TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 23/2024/HNGĐ-ST
Ngày 08 tháng 5 năm 2024
V/v: "Tranh chấp hôn nhân và gia đình "
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vi Thị Hương Giang.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Giáp Hồng Thanh;
- Ông Diêm Đăng Hoạt.
Thư ký phiên toà: Ông Ngô Văn Quang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huệ - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 367/2023/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 12 năm 2023, về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22/3/2024, quyết định hoãn phiên tòa số: 39/2024/QĐST-HNGĐ ngày 10/4/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Trần Thị V, sinh năm 1972; Nơi ĐKHKTT: thôn B, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang, nơi ở: thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang (có mặt).
- Bị đơn: anh Ngô Tiến H, sinh năm 1975; địa chỉ: thôn B, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 01/12/2023, đơn khởi kiện bổ sung ngày 29/12/2023, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa chị Trần Thị V trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Vào tháng 9 năm 1995, chị có quen anh Ngô Tiến H, vì anh chị đều công tác tại trường P, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Đến đầu năm 1997, chị và anh H tổ chức hôn lễ theo phong tục tập quán của địa phương nhưng lại không đăng kí kết hôn. Sau khi tổ chức lễ kết hôn thì anh chị làm việc và sống ở khu tập thể thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Đến tháng 5 năm 1998 chị sinh con, sau đó, chị và anh H mua đất làm nhà sang khu Đ xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Vao tháng 8 năm 2004 chị chuyển về quê anh anh H tại thôn B, xã N, huyện T, Bắc Giang sinh sống và công tác cho đến nay. Trong suốt quá trình chung sống (27 năm), cuộc sống vợ chồng của chị không có tiếng nói chung, không chung kinh tế, không cùng chăm lo cho gia đình, con cái, luôn xảy ra mâu thuẫn, đánh cãi nhau thường xuyên trước mặt hai con trai với nhiều lí do khác nhau, nhưng vì hạnh phúc của các con, chị cố gắng chịu đựng đến thời điểm này. Hiện nay hai con của chị đã lớn và đã đều đi làm, mâu thuẫn của hai người vẫn không hề giảm bớt mà còn căng thẳng hơn trước. Chị và anh H sống ly thân từ tháng 7 năm 2022 cho đến nay, không quan tâm gì đến nhau nữa. Nay chị thấy tình cảm không còn, không thể tiếp tục chung sống, chị đề nghị Toà án giải quyết không công nhận giữa chị và anh H là vợ chồng.
Về con chung: Chị và anh H có 02 con chung: Cháu Ngô Tiến H1, sinh ngày 30 tháng 5 năm 1998, và cháu Ngô Tiến H2, sinh ngày 23 tháng 5 năm 2002. Hiện các con chung đều đã trưởng thành, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung: Trong thời kỳ chung sống, chị và anh H tạo lập được khối tài sản chung gồm: Quyền sử dụng đất (đất ở) diện tích 120 m² tại thửa số 416 (lô 04), tờ bản đồ số 18, địa chỉ tại thôn B, xã N, huyện T, Bắc Giang cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên hai vợ chồng chị. Tài sản trên đất: Năm 2009 xây ngôi nhà ba tầng, mỗi sàn khoảng 80 m² trên mảnh đất đó. Chị xin rút yêu cầu chia tài sản, nên chị không yêu cầu Toà án giải quyết về phần tài sản.
Về các vấn đề khác, chị không yêu cầu Toà án giải quyết.
Bị đơn anh Ngô Tiến H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Trần Thị V chung sống với nhau đầu năm 1997, trước khi kết hôn hai bên có được tìm hiểu, tự nguyện đến với nhau nhưng đến nay chưa đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống vợ chồng có mâu thuẫn do bất đồng quan điểm và lối sống dẫn đến cãi nhau, từ tháng 10 năm 2023 anh đã đuổi chị V ra khỏi nhà và sống ly thân từ đó cho đến nay. Anh mong muốn chị V về đoàn tụ gia đình nên anh không nhất trí ly hôn chị V.
Về con chung: Anh và chị Trần Thị V có 02 con chung là: Ngô Tiến H1, sinh năm 1998, Ngô Tiến H2, sinh năm 2002, hiện nay các con ở cùng anh và đã trưởng thành.
Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại phiên tòa anh Ngô Tiến H vắng mặt.
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán và Thư ký Tòa án tuân theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên Tòa Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành theo quy định của BLTTDS.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Khoản 3 Điều 144, khoản 2 Điều 244, Điều 227, khoản 1 Điều 273 của BLTTDS;
Khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xử:
Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận vợ chồng giữa chị Trần Thị V và anh Ngô Tiến H.
Về con chung: Chị Trần Thị V và anh Ngô Tiến H có 02 con là Ngô Tiến H1, sinh năm 1998, Ngô Tiến H2, sinh năm 2002, các con đã trên 18 tuổi, không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Chị Trần Thị V rút yêu cầu chia tài sản, nên đình chỉ xét xử phần tài sản.
Về án phí: Chị Trần Thị V phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm, trả lại chị V án phí chia tài sản theo quy định.
Ngoài ra còn xử lý về quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn anh Ngô Tiến H có nơi cư trú tại huyện T, tỉnh Bắc Giang. Nên căn cứ vào khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang là đúng qui định.
[1.2]. Về quan hệ pháp luật: Chị Trần Thị V có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết về tranh chấp hôn nhân và gia đình với anh Ngô Tiến H nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28 của BLTTDS xác định quan hệ pháp luật là: "Tranh chấp ly hôn”.
[1.3].Về sự vắng mặt của bị đơn: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho anh Ngô Tiến H, tuy nhiên anh H không có ý kiến gửi cho Tòa án, anh H vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do nên căn cứ vào Điều 227, Điều 228 và của BLTTDS, HĐXX tiếp tục xét xử vụ án theo qui định của pháp luật.
[2]. Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị V và anh Ngô Tiến H chung sống với nhau từ đầu năm 1997, hai bên được tìm hiểu, tự nguyện đến với nhau, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán của địa phương, đến nay chị V và anh H không đi đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống, chị V và anh H đều thừa nhận có mâu thuẫn xẩy ra, nguyên nhân do không hợp nhau, bất đồng quan điểm và cãi chửi nhau, chị V và anh H đã sống ly thân từ tháng 10 năm 2023 cho đến nay. Tại quyết định cung cấp chứng cứ số 24/2024/QĐ-CCTLCC ngày 29 tháng 02 năm 2024 cho chị V, anh nhưng chị V, anh H không cung cấp cho Tòa án giấy tờ liên quan đến việc đăng ký kết hôn theo quy định, tại biên bản xác minh, làm việc với chính quyền địa phương và tài liệu có trong hồ sơ vụ án cho thấy: Chị Trần Thị V, sinh năm 1972 và anh Ngô Tiến H, sinh năm 1975, chung sống với nhau năm 1997 không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Xét thấy chị V yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận giữa chị V và anh H là vợ chồng là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 9 và Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 16/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06 tháng 01 năm 2016, hướng dân thi hành một số điều của Luật hôn nhân và gia đình cần chấp nhận.
[2.2] Về con chung: Chị Trần Thị V và anh Ngô Tiến H có 02 là Ngô Tiến H1, sinh năm 1998, Ngô Tiến H2, sinh năm 2002 đã trên 18 tuổi không nên HĐXX không xem xét giải quyết.
[2.3] Về tài sản chung: Chị Trần Thị V xin rút yêu cầu chia tài sản, căn cứ vào khoản 2 Điều 244 của BLTTDS, HĐXX chấp nhận và đình chỉ xét xử phần yêu cầu chia tài sản của chị V.
[2.4] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của BLTTDS; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Chị Trần Thị V phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm, trả lại chị V án phí chia tài sản theo quy định của pháp luật.
[2.5] Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 3 Điều 218, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 2 Điều 244, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 9 và khoản 1 Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Trần Thị V và anh Ngô Tiến H là vợ chồng.
- Về con chung: Chị Trần Thị V và anh Ngô Tiến H có 02 là Ngô Tiến H1, sinh năm 1998, Ngô Tiến H2, sinh năm 2002 đã trên 18 tuổi không nên HĐXX không xem xét giải quyết.
- Về tài sản: Đình chỉ xét xử phần yêu cầu chia tài sản của chị Trần Thị V.
- Về án phí: Chị Trần Thị V phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào 25.800.000đ chị V đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0006650 ngày 29 tháng 12 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
Trả lại chị Trần Thị V 25.500.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cường chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vi Thị Hương Giang |
Bản án số 23/2024/HNGĐ-ST ngày 08/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 23/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chị Vân ly hôn anh Hưng
