trường Mầm non xã H, thu nhập bình quân khoảng 8.500.000 đồng/tháng.
- Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Bà không yêu cầu giải quyết.
* Bị đơn, ông Hạ Văn Q trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông nhất trí với trình bày của bà Nguyễn Như K về thời gian, điều kiện kết hôn, địa điểm chung sống của vợ chồng. Tuy nhiên, theo ông mâu thuẫn giữa vợ chồng ông phát sinh từ khoảng tháng 8/2021. Nguyên nhân do bà K thấy việc sinh sống với gia đình ông khó khăn nên đã tự bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở thôn X, xã T, huyện S sinh sống. Ông và bố mẹ đã nhiều lần khuyên bảo bà K nhưng bà K không đồng ý về đoàn tụ với ông. Nay bà K xin ly hôn, ông xác định vợ chồng không giải quyết được mâu thuẫn nhưng ông chỉ đồng ý ly hôn nếu được giao nuôi cả 02 con chung.
- Về con chung: Vợ chồng ông sinh được 02 con chung là: Hạ Khánh L, sinh ngày 05/4/2011 và Hạ Đăng K1, sinh ngày 28/01/2013. Hai con chung đều đang ở với ông từ khi vợ chồng ly thân. Ly hôn, ông có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cả 02 con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ông không yêu cầu giải quyết.
Ông đang làm lao động tự do, cụ thể là thợ xây dựng, thu nhập bình quân khoảng 10.000.000 đồng/tháng.
- Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Ông không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại phiên tòa:
- Bà Nguyễn Như K giữ nguyên quan điểm yêu cầu được ly hôn và có nguyện vọng trực tiếp được nuôi con chung là Hạ Khánh L, sinh ngày 05/4/2011. Bà K không yêu cầu Toà án giải quyết về tài sản chung, nợ chung.
- Ông Hạ Văn Q xác định tình cảm vợ chồng không còn, ông đồng ý ly hôn. Ông Q yêu cầu được nuôi cả 02 con chung, không yêu cầu bà K cấp dưỡng nuôi con. Ông Q không yêu cầu Toà án giải quyết về tài sản chung, nợ chung.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và của người tham gia tố tụng: Kể từ ngày nhận đơn, thụ lý vụ án, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đều tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Như K.
- Công nhận thuận tình ly hôn giữa bà Nguyễn Như K và ông Hạ Văn Q.
- Về con chung: Bà Nguyễn Như K và ông Hạ Văn Quảng s1 được 02 con chung là: Hạ Khánh L, sinh ngày 05/4/2011 và Hạ Đăng K1, sinh ngày 28/01/2013.
Giao cho bà K trực tiếp nuôi con chung Hạ Khánh L. Giao cho ông Q trực tiếp nuôi con chung Hạ Đăng K1.
Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.
- Về tài sản chung, công sức đóng góp, nợ chung: Ghi nhận sự tự nguyện của bà K, ông Q không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về án phí: Bà K phải chịu án phí không giá ngạch.
XÉT THẤY
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
{1} Về thẩm quyền: Bị đơn là ông Hạ Văn Q có hộ khẩu thường trú và nơi cư trú tại thôn P, xã M, huyện S, thành phố Hà Nội. Vì vậy, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, Hà Nội.
{2} Về nội dung:
{2.1} Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Như K và ông Hạ Văn Q kết hôn với nhau ngày 06/9/2010 trên cơ sở tự nguyện và hợp pháp. Quá trình chung sống bà K và ông Q xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, không tin tưởng nhau và đã ly thân từ tháng 3 năm 2022. Nay cả bà K và ông Q đều xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, thuận tình ly hôn. Sự tự nguyện thuận tình ly hôn của bà K, ông Q là phù hợp pháp luật nên được công nhận.
{2.2} Về con chung: Bà Nguyễn Như K và ông Hạ Văn Quảng s1 được 02 con chung là: Hạ Khánh L, sinh ngày 05/4/2011 và Hạ Đăng K1, sinh ngày 28/01/2013. Hiện cả hai con đang ở với ông Q.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, bà K có quan điểm được trực tiếp được nuôi con chung là Hạ Khánh L, để ông Q nuôi con chung Hạ Đăng K1. Ông Q yêu cầu được nuôi cả hai con chung.
Xét thấy: Nguyện vọng được nuôi con của bà K và ông Q đều là chính đáng, nhưng việc giao con cho bố hay mẹ nuôi thì cần đảm bảo tốt nhất cho sự phát triển của các con. Cả hai con đều có nguyện vọng được ở với mẹ. Hiện bà K là giáo viên mầm non, có thu nhập ổn định, hơn nữa cháu Hạ Khánh L là con gái, đang ở lứa tuổi dậy thì rất cần sự quan tâm, chăm sóc của người mẹ. Vì vậy, cần giao cho bà K trực tiếp nuôi con chung Hạ Khánh L. Giao cho ông Q trực tiếp nuôi con chung Hạ Đăng K1, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau là phù hợp pháp luật.
{2.3} Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Ghi nhận sự tự nguyện của bà K, ông Q không yêu cầu Toà án giải quyết.
{3} Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà K phải chịu án phí theo quy định của pháp luật để sung vào ngân sách Nhà nước.
{4} Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng:
- - Các Điều 55, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.
- - Khoản 1 Điều 28; Điều 271, 273, 277 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Như K đối với ông Hạ Văn Q về việc ly hôn.
- Công nhận thuận tình ly hôn giữa bà Nguyễn Như K và ông Hạ Văn Q.
- Về con chung: Bà Nguyễn Như K và ông Hạ Văn Quảng s1 được 02 con chung là: Hạ Khánh L, sinh ngày 05/4/2011 và Hạ Đăng K1, sinh ngày 28/01/2013.
Giao cho bà Nguyễn Như K trực tiếp nuôi con chung Hạ Khánh L, sinh ngày 05/4/2011.
Giao cho ông Hạ Văn Q trực tiếp nuôi con chung Hạ Đăng K1, sinh ngày 28/01/2013.
Về cấp dưỡng nuôi con: Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau
Bà Nguyễn Như K, ông Hạ Văn Q đều có quyền thăm nom chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Như K, ông Hạ Văn Q không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về án phí: Bà Nguyễn Như K phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) bà đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0022277 ngày 19/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. Bà Nguyễn Như K đã nộp đủ tiền án phí.
Án xử công khai sơ thẩm, các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đỗ Thị Vân |
Bản án số 23/2024/HNGĐ-ST ngày 10/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 23/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
