Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRÀNG ĐỊNH

TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2024/HS-ST

Ngày 09 - 5 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG ĐỊNH, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bàn Văn Tiển

Các Hội thẩm nhân dân.

Bà Hoàng Thị Tuyên;

Bà Hoàng Hoàng Thị Chiểu.

- Thư ký phiên toà: Bế Thị Kiều - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Bà Nông Hải Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai, trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 24/2024/TLST-HS, ngày 04 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2024/QĐXXST-HS, ngày 26 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Phùng Văn T, sinh ngày 12 tháng 11 năm 1998, tại huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá lớp 9/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phùng Văn L và bà Phùng Thị B; vợ con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị xử lý hình sự, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật; bị cáo đang bị bắt tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T từ ngày 14/12/2023 đến nay, có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Hoàng Văn L1, sinh năm 1986, có mặt
    Trú tại: Thôn B, xã K, huyện T, tỉnh Lạng Sơn.
  2. Anh Đoàn Văn S, sinh năm 1982, vắng mặt.
    Trú tại: Số nhà E, đường T, khu D, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn.
  3. Anh Phùng Văn L2, sinh năm 1973, có mặt.
    Trú tại: Thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn.
  4. Bà Phùng Thị B, sinh năm 1974, có mặt.
    Trú tại: Thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 16 giờ 00 phút ngày 05/12/2023, Tổ công tác Công an xã K đang làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát tại khu vực thôn Bản Nằm, xã K, huyện T thì phát hiện Phùng Văn T có biểu hiện nghi vấn, Tổ công tác tiến hành kiểm tra phát hiện tại túi quần bên trái T đang mặc có 01 gói chất bột màu trắng được gói bằng giấy sách giáo khoa học sinh nghi là ma túy Heroin. T khai nhận: Toàn bộ số chất bột màu trắng trên là ma túy Heroin, T mua về mục đích để sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản sự việc, niêm phong tang vật, đưa Phùng Văn T về trụ sở để điều tra, làm rõ.

Bản Kết luận giám định số 60/KL-KTHS ngày 08/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Chất bột màu trắng gửi giám định là chất ma túy Heroin, có khối lượng 0,113 gam (đã trừ bì).

Tại Cơ quan điều tra, Phùng Văn T khai nhận: Khoảng 19 giờ ngày 23/11/2023, sau khi lái máy xúc cho anh Hoàng Văn L1, trú tại: Thôn B, xã K, huyện T, tỉnh Lạng Sơn thì T mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 12T1-049.90 của anh L1, nói dối là đi thăm bố bị ốm đang điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh Lạng Sơn nhưng thực chất T mượn xe mô tô để đi đến thị trấn Đ, huyện C để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đến thị trấn Đ, do không có tiền trong người nên T đã đến cửa hiệu cầm đồ địa chỉ số A Đ để vay số tiền 4.000.000 đồng thế chấp bằng xe mô tô biển kiểm soát 12T1-049.90 và được viết 01 phiếu giấy hẹn 10 ngày lấy lại xe. Sau đó, T đi xe ôm ra khu vực ngã ba gần đường tàu quốc lộ A, thuộc thị trấn Đ, huyện C, gặp 01 người đàn ông (không quen biết) làm nghề xe ôm nhờ người này mua hộ 01 gói ma túy Heroin với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T sử dụng một ít còn lại T cất giấu trong người. Đến ngày 05/12/2023, khi T bắt xe khách về T để tiếp tục làm chỗ anh L1 thì bị kiểm tra, phát hiện bắt giữ.

Tại Bản cáo trạng số 25/CT-VKS ngày 04/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh lạng S, đã truy tố bị cáo Phùng Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố, thừa nhận mua ma túy H chỉ để dùng cho bản thân, ngoài ra không có mục đích nào khác.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phùng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Phùng Văn T từ 01 năm đến 02 năm tù; bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy bị thu giữ sau giám định đã được niêm phong.

Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Hoàng Văn L1, anh L1 đã được gia đình bị cáo chuộc lại chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12T1-049.90 trả cho anh L1, tại phiên tòa anh L1 không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét giải quyết; đối với anh Đoàn Văn S nhận cầm cố chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12T1-049.90 nay đã được gia đình bị cáo trả đủ số tiền nên không có yêu cầu gì thêm vì vậy không xem xét giải quyết; đối với số tiền của bà Phùng Thị B bỏ ra chuộc xe tại phiên tòa bà B không có yêu cầu gì nên không xem xét giải quyết.

Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về đoàn tụ với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên huyện T trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đoàn Văn S, trong hồ sơ đã có đầy đủ lời khai. Xét thấy, việc vắng mặt của anh Đoàn Văn S, không ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án đúng quy định của pháp luật.

[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo, thấy rằng: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án, lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp vật chứng đã thu giữ, phù hợp với Kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có căn cứ xác định bị cáo Phùng Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,113 gam ma túy Heroin, hành vi này của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, như Cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, ý kiến của bị cáo tại phiên tòa, để có mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo, vừa đảm bảo tính răn đe, giáo dục, vừa mang tính chất phòng ngừa loại tội phạm này, Hội đồng xét xử đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của người phạm tội, thấy rằng: Hành vi mà bị cáo thực hiện là nghiêm trọng với lỗi cố ý, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được việc tàng trữ ma túy là trái phép, việc sử dụng ma túy là gây tổn hại cho sức khỏe mà bị cáo vừa là chủ thể của tội phạm và cũng là nạn nhân của tệ nạn này, nhưng bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật và cố ý thực hiện, do đó bị cáo phải chịu hình phạt theo quy định của Bộ luật Hình sự; về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; về tình tiết giảm nhẹ, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; về nhân thân, bị cáo thừa nhận là người nghiện ma túy nên tàng trữ để sử dụng dần và phụ thuộc vào Heroin do đó xác định bị cáo có nhân thân xấu. Trên cơ sở đánh giá này, chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi đã thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, vừa đủ tính răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung, đồng thời giúp bị cáo có điều kiện cai nghiện chất ma túy và cải tạo thành công dân sống có ích cho xã hội.

[4] Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, cần tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định.

[5] Hình phạt bổ sung: Theo biên bản xác minh điều kiện kinh tế ngày 23/02/2024 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện V bị cáo không đứng tên tài sản đất đai gì nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Đối với người đàn ông bán ma túy cho Phùng Văn T tại khu vực thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, do không xác định được tên, tuổi địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xác minh làm rõ trong vụ án này.

[7] Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 12T1-049.90 do bị cáo Phùng Văn T mượn của Hoàng Văn L1 nhưng sau đó bị cáo T cầm cố để vay số tiền 4.000.000 đồng, sau đó bị cáo T gọi điện thoại cho Hoàng Văn L1 để thông báo cho bác ruột là Phùng Văn L2 và mẹ đẻ là Phùng Thị B đến chuộc lại xe. Hiện nay Hoàng Văn L1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm. Do đó Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[8] Đối với Đoàn Văn S là người nhận cầm cố chiếc xe mô tô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 12T1-049.90 do bị cáo Phùng Văn T đặt cầm cố, sau đó gia đình T đã đến chuộc lại xe và trả đủ tiền nay anh S không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm. Do đó Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[9] Đối với bà Phùng Thị B là mẹ của bị cáo đã bỏ ra 5.500.000 đồng để chuộc lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 12T1-049.90 do bị cáo Phùng Văn T đặt cầm cố, bà B là mẹ của bị cáo nên bà B không yêu cầu bị cáo trả số tiền bà B bỏ ra chuộc xe. Do đó Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[10] Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

[11] Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[12] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về hướng giải quyết toàn bộ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 331; Điều 332; Điều 333; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phùng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phùng Văn T 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 14/12/2023.
    Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  3. Về xử lý vật chứng:
    Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong ma túy, bên trong có 01 gói giấy đựng chất ma túy thu giữ của Phùng Văn T ngày 05/12/2023.
    (Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/4/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tràng Định).
  4. Về án phí: Buộc bị cáo Phùng Văn T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.
  5. Quyền kháng cáo: Bị cáo Phùng Văn T và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Đoàn Văn S vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lạng Sơn;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND huyện Tràng Định;
  • - Công an huyện Tràng Định;
  • - Chi cục THADS huyện Tràng Định;
  • - Bị cáo (qua nhà tạm giữ);
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bàn Văn Tiển

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2024/HS-ST ngày 09/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG ĐỊNH, TỈNH LẠNG SƠN về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 23/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG ĐỊNH, TỈNH LẠNG SƠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger