Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TIỀN HẢI

TỈNH THÁI BÌNH


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 23/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 10 - 5 - 2024

V/v: “Tranh chấp hôn nhân gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆTNAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nhi

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Mã Siêu và bà Tô Thị Hương.

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Lê Trung Hiếu - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: ông Phạm Văn Nhất - Kiểm sát viên

Ngày 10 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tiền Hải xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 203/2023/TLST - HNGĐ ngày 21/12/2023 về việc: “Tranh chấp hôn nhân gia đình” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 09/4/2024 và quyết định hoãn phiên tòa số: 15/2024/QĐST-HNGĐ ngày 26/4/2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Trần Thị T, sinh năm 1995 (có mặt).
  • - Bị đơn: Anh Đặng Văn L, sinh năm 1985 (vắng mặt).
  • Cùng địa chỉ: Thôn H, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và trong quá trình tố tụng tại Tòa án nguyên đơn - chị Trần Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân:

Chị và anh Đặng Văn L tự do tìm hiểu và tự nguyện kết hôn với nhau, được Ủy ban nhân dân xã N, huyện T kết hôn vào ngày 17 tháng 4 năm 2012. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hoà thuận, hạnh phúc được đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là anh L thường xuyên uống rượu say, sau đó về đánh đập chị dẫn đến cuộc sống vợ chồng rất ngột ngạt khiến chị không thể chịu nổi nên năm 2019 chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở cùng thôn T, xã N, huyện T để sinh sống. Tuy nhiên khi chị sang nhà bố mẹ đẻ sinh sống thì anh L vẫn cứ sang tận nhà bố mẹ chị để chửi bới, đánh đập chị. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể quay lại chung sống với nhau được nữa, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh L.

Về quan hệ con chung:

Chị và anh L có 02 con chung là Đặng Thị Hương L1, sinh ngày 01/3/2013 và Đặng Thành L2 02/02/2015. Nguyện vọng của chị sau khi ly hôn là tôi xin nuôi cả 02 con và không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.

Về quan hệ tài sản chung:

Chị và anh L không có tài sản gì chung, không vay nợ ai và cũng không cho ai vay nợ nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về phía bị đơn:

Tòa án đã triệu tập bị đơn là anh Đặng Văn L nhiều lần nhưng anh L không đến Tòa án để làm việc. Tòa án đã tiến hành xác minh và lấy lời khai của mẹ đẻ anh L là bà Trương Thị T1, sinh năm 1955, trú tại thôn H, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 28/3/2024 bà T1 trình bày:

Về quan hệ hôn nhân:

Chị Trần Thị T và anh Đặng Văn L tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn với nhau vào năm 2012 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, hiện nay chị T đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ để sinh sống. Nay chị T có đơn xin ly hôn anh L, quan điểm của gia đình bà là mong muốn chị T và anh L đoàn tụ vì gia đình bà theo đạo Công giáo, không được phép ly hôn.

Về quan hệ con chung:

Anh L và chị T có Đặng Thị Hương L1, sinh ngày 01/3/2013 và Đặng Thành L2 02/02/2015.

Về quan hệ tài sản chung và công nợ chung:

Không có.

Hiện tại anh L đang đi làm ăn ở tỉnh ngoài không có mặt ở nhà, tuy nhiên hiện anh L đang ở địa chỉ nào bà không biết, thi thoảng có việc anh L vẫn về nhà, anh L có biết việc chị T xin ly hôn anh, tuy nhiên gia đình bà theo đạo Công giáo nên không được ly hôn. Việc chị T xin ly hôn đơn phương thì chị T tự giải quyết.

Kết quả xác minh tại ủy ban nhân dân xã N, huyện T thể hiện: Chị Trần Thị T, sinh năm 1995 và anh Đặng Văn L, sinh năm 1985 đều có hộ khẩu thường trú tại thôn H, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình. Chị T anh L có đăng ký kết hôn vào ngày 17/4/2012. Sau khi kết hôn anh L và chị T có mâu thuẫn như thế nào địa phương không nắm được. Chị T và anh L đều là người theo đạo Công giáo. Quá trình chung sống giữa anh L và chị T có 02 con chung là Đặng Thị Hương L1, sinh ngày 01/3/2013 và Đặng Thành L2, sinh ngày 02/02/2015. Về tài sản chung và công nợ chung, địa phương không nắm được cụ thể. Anh L hiện tại đi làm ăn ở tỉnh ngoài, thi thoảng vẫn về địa phương. Nay chị T có đơn xin ly hôn anh L, địa phương đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại biên bản lấy lời khai của cháu Đặng Thị Hương L1 và cháu Đặng Thành L2 thể hiện. Hiện nay các cháu đang ở cùng chị T và các cháu đều xin được ở cùng chị T nếu bố mẹ ly hôn.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

- Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án, nguyên đơn là chị T đã thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật luật tố tụng dân sự, bị đơn là anh Đặng Văn L không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xử cho chị Trần Thị T được ly hôn anh Đặng Văn L. Về con chung: Giao cho chị Trần Thị T trực tiếp nuôi 02 con chung là Đặng Thị Hương L1, sinh ngày 01/3/2013 và Đặng Thành L2, sinh ngày 02/02/2015, việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra giải quyết, khi nào đương sự có yêu cầu sẽ được giải quyết bằng vụ, việc dân sự khác. Về quan hệ tài sản chung và công nợ chung: Không đặt giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng:

Xét thấy nguyên đơn là chị Trần Thị T khởi kiện xin ly hôn anh Đặng Văn L, anh L có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn H, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử xét thấy Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình đã thụ lý và giải quyết yêu cầu của chị T là đúng thẩm quyền.

Bị đơn là anh Đặng Văn L đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai mà không có lý do. Vì vậy, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt anh L là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành biện pháp thu thập tài liệu, chứng cứ. Vì vậy Viện kiểm sát tham gia phiên toà là đúng với quy định tại Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về áp dụng pháp luật nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị T và anh Đặng Văn L tự nguyện kết hôn có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình vào ngày 17/4/2012 xác định là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng chị T anh L chung sống hoà thuận hạnh phúc được đến khoảng năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn và cũng chính thức sống ly thân từ năm 2019 đến nay không ai còn quan tâm ai nữa. Nay chị T có đơn xin ly hôn anh L, anh L không đến Toà an làm việc cũng không có văn bản thể hiện quan điểm của mình điều này thể hiện anh L cũng bỏ mặc cuộc hôn nhân này không có ý thức níu kéo để vợ chồng về đoàn tụ. Từ những tình tiết nêu trên, xét thấy, tình trạng hôn nhân của chị T và anh L đã trầm trọng, đời sống chung trên thực tế không còn tồn tại, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của chị T, xử cho chị T được ly hôn anh L là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về quan hệ con chung: Xét thấy con chung của chị T và anh L đều có nguyện vọng xin được ở với chị T và chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cả 02 con và không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con cùng chị, anh L đi làm ăn xa không có mặt ở địa phương. Do đó cần chấp nhận nguyện vọng của chị T, cháu L1 và cháu L2, giao cho chị T trực tiếp nuôi cả 02 con chung, việc cấp dưỡng nuôi con chung chị T không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết, khi nào đương sự có yêu cầu sẽ được giải quyết bằng vụ, việc dân sự khác là phù hợp với quy định tại Điều 81 luật Hôn nhân gia đình.

Về quan hệ tài sản chung và công nợ chung: Chị T trình bày chị và anh L không có tài sản gì chung, không vay nợ ai và cũng không cho ai vay nợ nên không yêu cầu Toà án giải quyết, anh L không đến Toà an làm việc cũng không có văn bản thể hiện quan điểm của mình nên không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Chị Trần Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị T được ly hôn anh Đặng Văn L.
  2. Về quan hệ con chung: Giao cho chị Trần Thị T trực tiếp nuôi 02 con chung là Đặng Thị Hương L1, sinh ngày 01/3/2013 và Đặng Thành L2, sinh ngày 02/02/2015, việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra giải quyết, khi nào đương sự có yêu cầu sẽ được giải quyết bằng vụ, việc dân sự khác.
  3. Về quan hệ tài sản chung và công nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Trần Thị T phải nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000 (ba trăm ngàn) đồng chị T đã nộp tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0002546 ngày 21/12/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tiền Hải thành án phí.

Án xử công khai sơ thẩm, chị Trần Thị T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, anh Đặng Văn L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt theo quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Nguyễn Thị N
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2024/HNGĐ-ST ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân gia đình

  • Số bản án: 23/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: THƠM - LOÁT
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger