Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẨM MỸ

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2024/DS - ST

Ngày: 08/8/2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Khuyên
  • - Các Hội thẩm nhân dân:
    1. Ông Nguyễn Văn Ba
    2. Lại Thị Thúy Hằng
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Bích – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ.
  • - Đại diện Viện kiểm sát huyện Cẩm Mỹ tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh – Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 196/2023/TLST- DS ngày 13 tháng 11 năm 2023 về việc: “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2024/QĐXXST- DS ngày 09 tháng 7 năm 2024; theo Quyết định hoãn phiên toà số: 38/2024/QĐST- DS ngày 25 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự;

  • - Nguyên đơn: Ông Dương Danh P, sinh năm 1993 (có mặt).
  • Phan Thị Bích P1, sinh năm 1994 (có mặt).
  • HKTT: tổ F, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
  • Địa chỉ liên lạc: tổ E, ấp D, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
  • - Bị đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm 1979 (vắng mặt).
  • Trần Thị Mỹ T1, sinh năm 1982 (vắng mặt).
  • Cùng địa chỉ: Tổ H, ấp C, xã L, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
  • - Người làm chứng:
    1. Phạm Thị N, sinh năm 1963 (có mặt).
    2. Địa chỉ: tổ H, ấp C, xã L, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
    3. Chị Võ Thị Bảo T2, sinh năm 1987 (vắng mặt).
    4. Địa chỉ: tổ H, ấp C, xã L, huyện C, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, các lời khai bổ sung và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn ông Dương Danh P và bà Phan Thị Bích P1 trình bày:

Do có nhu cầu nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nên bà Phạm Thị N (mẹ ruột của bà P1) đã dẫn vợ chồng ông P, bà P1 đến gặp ông Trần Văn T và bà Trần Thị Mỹ T1 thỏa thuận nhận chuyển nhượng diện tích đất 3.960m² thuộc thửa đất số 516 tờ bản đồ số 05, xã L, huyện C, tỉnh Đồng Nai thì ông T, bà T1 đồng ý chuyển nhượng cho ông P, bà Phương diện t đất trên với giá chuyển nhượng 950.000.000 đồng. Thửa đất hai bên thoả thuận chuyển nhượng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Trần Văn T3 (ba ruột của ông Trần Văn T). Tuy nhiên do ông T3 đã chết và ông T là người đang trực tiếp sử dụng thửa đất này, đồng thời ông T nói sẽ hoàn tất thủ tục thừa kế sang tên ông T để chuyển nhượng cho ông P, bà P1 nên ông bà tin tưởng và đồng ý nhận chuyển nhượng thửa đất trên của ông T, bà T1.

Cụ thể: Ngày 11/4/2021 hai bên đã ký hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất với nhau. Bên chuyển nhượng (bên nhận cọc – gọi là bên A) là ông Trần Văn T; bên nhận chuyển nhượng (bên đặt cọc – gọi là bên B) là bà Phan Thị Bích P1. Quyền sử dụng đất chuyển nhượng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 201.168/DBH, có diện tích 3.960m² thuộc thửa đất số 516 tờ bản đồ số 05, xã L, huyện C, tỉnh Đồng Nai, địa chỉ thửa đất tại ấp C, xã L, huyện C, tỉnh Đồng Nai. Giá chuyển nhượng 950.000.000 đồng. Phương thức thanh toán bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản. Mặc dù trong hợp đồng đặt cọc không ghi ngày, tháng nhưng ông P, bà P1 xác định là ngày 11/4/2021, vì cùng ngày 11/4/2021 ông P, bà P1 đã đặt cọc cho ông T, bà T1 số tiền 100.000.000đồng lần 1; số tiền còn lại 850.000.000 đồng ông P, bà P1 sẽ thanh toán vào ngày ông T, bà T1 giao sổ quyền sử dụng đất. Việc giao và đăng ký quyền sử dụng đất do ông T, bà T1 có trách nhiệm giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông P, bà P1 vào ngày 11/01/2022. Ngoài ra còn thoả thuận trong quá trình thực hiện hợp đồng nếu bên B không tiếp tục thực hiện hợp đồng bên B sẽ mất cọc. Nếu bên A không tiếp tục thực hiện việc chuyển nhượng bên A sẽ phải hoàn lại số tiền đã nhận, đồng thời bồi thường gấp đôi số tiền đã nhận từ bên B. Tại thời điểm hai bên ký hợp đồng này ông P, bà P1, ông T, bà T1 đều có mặt nhưng do nghĩ chỉ cần mỗi bên 1 người đại diện nên trong hợp đồng đặt cọc chỉ có bà P1 và ông T đứng tên, sau đó bà P1, ông T, bà T1 cùng ký tên vào hợp đồng này và có bà Phạm Thị N, bà Võ Thị Bảo T2 cùng ký tên người làm chứng.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất do ông T, bà T1 nói cần tiền để làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và chữa bệnh nên nói ông P, bà P1 giao thêm tiền và ông bà đồng ý nên vào ngày 29/5/2021 giao tiếp đặt cọc tiếp số tiền lần 2: 100.000.000 đồng; lần 3 vào ngày 21/11/2021 giao tiếp số tiền đặt cọc 50.000.000 đồng, hai lần đặt cọc này đôi bên đều thống nhất ghi vào hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất hai bên đã ký ngày 11/4/2021. Tuy nhiên do hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất này ghi nhiều lần đặt cọc nhìn khó hiểu, nên vợ chồng ông P và vợ chồng ông T thống nhất lập lại hợp đồng đặt cọc về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 29/5/2021, có bên bán (bên A) là ông Trần Văn T, bà Trần Thị Mỹ T1 và bên mua (bên B) ông Dương Danh P và bà Thị Bảo T2 là người làm chứng. Tổng số tiền chuyển nhượng là 950.000.000 đồng, đã đặt cọc số tiền 250.000.000đồng, còn lại số tiền 700.000.000 đồng. Thoả thuận thời hạn đặt cọc từ ngày 29/5/2021 đến ngày 11/6/2022 hai bên sẽ ra công chứng và ông P, bà P1 sẽ giao đủ số tiền còn lại cho ông T, bà T1. Thoả thuận khác bên A làm toàn bộ thủ tục giấy tờ ra giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bên B bao đủ diện tích, bao quy hoạch, bao tranh chấp. Cam kết chung, sau khi ký hợp đồng quá thời hạn thoả thuận nếu bên A không bán, chuyển nhượng tài sản đặt cọc cho bên B thì phải bồi thường cho bên B gấp 02 lần số tiền mà bên B đã đặt cọc. Nếu bên B không mua thì sẽ mất số tiền đã đặt cọc. Tuy nhiên, đến thời hạn như đã thoả thuận trong hợp đồng thì ông T, bà T1 vẫn chưa hoàn tất thủ tục sang tên thửa đất đứng tên ông T để chuyển nhượng lại cho ông P, bà P1.

Vì vậy, ông P, bà P1 tiếp tục đồng ý để cho vợ chồng ông T thêm thời gian để hoàn tất thủ tục. Nên vào ngày 01/7/2022 vợ chồng ông P đã đặt cọc tiếp số tiền 20.000.000 đồng cho vợ chồng ông T, hai bên thống nhất lập lại hợp đồng đặt cọc về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất có bên bán (bên A) là ông Trần Văn T, bà Trần Thị Mỹ T1 và bên mua (bên B) ông Dương Danh P, có bà Phạm Thị N là người làm chứng. Tổng số tiền chuyển nhượng là 950.000.000 đồng, đã đặt cọc số tiền 270.000.000đồng, còn lại số tiền 680.000.000 đồng. Thoả thuận thời hạn đặt cọc 30 ngày từ ngày 01/7/2022 đến ngày 01/8/2022 hai bên sẽ ra công chứng và ông P, bà P1 sẽ giao đủ số tiền còn lại cho ông T, bà T1. Thoả thuận khác bên A làm toàn bộ thủ tục giấy tờ ra giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bên B bao đủ diện tích, bao quy hoạch, bao tranh chấp. Cam kết chung, sau khi ký hợp đồng quá thời hạn thoả thuận nếu bên A không bán, chuyển nhượng tài sản đặt cọc cho bên B thì phải bồi thường cho bên B gấp 02 lần số tiền mà bên B đã đặt cọc. Nếu bên B không mua thì sẽ mất số tiền đã đặt cọc. Tuy nhiên, đến thời hạn như đã thoả thuận trong hợp đồng ngày 01/8/2022 nhưng ông T, bà T1 vẫn chưa hoàn tất thủ tục sang tên thửa đất đứng tên ông T để chuyển nhượng lại cho ông P, bà P1.

Đến ngày 19/9/2022 vợ chồng ông T gọi điện nói vợ chồng ông P giao tiếp số tiền 100.000.000 đồng để ông bà hoàn tất thủ tục sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hai bên ký ra công chứng, hoàn tất thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Do tin tưởng nên vợ chồng ông P đã giao tiếp số tiền 100 000.000 đồng cho vợ chồng ông T số tiền này do bà T1 nhận và hai bên đã ghi nhận vào mặt sau của hợp đồng đặt cọc ngày 01/7/2022. Tuy nhiên đến nay vợ chồng ông T vẫn chưa hoàn tất thủ tục sang tên thửa đất đứng tên ông T để ký chuyển nhượng cho vợ chồng ông P. Hiện tại thửa đất trên đang tranh chấp thừa kế trong vụ án dân sự do Toà án nhân dân huyện Cẩm Mỹ thụ lý và đang giải quyết.

Theo đơn khởi kiện ngày 06/11/2023 do ông T, bà T1 vi phạm thỏa thuận trong hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 11/4/2021, ngày 29/5/2021 và ngày 01/7/2022 nên ông P, bà P1 khởi kiện yêu cầu ông Trần Văn T và bà Trần Thị Mỹ T1 phải trả cho ông P, bà P1 tổng số tiền 1.110.000.000 đồng, trong đó gồm 370.000.000 đồng tiền đặt và 740.000.000 đồng tiền phạt cọc. Nay ông P, bà P1 xác định chỉ khởi kiện yêu cầu Toà án buộc ông T và bà T1 phải trả cho ông bà số tiền đặt cọc 370.000.000 đồng, không yêu cầu ông T, bà T1 trả tiền phạt cọc.

* Từ khi thụ lý Tòa án đã tống đạt hợp lệ tất cả các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Trần Văn T và và Trần Thị Mỹ T1, nhưng ông T, và T1 vẫn vắng mặt nên không có lời khai trong hồ sơ.

* Người làm chứng bà Phạm Thị N trình bày:

Bà là mẹ ruột của bà Phan Thị Bích P1 và là hàng xóm với vợ chồng ông T, bà T1. Do biết vợ chồng ông T có nhu cầu bán thửa đất số 516, tờ bản đồ số 05 xã L nên bà đã giới thiệu cho vợ chồng ông P, bà P1 mua thửa đất này. Sau khi bà giới thiệu thì hai bên gặp nhau và thống nhất thoả thuận chuyển nhượng thửa đất trên với giá 950.000.000 đồng.

Hai bên thống nhất và ký hợp đồng đặt cọc với nhau vào ngày 11/4/2021, cùng ngày vợ chồng ông P đã đặt cọc cho vợ chồng ông T số tiền 100.000.000 đồng; sau đó vợ chồng ông P giao tiếp cho vợ chồng ông T 4 lần tiền nữa cụ thể: lần 2 vào ngày 29/5/2021 giao 100.000.000 đồng; lần 3 vào ngày 21/11/2021 giao 50.000.000 đồng; lần 4 vào ngày 01/7/2022 giao 20.000.000 đồng; lần 5 vào ngày 19/9/2022 giao 100.000.000 đồng. Tổng số tiền vợ chồng ông P đã giao cho vợ chồng ông T là 370.000.000 đồng; trong đó các lần giao tiền từ lần 1 đến lần 3 đều giao tại nhà ông T và có bà chứng kiến, còn lần 4, lần 5 thì giao tiền tại nhà bà. Bà xác định chữ ký và viết Phạm Thị N trong hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 11/4/2021 và Hợp đồng đặt cọc ngày 01/7/2022 đều là chữ viết và ký của bà. Ngoài ra bà không chứng kiến thêm vấn đề gì khác.

* Quá trình giải quyết vụ án bà người làm chứng bà Võ Thị Bảo T2 vắng mặt nên không có lời khai trong hồ sơ.

* Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ:

+ Về tố tụng: trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà sơ thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký đều làm đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành và thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo tố tụng. Bị đơn không chấp hành và thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình và vắng mặt không có lý do nên Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp. Tuy nhiên vụ án còn vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố Tụng dân sự. Kiến nghị Tòa án khắc phục vi phạm này.

+ Về nội dung: Ông P, bà P1 khởi kiện yêu cầu ông T, bà T1 trả lại số tiền đã đặt cọc là 370.000.000 đồng. Ông bà đưa ra chứng cứ là Hợp đồng đặt cọc ngày 11/4/2021 ngày 29/5/2021 và ngày 01/7/2022. Các hợp đồng đặt cọc ông bà cung cấp đều có chữ ký của ông T, bà T1. Căn cứ vào nội dung thể hiện trong các hợp đồng đặt cọc thì ông T, bà T1 đã nhận tổng số tiền 370.000.000 đồng là thật. Theo lời trình bày của ông P, bà P1 thì nguyên nhân dẫn đến việc các bên không thực hiện được hợp đồng chuyển nhượng là do ông T, bà T1 không thực hiện đúng hợp đồng đặt cọc, không hoàn tất được thủ tục sang tên từ cha ông T (đã chết) sang tên của ông T; ông P, bà P1 đã thiện chí đặt cọc nhiều lần để thực hiện được hợp đồng chuyển nhượng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn ông Dương Danh P, bà Phan Thị Bích P1 khởi kiện yêu cầu ông Trần Văn T, bà Trần Thị Mỹ T1 phải trả cho ông P, bà P1 số tiền đặt cọc 370.000.000 đồng, không yêu cầu phạt cọc theo hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 11/4/2021, ngày 29/5/2021 và ngày 01/7/2022. Bị đơn ông Trần Văn T, bà Trần Thị Mỹ T1 hiện cư trú tại ấp C, xã L, huyện C, tỉnh Đồng Nai. Vì vậy, xác định đây là vụ kiện “Tranh chấp hợp đồng dân sự” mà cụ thể là “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện Cẩm Mỹ theo quy định tại Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Trần Văn T, bà Trần Thị Mỹ T1 nhưng tại phiên tòa hôm nay bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do và không có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự là phù hợp.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[3.1] Về việc yêu cầu bị đơn trả lại số tiền 370.000.000 đồng tiền đặt cọc:

Xét thấy: Trong quá trình thu thập chứng cứ nguyên đơn xác định vào ngày 11/4/2021 giữa ông P, bà P1 và ông T, bà T1 đã ký hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất bằng giấy tay với nhau, mục đích của việc hai bên ký hợp đồng đặt cọc là để ông T, bà T1 chuyển nhượng diện tích đất 3.960m² thuộc thửa đất số 516 tờ bản đồ số 05, xã L, huyện C, tỉnh Đồng Nai cho ông P, bà P1. Quá trình thực hiện hợp đồng đặt cọc hai bên đã thống nhất lập lại hợp đồng đặt cọc về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất vào ngày 29/5/2021 và ngày 01/7/2022. Tất cả các hợp đồng này đều có vợ chồng ông P, vợ chồng ông T và người làm chứng cùng ký tên. Do đó các hợp đồng đặt cọc trên được xem là chứng cứ trong vụ án.

Căn cứ vào các hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 11/4/2021, ngày 29/5/2021 và ngày 01/7/2022 thể hiện trong ngày 11/4/2021 bà P1, ông P đã đặt cọc số tiền 100.000.000 đồng cho ông T, bà T1. Tiếp theo bà P1, ông P tiếp tục đặt cọc cho vợ chồng ông T thêm 4 lần tiền, cụ thể vào ngày 29/5/2021 đặt cọc số tiền 100.000.000 đồng; vào ngày 21/11/2021 đặt cọc số tiền 50.000.000 đồng; vào ngày 01/7/2022 đặt cọc số tiền 20.000.000 đồng; vào ngày 19/9/2022 đặt cọc số tiền 100.000.000 đồng. Tổng số tiền vợ chồng ông P đã đặt cọc cho vợ chồng ông T là 370.000.000 đồng. Mục đích vợ chồng ông P đặt cọc số tiền trên để đảm bảo cho việc hai bên ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với diện tích diện tích đất 3.960m² thuộc thửa đất số 516 tờ bản đồ số 05, xã L, huyện C, tỉnh Đồng Nai. Các hợp đồng có nội dung rõ ràng, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, các bên ký kết trên tinh thần tự nguyện, không bị lừa đối hoặc ép buộc và có người làm chứng nên được pháp luật công nhận.

Theo thỏa thuận trong hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 11/4/2021, thì thời hạn đặt cọc là 09 tháng, tức là đến ngày 11/01/2022 vợ chồng ông T có nghĩa vụ giao thửa đất cùng các giấy tờ về quyền sử dụng đất liên quan tới thửa đất số 516 tờ bản đồ số 05, xã L để làm hai bên thủ tục công chứng, chuyển nhượng tại cơ quan có thẩm quyền, vợ chồng ông P sẽ giao đủ số tiền còn lại 850.000.000 đồng cho vợ chồng ông T vào ngày giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nhưng hết thời hạn thỏa thuận trong hợp đồng đặt cọc ngày 11/4/2021 và vợ chồng ông P đã gia hạn nhiều lần theo hợp đồng hợp đồng đặt cọc về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 29/5/2021 thì thời hạn là ngày 11/6/2022; theo hợp đồng đặt cọc về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 01/7/2022 thì thời hạn là ngày 01/8/2022 vợ chồng ông T phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để công chứng cho vợ chồng ông P. Tuy nhiên, đến ngày 01/8/2022 vợ chồng ông T vẫn chưa thực hiện xong việc tách thửa, sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất đã thỏa thuận chuyển nhượng cho vợ chồng ông P và cho đến hiện nay thửa đất số 516 tờ bản đồ số 05, xã L vẫn chưa hoàn tất thủ tục sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên vợ chồng ông T và thửa đất đang là đối tượng tranh chấp trong vụ án dân sự do Toà án nhân dân huyện Cẩm Mỹ đang giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để ông T, bà T1 trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng như xác định chữ ký và chữ viết Trần Văn T, Trần Thị Mỹ T1 trong các hợp đồng đặt cọc do nguyên đơn cung cấp có phải do ông T, bà T1 tự viết và ký tên hay không nhưng ông T, bà T1 vẫn vắng mặt và không có văn bản thể hiện ý kiến của mình nộp cho Toà án, điều này thể hiện ông T, bà T1 không tôn trọng pháp luật và từ bỏ các quyền lợi của mình.

Như vậy, theo thời gian đã thỏa thuận trong các hợp đồng đặt cọc thì hời hạn cuối cùng ngày 01/8/2022, sau đó vợ chồng ông P đặt cọc tiếp số tiền 100.000.000 đồng vào ngày 19/9/2022 và gia hạn thêm một khoảng thời gian để cho vợ chồng ông T hoàn tất thủ tục sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất đã thỏa thuận chuyển nhượng cho vợ chồng ông P nhưng cho đến nay vợ chồng ông T vẫn chưa thực hiện xong nên lỗi dẫn đến hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sự dụng đất giữa đôi bên không thực hiện được là do vợ chồng ông T đã vi phạm các thỏa thuận mà hai bên ký kết trong các hợp đồng đặt cọc. Do đó, ông T và bà T1 có nghĩa vụ phải trả lại cho ông P, bà P1 số tiền 370.000.000 đồng đã đặt cọc theo quy định tại khoản 2 Điều 328 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Từ những chứng cứ, phân tích, đánh giá như trên. Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông Trần Văn T, bà Trần Thị Mỹ T1 phải trả số tiền đặt cọc 370.000.000 đồng cho ông Dương Danh P, bà Phan Thị Bích P1.

[3.2] Về việc yêu cầu bị đơn trả số tiền 740.000.000 đồng tiền phạt cọc.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà hôm nay nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện này. Vì vậy, Hội đồng xét xử đình chỉ đối với yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn.

[4] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên ông T, bà T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Số tiền tạm ứng án phí ông ông T, bà T1 phải nộp là 370.000.000 đồng x 5% = 18.500.000 đồng. Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

* Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ về phần nội dung phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận. Kiến nghị khắc phục vi phạm là đúng nên ghi nhận.

Vì những lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ Điều 328, 357 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ -UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Dương Danh P và bà Phan Thị Bích P1.

+ Buộc ông Trần Văn T và bà Trần Thị Mỹ T1 phải có nghĩa vụ trả cho ông Dương Danh P và bà Phan Thị Bích P1 số tiền đặt cọc 370.000.000đ (ba trăm bảy mươi triệu) đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án phải chịu lãi suất của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015.

2. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của ông Dương Danh P và bà Phan Thị Bích P1 về việc yêu cầu bị đơn trả số tiền phạt cọc 740.000.000 đồng do ông P, bà P1 rút yêu cầu khởi kiện.

3. Về án phí:

+ Ông Trần Văn T và bà Trần Thị Mỹ T1 phải nộp 18.500.000đ (mười tám triệu năm trăm ngàn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

+ Hoàn trả lại cho ông Dương Danh P và bà Phan Thị Bích P1 số tiền tạm ứng án phí 22.650.000đ (hai mươi hai triệu sáu trăm năm mươi ngàn) đồng theo Biên lai thu số 0000494 ngày 10/11/2023 của Chi cục thi hành án Dân sự huyện Cẩm Mỹ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.

4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, tính từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - TAND. tỉnh Đồng Nai.
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai.
  • - VKSND H. Cẩm Mỹ.
  • - Thi hành án dân sự H. Cẩm Mỹ.
  • - Những người tham gia tố tụng.
  • - Lưu án văn.
  • - Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lê Thị Khuyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2024/DS - ST ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Số bản án: 23/2024/DS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Dương Danh Ph khởi kiện Trần Văn Th và Trần Thị Mỹ Th đòi số tiền 370.000.000 đồng đặt cọc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger