|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH THÀNH PHỐ HÀ NỘI -------- |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc -------- |
Bản án số: 23/2024/KDTM-ST
Ngày: 08/5/2024
V/v: “Tranh chấp HĐTD”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thu Huyền.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Duy May.
2. Bà Nguyễn Thị Mai.
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thu Thảo - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Đỗ Ngọc Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 08/5/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Kinh doanh thương mại sơ thẩm thụ lý số 04/2023/TLST-KDTM ngày 11/01/2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2023/QĐST-KDTM ngày 24/8/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 38/2023/QĐST-KDTM ngày 11/9/2023; Quyết định hoãn phiên toà số 42/2023/QĐST-KDTM ngày 22/9/2023. Thông báo mở lại phiên toà ngày 15/4/2024. Giữa:
1. Nguyên đơn:
Ngân hàng N1.
(Sau đây gọi tắt là Ngân hàng A)
Địa chỉ: Số B L, phường T, quận B, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V – Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trịnh Xuân L – Giám đốc Ngân hàng N1 – Chi nhánh Đ1. (Theo Quyết định uỷ quyền số 2665/QĐ-NHNo-PC ngày 01/12/2022).
Người đại diện uỷ quyền tham gia tố tụng: Ông Lê Văn T – Trưởng phòng khách hàng doanh nghiệp Ngân hàng N1 – Chi nhánh Đ1. (Theo Giấy ủy quyền số 06/UQ-NHNo.ĐA ngày 02/12/2022).
Ông T có mặt tại phiên tòa.
2. Bị đơn:
Công ty TNHH Đ2.
(Trước đây là Công ty TNHH Đ2).
(Sau đây gọi tắt là Công ty Đ2)
Địa chỉ: Số nhà A, tổ A thị trấn Đ, huyện Đ, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Đức G - Giám đốc Công ty.
Địa chỉ của người đại diện theo pháp luật: Thôn T, xã P, huyện S, Thành phố Hà Nội.
Ông G vắng mặt tại phiên tòa.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Vũ Thị Ngọc B, sinh năm 1975.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 48 Hàng Bài, phường Hàng Bài, quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội.
Nơi ở: Số 476A đường Âu Cơ, phường Nhật Tân, quận Tây Hồ, Thành phố Hà Nội.
3.2. Công ty TNHH A1.
(Sau đây gọi tắt là Công ty A2)
Địa chỉ: Số A T, phường T, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Dr. William Maxwel R – Giám đốc Công ty.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Trung H – Quản lý vận hành tại Công ty.
Bà B vắng mặt tại phiên tòa.
Ông H có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện của nguyên đơn trình bày:
Ngày 28/5/2020 Ngân hàng A Chi nhánh Đ1 và Công ty Đ2 ký Hợp đồng tín dụng số 3140-LAV-202002556 với một số nội dung chính như sau:
- Hạn mức cấp tín dụng: 80.000.000.000 đồng (Tám mươi tỷ đồng).
- Thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng: Đến hết ngày 28/5/2021.
- Thời hạn cho vay: Ghi chi tiết trên từng Giấy nhận nợ.
- Mục đích vay vốn: Bổ sung vốn lưu động phục vụ kế hoạch sản xuất kinh doanh của khách hàng.
- Mức lãi suất cho vay: 9,0%/năm tại thời điểm ký Hợp đồng tín dụng.
- Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.
Ngày 16/7/2020 Ngân hàng A Chi nhánh Đ1 và Công ty Đ2 ký Phụ lục Hợp đồng tín dụng điều chỉnh hạn mức tín dụng xuống 58.000.000.000 đồng (Năm mươi tám tỷ đồng). Sửa đổi lãi suất cho vay áp dụng với dư nợ gốc trong hạn lên 9,3%/năm.
Ngày 21/9/2020 Ngân hàng A Chi nhánh Đ1 và Công ty Đ2 ký Phụ lục Hợp đồng tín dụng số 2 sửa đổi lãi suất cho vay áp dụng với dư nợ gốc trong hạn xuống 8,8%/năm.
Ngày 22/02/2021, ngày 24/6/2021 Ngân hàng A Chi nhánh Đ1 và Công ty Đ2 lần lượt ký các Phụ lục Hợp đồng gia hạn nợ gốc, lãi cho khách hàng.
Thực hiện theo đúng thoả thuận của Hợp đồng tín dụng số 3140-LAV-202002556 và các Phụ lục Hợp đồng kèm theo, Ngân hàng A Chi nhánh Đ1 đã nhiều lần giải ngân cho Công ty Đ2. Cụ thể:
- + Ngày 20/10/2020 giải ngân 10.000.000.000 đồng (Mười tỷ đồng): Thời hạn vay: 4 tháng; Ngày đến hạn: 20/02/2021; Lãi suất vay trong hạn: 8,8%/năm; Lãi suất nợ quá hạn: 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm quá hạn; Lãi suất lãi chậm trả: 10%/năm.
- + Ngày 22/10/2020 giải ngân 9.800.000.000 đồng (Chín tỷ, tám trăm triệu đồng): Thời hạn vay: 4 tháng; Ngày đến hạn: 22/02/2021; Lãi suất vay trong hạn: 8,8%/năm; Lãi suất nợ quá hạn: 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm quá hạn; Lãi suất lãi chậm trả: 10%/năm.
- + Ngày 23/10/2020 giải ngân 14.700.000.000 đồng (Mười bốn tỷ, bẩy trăm triệu đồng): Thời hạn vay: 4 tháng; Ngày đến hạn: 23/02/2021; Lãi suất vay trong hạn: 8,8%/năm; Lãi suất nợ quá hạn: 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm quá hạn; Lãi suất lãi chậm trả: 10%/năm.
- + Ngày 17/11/2020 giải ngân 2.950.000.000 đồng (Hai tỷ, chín trăm năm mươi triệu đồng): Ngày đến hạn: 17/3/2021; Lãi suất vay trong hạn: 8,8%/năm; Lãi suất nợ quá hạn: 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm quá hạn; Lãi suất lãi chậm trả: 10%/năm.
- + Ngày 18/11/2020 giải ngân 2.395.000.000 đồng (Hai tỷ, ba trăm chín mươi lăm triệu đồng): Ngày đến hạn: 18/3/2021; Lãi suất vay trong hạn: 8,8%/năm; Lãi suất nợ quá hạn: 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm quá hạn; Lãi suất lãi chậm trả: 10%/năm.
- + Ngày 19/11/2020 giải ngân 8.350.000.000 đồng (Tám tỷ, ba trăm năm mươi triệu đồng): Ngày đến hạn: 31/3/2021; Lãi suất vay trong hạn: 8,8%/năm; Lãi suất nợ quá hạn: 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm quá hạn; Lãi suất lãi chậm trả: 10%/năm.
- + Ngày 20/11/2020 giải ngân 6.990.000.000 đồng (Sáu tỷ, chín trăm chín mươi triệu đồng): Ngày đến hạn: 10/4/2021; Lãi suất vay trong hạn: 8,8%/năm; Lãi suất nợ quá hạn: 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm quá hạn; Lãi suất lãi chậm trả: 10%/năm.
- + Ngày 25/02/2021 giải ngân 4.500.000.000 đồng (Bốn tỷ, năm trăm triệu đồng): Ngày đến hạn: 25/6/2021; Lãi suất vay trong hạn: 8,8%/năm; Lãi suất nợ quá hạn: 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm quá hạn; Lãi suất lãi chậm trả: 10%/năm.
- + Ngày 26/02/2021 giải ngân 4.290.000.000 đồng (Bốn tỷ, hai trăm chín mươi triệu đồng): Ngày đến hạn: 30/6/2021; Lãi suất vay trong hạn: 8,8%/năm; Lãi suất nợ quá hạn: 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm quá hạn; Lãi suất lãi chậm trả: 10%/năm.
Hiện tổng dư nợ gốc và nợ lãi của Công ty Đ2 tạm tính đến hết ngày 22/9/2023 tại Ngân hàng A cụ thể là:
- - Nợ gốc: 57.765.000.000 đồng.
- - Nợ lãi: 16.199.181.825 đồng, trong đó: Nợ lãi trong hạn: 2.414.531.584 đồng, nợ lãi quá hạn: 13.784.650.241 đồng.
Tổng cả gốc và lãi là: 73.964.181.825 đồng.
Tài sản thế chấp bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ cụ thể như sau: Ngày 13/6/2019 bà Vũ Thị Ngọc B đã thế chấp tài sản cho Ngân hàng A Chi nhánh Đ1 để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ cho Công ty Đ2 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của người khác, số công chứng 4427/TC/2019 ngày 13/6/2019 tại Văn phòng C. Theo đó tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thửa đất số 37, tờ bản đồ số 11, diện tích 250m2 tại địa chỉ tổ C cụm A Q, phường Q, quận T, Thành phố Hà Nội (Nay là số G đường T, phường Q, quận T, Thành phố Hà Nội), theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 542956 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 14/8/2017 mang tên bà Vũ Thị Ngọc B.
Ngày 13/6/2019 Văn phòng đăng ký đất đai Thành phố H chứng nhận việc thế chấp nêu trên đã được đăng ký theo quy định của pháp luật.
Ngân hàng A đã nhiều lần gửi thông báo yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả nợ cũng như cử người đại diện làm việc với Công ty Đ2 để tìm ra phương án giải quyết. Tuy nhiên Công ty Đ2 vẫn không trả đầy đủ số tiền nợ với Ngân hàng. Theo đó Công ty Đ2 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của Ngân hàng.
Vì vậy để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, Ngân hàng A khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết:
- + Buộc Công ty Đ2 phải trả cho Ngân hàng A số tiền tạm tính đến hết ngày 22/9/2023 cụ thể là:
- - Nợ gốc: 57.765.000.000 đồng.
- - Nợ lãi: 16.199.181.852 đồng, trong đó: Nợ lãi trong hạn: 2.414.531.584 đồng, nợ lãi quá hạn: 13. 784.650.241 đồng.
- Tổng cả gốc và lãi là: 73.964.181.825 đồng.
- + Buộc Công ty Đ2 phải trả các khoản tiền lãi, phí phát sinh từ ngày 23/9/2023 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
- + Trường hợp Công ty Đ2 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi, phí phát sinh thì Ngân hàng A có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền kê biên, xử lý tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp nêu trên để thu hồi khoản nợ cho Ngân hàng.
- + Trong trường hợp số tiền thu được từ xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ và lãi phát sinh thì Công ty Đ2 vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng.
* Bị đơn – Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ2 do ông Trần Đức G làm Giám đốc; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đồng thời là thành viên của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ2 – bà Vũ Thị Ngọc B:
Theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty Trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ2 đăng ký lần đầu ngày 11/11/2014, người đại diện theo pháp luật của Công ty là bà Vũ Thị Ngọc B – Chủ tịch Hội đồng thành viên; Đăng ký thay đổi lần thứ 6 ngày 11/8/2020 đổi tên Công ty là Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ2, người đại diện theo pháp luật của Công ty là ông
Vũ Minh Đ – Chủ tịch Hội đồng thành viên; Đăng ký thay đổi lần thứ 8 ngày 11/6/2021 thì Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ2 có địa chỉ trụ sở chính tại: Số nhà A, tổ B, thị trấn Đ, huyện Đ, Thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật của Công ty là ông Trần Đức G - Giám đốc. Thành viên vốn góp gồm có ông Trần Đức G có địa chỉ tại: Thôn T, xã P, huyện S, Thành phố Hà Nội và bà Vũ Thị Ngọc B có địa chỉ tại: Số D H, phường H, quận H, Thành phố Hà Nội.
Theo cung cấp của Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện Đ, Thành phố Hà Nội thì tại địa chỉ số nhà A, tổ B, thị trấn Đ, huyện Đ, Thành phố Hà Nội không có biển tên của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ2. Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ2 cũng không có cửa hàng kinh doanh gì tại địa chỉ trên.
Theo cung cấp của Công an xã P, huyện S, Thành phố Hà Nội thì ông Trần Đức G sinh năm 1976 có đăng ký thường trú tại thôn T, xã P, huyện S, Thành phố Hà Nội và vẫn đang sinh sống tại địa phương, nhưng ông G thường xuyên vắng mặt tại nhà. Hiện nay ông Trần Đức G chưa chuyển đăng ký thường trú đến địa phương khác. Công an xã P chưa nhận được thông tin đăng ký tạm trú của ông G tại địa chỉ nào khác.
Theo cung cấp của Công an phường H, quận H, Thành phố Hà Nội thì bà Vũ Thị Ngọc B sinh năm 1975, có đăng ký Hộ khẩu thường trú tại địa chỉ số D H, phường H, quận H, Thành phố Hà Nội. Hiện tại bà Vũ Thị Ngọc B không thường xuyên sinh sống tại địa chỉ trên nữa. Theo kiểm tra trên dữ liệu Quốc gia về dân cư thì bà Vũ Thị Ngọc B cung cấp thông tin địa chỉ hiện tại của bà B là số D đường Â, phường N, quận T, Thành phố Hà Nội.
Theo cung cấp của Công an phường N, quận T, Thành phố Hà Nội thì bà Vũ Thị Ngọc B sinh năm 1975, có đăng ký Hộ khẩu thường trú tại địa chỉ số D H, phường H, quận H, Thành phố Hà Nội hiện tại không sinh sống tại địa chỉ số D đường Â, phường N, quận T, Thành phố Hà Nội và cũng không đăng ký tạm trú tại địa chỉ này.
Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông Trần Đức G và bà Vũ Thị Ngọc B đến Tòa án để làm việc, nhưng ông G và bà B đều không đến và cũng không giao nộp tài liệu gì cho Tòa án. Tòa án cũng đã đến nhà để tống đạt trực tiếp văn bản tố tụng và ghi lời khai của ông G và bà B nhưng ông G và bà B đều vắng nhà. Do vậy nên Tòa án không thể ghi lời khai của ông Trần Đức G và bà Vũ Thị Ngọc B được.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan - Công ty TNHH A1 (Công ty A2) do ông Nguyễn Trung H đại diện theo uỷ quyền trình bày:
Ngày 29/12/2020 Công ty A2 và bà Vũ Thị Ngọc B, CCCD số [...] tiến hành ký Hợp đồng thuê bất động sản số ADI/HAN/TNV01 (số công chứng 06780.20 tại Văn phòng C1, địa chỉ tại số D phố G, phường Đ, quận B, Thành phố Hà Nội) thuê căn nhà tại tổ C, cụm A Q, phường Q, quận T, Thành phố Hà Nội (nay là số G đường T, phường Q, quận T, Thành phố Hà Nội), theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 542956 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp cho bà Vũ Thị Ngọc B ngày 14/8/2017. Thời hạn thuê nhà là 10 năm bắt đầu từ ngày 01/01/2021 và kết
thúc vào ngày 31/12/2030. Giá thuê và thanh toán được hai bên thoả thuận cụ thể trong Hợp đồng thuê.
Thực hiện Hợp đồng thuê, Công ty A2 đã chuyển cho bà B số tiền đặt cọc là 208.125.000 đồng và bà B đã nhận đủ. Ngày 28/12/2020 Công ty A2 nhận bàn giao bất động sản cho thuê và tiến hành triển khai thực hiện các công việc cải tạo theo mục đích thuê là để sử dụng làm phòng khám T2, văn phòng và các hoạt động liên quan. Công ty A2 tiếp tục thực hiện hoạt động kinh doanh của mình và luôn tuân thủ đầy đủ các nghĩa vụ của bên thuê trong Hợp đồng thuê.
Sau một thời gian hoạt động, Công ty A2 nhận được Công văn đề ngày 17/10/2022 của Ngân hàng A yêu cầu Công ty A2 dừng hoạt động kinh doanh tại bất động sản cho thuê, thu xếp đồ đạc để Ngân hàng tiến hành thu giữ bất động sản cho thuê, thời gian chậm nhất là đến ngày 31/10/2022.
Tính từ thời điểm 31/10/2022 đến nay, Công ty A2 không nhận được thêm thông tin, văn bản hay sự trao đổi, thương lượng nào từ phía Ngân hàng hoặc bà B. Sau đó Công ty A2 nhận được Thông báo thụ lý vụ án và Thông báo về việc đưa người tham gia tố tụng trong vụ án Kinh doanh thương mại của Toà án nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội.
Xét Hợp đồng thuê bất động sản số ADI/HAN/TNV01 giữa Công ty A2 với bà B: Căn cứ nội dung Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà B là chủ sở hữu hợp pháp của bất động sản cho thuê là thửa đất số 37, tờ bản đồ số 11, địa chỉ tại tổ C, cụm A Q, phường Q, quận T, Thành phố Hà Nội (nay là số G đường T, phường Q, quận T, Thành phố Hà Nội), diện tích 250m2, hình thức sử dụng riêng, thời hạn sử dụng lâu dài; Loại nhà ở riêng lẻ, diện tích xây dựng 127m2, hình thức sở hữu riêng, nhà cấp 3.
Hợp đồng thuê bất động sản số ADI/HAN/TNV01 giữa Công ty A2 với bà B được các bên tự nguyện giao kết, không vi phạm các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo quy định tại Điều 117 Bộ luật dân sự và đã được các bên thực hiện công chứng, chứng thực đầy đủ theo quy định của pháp luật.
Do đó có thể xác định Hợp đồng thuê bất động sản số ADI/HAN/TNV01 giữa Công ty A2 với bà B đã phát sinh hiệu lực. Công ty A2 đã có đầy đủ quyền và luôn thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của bên thuê trong suốt thời hạn quy định trong Hợp đồng thuê. Việc Ngân hàng A vốn không phải là một bên trong Hợp đồng thuê yêu cầu Công ty A2 chấm dứt hoạt động kinh doanh và bàn giao mặt bằng là không có cơ sở để chấp nhận.
Đối với yêu cầu của Công ty A2 về việc được tiếp tục Hợp đồng thuê bất động sản số ADI/HAN/TNV01 giữa Công ty A2 với bà B: Trong trường hợp chủ thể của quyền sở hữu bất động sản cho thuê thay đổi do kết quả của việc xử lý vụ án, Công ty A2 vẫn có quyền được tiếp tục Hợp đồng thuê với đầy đủ quyền và nghĩa vụ được xác định, bao gồm nhưng không giới hạn điều khoản về giá thuê, thời hạn thuê và các điều khoản liên quan khác. Chủ sở hữu mới của bất động sản cho thuê có trách nhiệm tiếp tục thực hiện Hợp đồng thuê.
Ngoài ra, Công ty A2 đã không được bà B và các bên liên quan thiện chí thông báo về tình trạng thế chấp của bất động sản cho thuê. Công ty A2 không nhận được thông tin liên quan nào từ bà B cho đến khi nhận được văn bản ngày
17/10/2022 của nguyên đơn. Việc không thông báo này đã khiến cho Công ty A2 không nhận thức được rõ về tình trạng pháp lý của bất động sản cho thuê, dẫn đến việc bị động và khả năng chịu rủi ro về mặt kinh doanh rất lớn.
Dù bị các bên liên quan che dấu thông tin, Công ty A2 vẫn luôn thiện chí và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của bên thuê về việc thanh toán, bảo quản và sử dụng bất động sản cho thuê đúng mục đích. Hiện nay Công ty A2 đã đầu tư rất nhiều công sức, trang thiết bị, cải tạo mặt bằng thuê, quảng bá hình ảnh để phục vụ cho mục đích thuê. Việc nguyên đơn khi chưa có kết quả giải quyết vụ án đã yêu cầu Công ty A2 chấm dứt hoạt động kinh doanh, thu hồi bất động sản cho thuê là vi phạm nghiêm trọng quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty A2 đã được pháp luật bảo vệ, gây thiệt hại nghiêm trọng đến danh dự, uy tín của Công ty A2 với tư cách là một tổ chức y tế luôn chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật Việt Nam.
Công ty A2 đề nghị Toà án nhân dân huyện Đông Anh giải quyết cho Công ty A2 được tiếp tục thực hiện Hợp đồng thuê bất động sản ADI/HAN/TNV01 giữa Công ty A2 với bà B trong bất kỳ trường hợp nào khi giải quyết yêu cầu của nguyên đơn.
Với việc đầu tư hơn 5 tỷ đồng để cải tạo toàn bộ toà nhà, lắp đặt thi công trang thiết bị y tế và sinh hoạt, kinh doanh, Công ty A2 muốn được tiếp tục thuê căn nhà này theo Hợp đồng hiện tại để ổn định kinh doanh và đóng góp nhiều giá trị hơn cho xã hội. Ngoài ra trong trường hợp bên Ngân hàng thắng vụ kiện, Công ty A2 hy vọng có thể đàm phán đôi bên để cũng đưa ra phương án hợp lý về việc tiếp tục Hợp đồng thuê. Trong trường hợp bà B không thể giải quyết được vụ án tranh chấp và đơn phương kết thúc Hợp đồng thuê, cũng như bên Ngân hàng thắng kiện nhưng không đồng ý cho bên Công ty A2 tiếp tục thuê căn nhà, Công ty A2 kính mong Toà án xem xét và xét xử các bên liên quan để Công ty A2 có thể được bồi thường một cách thoả đáng và đúng pháp luật, đồng thời được xem xét quyền lợi chính đáng dựa trên Hợp đồng thuê nhà.
Tại phiên tòa:
* Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Quá trình giải quyết vụ án, Công ty Đ2 đã trả thêm được 400.000.000 đồng tiền nợ gốc cho Ngân hàng A vào ngày 01/11/2023 và ngày 09/11/2023.
Tạm tính đến ngày 08/5/2024 tổng dư nợ của Công ty Đ2 tại Ngân hàng A như sau: Nợ gốc: 57.365.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn: 2.414.531.584 đồng; Nợ lãi quá hạn 18.541.635.501 đồng. Tổng cộng cả gốc và lãi là: 78.321.167.085 đồng. Ngân hàng không yêu cầu đối với khoản tiền phạt chậm trả. Quá trình thực hiện Hợp đồng, Công ty Đ2 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ và khoản nợ của Công ty Đ2 đã chuyển nợ quá hạn từ ngày 09/01/2021.
Ngân hàng vẫn giữ nguyên quan điểm yêu cầu Công ty Đ2 phải thanh toán cho Ngân hàng A toàn bộ khoản nợ cả gốc và lãi như đã nêu trên.
Công ty Đ2 tiếp tục phải trả các khoản tiền lãi, phí phát sinh từ ngày 09/5/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
Trong trường hợp Công ty Đ2 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi, phí phát sinh thì Ngân hàng A có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ cho Ngân hàng là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 37, tờ bản đồ số 11 tại địa chỉ tổ C, cụm A Q, phường Q, quận T, Thành phố Hà Nội (Nay là số G đường T, phường Q, quận T, Thành phố Hà Nội). Theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ của người khác số công chứng 4427/TC/25019 ngày 13/6/2019 lập tại Văn phòng C, đăng ký thế chấp ngày 13/6/2019 tại Văn phòng Đ. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 542956 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 14/8/2017 mang tên bà Vũ Thị Ngọc B.
Trong trường hợp số tiền thu được từ xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán toàn bộ nghĩa vụ trả nợ của Công ty Đ2 thì Công ty Đ2 vẫn phải có nghĩa vụ tiếp tục trả nợ cho Ngân hàng số tiền nợ còn thiếu.
Việc bà Vũ Thị Ngọc B đã ký Hợp đồng thuê bất động sản đối với Công ty A2 thì bà B đã thông báo cho Ngân hàng A biết và Ngân hàng đã chấp thuận. Việc Công ty A2 đầu tư sửa chữa vào tài sản thế chấp thì Ngân hàng không được biết. Theo thoả thuận trong Hợp đồng thế chấp thì toàn bộ tài sản gắn liền với đất và tất cả các phần đầu tư cải tạo thêm vào tài sản thế chấp đều thuộc về tài sản thế chấp. Do vậy nên Ngân hàng vẫn giữ nguyên quan điểm, nếu trường hợp phải xử lý tài sản thế chấp thì Ngân hàng yêu cầu xử lý toàn bộ cả quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất bao gồm cả phần cải tạo đầu tư vào tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho Ngân hàng.
* Bị đơn – Công ty Đ2 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – Bà Vũ Thị Ngọc B:
Vắng mặt tại phiên toà, nên không có lời trình bày tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan – Công ty A2 trình bày:
Ngày 29/12/2020 Công ty A2 ký Hợp đồng thuê bất động sản số ADI/HAN/TNV01 để thuê căn nhà tại địa chỉ số G T, phường Q, quận T, Thành phố Hà Nội với bà Vũ Thị Ngọc B là chủ sở hữu của căn nhà để sử dụng làm phòng khám T2, văn phòng và các hoạt động khác liên quan. Tại thời điểm ký Hợp đồng Công ty A2 không biết tài sản của bà B đang thế chấp tại Ngân hàng.
Quá trình sử dụng tài sản thuê, Công ty A2 đã đầu tư một khoản tiền lớn để cải tạo sửa chữa căn nhà cho phù hợp với nhu cầu sử dụng. Việc cải tạo sửa chữa này giữa Công ty A2 và bà B có sự thống nhất và thoả thuận với nhau.
Quá trình giải quyết vụ án Công ty A2 đã có lời khai tại Toà án đề nghị Toà án giải quyết cho Công ty A2 được tiếp tục thực hiện Hợp đồng thuê nhà, trong trường hợp không được tiếp tục thực hiện Hợp đồng thuê nhà thì đề nghị Toà án xem xét và xét xử các bên liên quan để Công ty A2 có thể được bồi thường thoả đáng. Công ty A2 đã nhận được Thông báo của Toà án về việc yêu cầu Công ty A2 nộp đơn yêu cầu độc lập (nếu có) và nộp các tài liệu, chứng cứ kèm theo, nhưng cho đến nay Công ty vẫn chưa nộp được, lý do Công ty chưa nộp được là do phía
Công ty có lý do khách quan. Nay Công ty A2 cũng không có yêu cầu gì và đề nghị Toà án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty A2.
* Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh – Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án:
Từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán đã thực hiện theo đúng trình tự thủ tục tố tụng qui định, tuy nhiên vẫn còn vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án cũng đã thực hiện đúng theo trình tự thủ tục tố tụng qui định.
- Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn là chấp hành đúng pháp luật. Bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Sau khi phân tích nội dung vụ án và đánh giá toàn bộ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua tranh tụng tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Bộ luật tố tụng dân sự, Bộ luật dân sự, Luật các tổ chức tín dụng. Xử:
- + Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về yêu cầu thanh toán khoản tiền nợ gốc, nợ lãi và yêu cầu xử lý tài sản thế chấp.
- + Buộc Công ty Đ2 phải có trách nhiệm thanh toán toàn bộ khoản tiền nợ cho Ngân hàng A tính đến ngày 08/5/2024 tổng cộng cả gốc và lãi là: 78.321.167.085 đồng.
- + Công ty Đ2 tiếp tục phải trả các khoản tiền lãi, phí phát sinh từ ngày 09/5/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
- + Trong trường hợp Công ty Đ2 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi, phí phát sinh thì Ngân hàng A có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 37, tờ bản đồ số 11 tại địa chỉ tổ C, cụm A Q, phường Q, quận T, Thành phố Hà Nội (Nay là số G đường T, phường Q, quận T, Thành phố Hà Nội). Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 542956 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 14/8/2027 mang tên bà Vũ Thị Ngọc B – Sinh năm 1975 – Địa chỉ thường trú: 48 H, phường H, quận H, Thành phố Hà Nội. Theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ của người khác số công chứng 4427/TC/25019 ngày 13/6/2019 lập tại Văn phòng C, đăng ký thế chấp ngày 13/6/2019 tại Văn phòng Đ.
- + Trong trường hợp số tiền thu được từ xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán toàn bộ nghĩa vụ trả nợ của Công ty Đ2 tại Ngân hàng A thì Công ty Đ2 vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng A.
- + Công ty Đ2 phải nộp tiền án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm có giá ngạch theo qui định của pháp luật.
+ Giành quyền khởi kiện đối với Công ty A2 trong vụ án khác liên quan đến Hợp đồng thuê nhà giữa Công ty A2 với bà Vũ Thị Ngọc B khi Công ty A2 có đơn yêu cầu cụ thể và nộp đủ các tài liệu, chứng cứ kèm theo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1]
Ngân hàng A khởi kiện đến Tòa án buộc Công ty Đ2 có địa chỉ trụ sở tại số nhà A, tổ B thị trấn Đ, huyện Đ, Thành phố Hà Nội trả tiền nợ gốc, nợ lãi theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết và các Giấy nhận nợ. Do đó theo qui định tại điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội. Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm là đúng trình tự thủ tục tố tụng.
[1.2]
Ngân hàng A khởi kiện yêu cầu Công ty T3 các khoản tiền nợ căn cứ theo Hợp đồng tín dụng số 3140-LAV-202002556 ngày 28/5/2020 và các Giấy nhận nợ. Mục đích vay bổ sung vốn lưu động phục vụ kế hoạch sản xuất kinh doanh. Do vậy nên căn cứ khoản 1 Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự xác định đây là quan hệ tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” về Kinh doanh thương mại.
[1.3]
Xác định tư cách tham gia tố tụng trong vụ án như sau: Ngân hàng A là người khởi kiện, căn cứ theo khoản 2 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự xác định là Nguyên đơn; Công ty Đ2 là người bị nguyên đơn khởi kiện, căn cứ theo khoản 3 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự xác định là bị đơn; Bà Vũ Thị Ngọc B là thành viên góp vốn của Công ty Đ2 đồng thời là người thế chấp tài sản bảo đảm cho khoản vay của Công ty Đ2, Công ty A2 là người thuê nhà đất thuộc tài sản thế chấp. Nên căn cứ theo khoản 4 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự xác định bà Vũ Thị Ngọc B và Công ty A2 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
[1.4]
Công ty Đ2 là bị đơn không có yêu cầu phản tố. Bà Vũ Thị Ngọc B và Công ty A2 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập. Các đương sự có tên trên đều đã được tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa. Toà án đã niêm yết các văn bản tố tụng theo đúng qui định của pháp luật, nhưng Công ty Đ2, bà Vũ Thị Ngọc B vẫn đều vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai không có lý do. Do vậy nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt Công ty Đ2 và bà Vũ Thị Ngọc B là phù hợp qui định của pháp luật.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1]
Xét yêu cầu trả nợ của nguyên đơn là Ngân hàng A đối với bị đơn là Công ty Đ2 tính đến ngày 08/5/2024, theo Hợp đồng tín dụng số 3140-LAV-202002556 ngày 28/5/2020 và các Giấy nhận nợ tổng dư nợ cả gốc và lãi là: 78.321.167.085 đồng.
[2.1.1] Về khoản tiền nợ gốc:
Xét thấy việc ký kết Hợp đồng tín dụng số 3140-LAV-202002556 ngày 28/5/2020, Phụ lục Hợp đồng tín dụng ngày 16/7/2020, Phụ lục Hợp đồng tín dụng số 02 ngày 21/9/2020, Phụ lục Hợp đồng tín dụng ngày 22/02/2021, Phụ lục Hợp đồng tín dụng ngày 24/6/2021 và các Giấy nhận nợ là hoàn toàn tự nguyện, các bên có đầy đủ hành vi dân sự và đủ tư cách đại diện tham gia ký kết.
Theo Hợp đồng tín dụng số 3140-LAV-202002556 ngày 28/5/2020 các bên thoả thuận hạn mức cấp tín dụng là 80.000.000.000 đồng, tuy nhiên theo Phụ lục Hợp đồng tín dụng ngày 16/7/2020 các bên đã thoả thuận thay đổi hạn mức cấp tín dụng là 58.000.000.000 đồng.
Quá trình thực hiện Hợp đồng, Ngân hàng đã giải ngân cho Công ty Đ2 đầy đủ số tiền gốc vay theo thoả thuận thông qua các Giấy nhận nợ. Hình thức và nội dung Hợp đồng tín dụng, các Phụ lục Hợp đồng, các Giấy nhận nợ đều phù hợp qui định của pháp luật nên có giá trị pháp lý và có hiệu lực thi hành đối với các bên.
Trong quá trình thực hiện Hợp đồng, tính đến ngày 08/5/2024 Công ty Đ2 đã trả được cho Ngân hàng A một phần tiền nợ gốc là 6.610.000.000 đồng. Tính đến ngày 08/5/2024 Công ty Đ2 vẫn còn nợ Ngân hàng A tổng số tiền nợ gốc là 57.365.000.000 đồng theo Hợp đồng tín dụng, các Phụ lục Hợp đồng và các Khế ước nhận nợ nêu trên. Nay Ngân hàng A yêu cầu Công ty T3 khoản tiền nợ gốc như trên là hoàn toàn đúng qui định của pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng A về việc yêu cầu Công ty T3 khoản tiền nợ gốc là 57.365.000.000 đồng cho Ngân hàng A.
[2.1.2] Về khoản tiền nợ lãi:
Số tiền nợ lãi Ngân hàng A yêu cầu Công ty Đ2 còn phải trả tính đến ngày 08/5/2024 theo Hợp đồng tín dụng số 3140-LAV-202002556 ngày 28/5/2020, các Phụ lục Hợp đồng tín dụng và các Giấy nhận nợ với tổng số là 20.956.167.085 đồng, trong đó nợ lãi trong hạn: 2.414.531.584 đồng, nợ lãi quá hạn: 18.541.635.501 đồng.
Tại Hợp đồng tín dụng số 3140-LAV-202002556 ngày 28/5/2020 lãi suất cho vay được thoả thuận tại thời điểm ký kết Hợp đồng là 9%/năm. Áp dụng lãi suất cho vay có điều chỉnh định kỳ tối thiểu 3 tháng/lần phù hợp với quy định của Ngân hàng trong từng thời kỳ. Lãi suất quá hạn bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm quá hạn. Lãi suất áp dụng đối với lãi chậm trả bằng 10%/năm.
Tại Phụ lục Hợp đồng tín dụng ngày 16/7/2020 các bên đã thoả thuận thay đổi về lãi suất cho vay áp dụng với dư nợ gốc trong hạn là 9,3%/năm. Áp dụng lãi suất cho vay có điều chỉnh định kỳ tối thiểu 3 tháng/lần phù hợp với quy định của Ngân hàng trong từng thời kỳ. Lãi suất quá hạn bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm quá hạn. Lãi suất áp dụng đối với lãi chậm trả bằng 10%/năm.
Tại Phụ lục Hợp đồng tín dụng số 02 ngày 21/9/2020 các bên đã thoả thuận thay đổi về lãi suất cho vay áp dụng với dư nợ gốc trong hạn là 8,8%/năm. Áp dụng lãi suất cho vay có điều chỉnh định kỳ tối thiểu 3 tháng/lần phù hợp với quy định của Ngân hàng trong từng thời kỳ. Lãi suất quá hạn bằng 150% mức lãi suất
cho vay trong hạn tại thời điểm quá hạn. Lãi suất áp dụng đối với lãi chậm trả bằng 10%/năm.
Tại các Giấy nhận nợ số 3140-LDS-2020 ngày 20/10/2020; số 3140-LDS-2020 ngày 22/10/2020; số 3140-LDS-2020 ngày 23/10/2020; số 3140-LDS-2020 ngày 17/11/2020; số 3140-LDS-2020 ngày 18/11/2020; số 3140-LDS-2020 ngày 19/11/2020; số 3140-LDS-2020 ngày 20/11/2020; số 3140-LDS-2020 ngày 25/02/2021; số 3140-LDS-2020 ngày 26/02/2021, lãi suất cho vay được các bên thoả thuận là 8,8%/năm, lãi suất nợ quá hạn là 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm quá hạn, lãi suất lãi chậm trả là 10%/năm.
Theo qui định tại Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng thì các bên có quyền tự thỏa thuận với nhau về mức lãi suất trong các Hợp đồng tín dụng và các Giấy nhận nợ, Ngân hàng có quyền qui định về cơ chế xác định phí, lãi suất trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng. Do vậy nên việc các bên thỏa thuận mức lãi suất trong các Hợp đồng tín dụng và các Giấy nhận nợ là đúng qui định của pháp luật.
Đối chiếu với bản sao kê tính lãi và các Thông báo về áp dụng lãi suất cho vay, thì Ngân hàng đã áp dụng mức lãi suất đúng qui định của Ngân hàng A tại các thời điểm ký Hợp đồng tín dụng, Phụ lục Hợp đồng tín dụng và Giấy nhận nợ. Về lãi quá hạn các bên thỏa thuận bằng 150% lãi suất trong hạn là phù hợp với qui định của pháp luật. Đối với lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả bằng 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả là hoàn toàn phù hợp qui định của pháp luật.
Xét các điều khoản trong Hợp đồng tín dụng và cam kết trả nợ trong Hợp đồng tín dụng, các Phụ lục Hợp đồng tín dụng và các Giấy nhận nợ được các bên ký trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có nội dung phù hợp với quy định của pháp luật nên có hiệu lực và ràng buộc các bên thi hành, do đó các bên có nghĩa vụ tuân thủ hợp đồng này. Do vậy Hội đồng xét xử chấp nhận mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và các Giấy nhận nợ giữa Ngân hàng A và Công ty Đ2. Do Công ty Đ2 vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên khoản nợ đã chuyển thành nợ quá hạn. Tại phiên tòa Ngân hàng A yêu cầu Công ty Đ2 phải thanh toán tổng số tiền lãi chưa trả tính đến ngày 08/5/2024 là 20.956.167.085 đồng, trong đó nợ lãi trong hạn: 2.414.531.584 đồng, nợ lãi quá hạn: 18.541.635.501 đồng hoàn toàn có cở sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Công ty Đ2 phải có trách nhiệm thanh toán khoản tiền nợ lãi trên cho nguyên đơn là Ngân hàng A.
Ghi nhận sự tự nguyện không yêu cầu đối với khoản tiền lãi chậm trả lãi của Ngân hàng A đối với Công ty Đ2.
[2.2] Đối với yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm của Ngân hàng A:
[2.2.1]
Theo khoản 3 Điều 8 của Hợp đồng tín dụng số 3140-LAV-202002556 ngày 28/5/2020 quy định: “Nghĩa vụ của khách hàng theo Hợp đồng này được bảo đảm bằng các biện pháp bảo đảm tại các Hợp đồng bảo đảm cụ thể như sau:
- + Hợp đồng thế chấp số: 4427/TC/2019 ngày 13/6/2019
- + Hợp đồng thế chấp số: 15958/HĐTC/2019 ngày 30/12/2019
- + Hợp đồng thế chấp số: 15959/HĐTC/2019 ngày 30/12/2019
- + Hợp đồng thế chấp số: 15960/HĐTC/2019 ngày 30/12/2019
- + Hợp đồng thế chấp số: 15962/HĐTC/2019 ngày 30/12/2019
- + Hợp đồng thế chấp số: 15963/HĐTC/2019 ngày 30/12/2019"
Theo Điều 3 của Phụ lục Hợp đồng tín dụng ngày 16/7/2020 quy định: “Sửa đổi bổ sung khoản 3 Điều 8 của Hợp đồng tín dụng số 3140-LAV-202002556 ngày 28/5/2020 như sau: Nghĩa vụ của khách hàng theo Hợp đồng này được bảo đảm bằng các biện pháp bảo đảm tại các Hợp đồng bảo đảm cụ thể như sau:
- + Hợp đồng thế chấp số: 4427/TC/2019 ngày 13/6/2019"
[2.2.2]
Xét Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ của người khác số công chứng 4427/TC/2019 ngày 13/6/2019 giữa bên nhận thế chấp là Ngân hàng N1 – Chi nhánh Đ1 với bên thế chấp là bà Vũ Thị Ngọc B. Hợp đồng thế chấp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Công ty Đ2 tại Ngân hàng A. Hợp đồng thế chấp nêu trên đều được ký kết trên cơ sở tự nguyện giữa các bên, không bị lừa dối, không bị ép buộc, các bên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, Hợp đồng được lập thành văn bản, được công chứng, chứng thực hợp pháp, được đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại Văn phòng Đ theo đúng quy định của pháp luật, nên Hợp đồng thế chấp trên có giá trị pháp lý và có hiệu lực thi hành giữa các bên.
Tại Điều 1 của Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ của người khác số công chứng 4427/TC/25019 ngày 13/6/2019 quy định tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất thửa đất số 37, tờ bản đồ số 11, địa chỉ: tổ C cụm A Q, phường Q, quận T, Thành phố Hà Nội (Nay là số G đường T, phường Q, quận T, Thành phố Hà Nội), diện tích 250m2. Hình thức sử dụng: Sử dụng riêng. Mục đích sử dụng: Đất ở: 127m2, đất vườn: 123m2. Thời hạn sử dụng lâu dài. Nguồn gốc sử dụng: Nhận chuyển nhượng đất được công nhận quyền sử dụng đất như giao đất có thu tiền sử dụng đất: 127m2; Nhận chuyển nhượng đất được công nhận quyền sử dụng đất như giao đất không thu tiền sử dụng đất: 123m2. Tài sản gắn liền với đất là nhà ở: Loại nhà ở riêng lẻ, diện tích xây dựng 127m2, diện tích sàn 200m2, hình thức sở hữu riêng, nhà cấp 3.
Tại Điều 3 của Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ của người khác số công chứng 4427/TC/25019 ngày 13/6/2019 quy định bên B là bên thế chấp tự nguyện đem tài sản nêu trên thế chấp cho bên A là bên nhận thế chấp để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ của Công ty TNHH Đ2 (Nay là Công ty TNHH Đ2) tại các Hợp đồng cấp tín dụng được ký giữa bên A là bên nhận thế chấp với bên vay, bao gồm nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn, các khoản phí và chi phí phát sinh khác liên quan, trong đó có số tiền gốc là 75.000.000.000 đồng.
Tại Điều 5 của Hợp đồng thế chấp quy định về xử lý tài sản: “5.1. Bên A là bên nhận thế chấp được xử lý tài sản trong các trường hợp sau:
5.1.1) Đến hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên vay không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ”
[2.2.3]
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xác định tài sản thế chấp để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ của Công ty Đ2 tại Ngân hàng A là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 37, tờ bản đồ số 11, có địa chỉ tại tổ C cụm A Q,
phường Q, quận T, Thành phố Hà Nội (Nay là số G đường T, phường Q, quận T, Thành phố Hà Nội). Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 542956 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 14/8/2017 mang tên bà Vũ Thị Ngọc B – Sinh năm 1975 – Địa chỉ thường trú: 48 H, phường H, quận H, Thành phố Hà Nội. Theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ của người khác số công chứng 4427/TC/25019 ngày 13/6/2019 lập tại Văn phòng C, đăng ký thế chấp ngày 13/6/2019 tại Văn phòng Đ.
Trong trường hợp Công ty Đ2 vi phạm nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng A có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo qui định của pháp luật để thu hồi nợ cho Ngân hàng.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm của Ngân hàng A đối với Công ty Đ2 và bà Vũ Thị Ngọc B.
[2.2.4]
Theo điểm 5.3.6 khoản 5.3 Điều 5 của Hợp đồng thế chấp quy định về xử lý tài sản thì số tiền thu được từ việc bán/chuyển nhượng tài sản sau khi trừ đi các chi phí cho việc bán/chuyển nhượng tài sản, các khoản phải nộp cho Nhà nước (nếu có), sẽ dùng để thanh toán các nghĩa vụ của bên B (bên thế chấp) cho bên A (bên nhận thế chấp); phần còn dư lại sẽ trả lại cho bên B; nếu còn thiếu thì bên B có trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ đối với bên A.
Việc Ngân hàng A khởi kiện yêu cầu nếu trong trường hợp số tiền thu được từ xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán toàn bộ nghĩa vụ trả nợ của Công ty Đ2 thì Công ty Đ2 vẫn phải có nghĩa vụ tiếp tục trả nợ cho Ngân hàng số tiền nợ còn thiếu cũng hoàn toàn phù hợp quy định của pháp luật.
Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng A về việc trường hợp sau khi xử lý tài sản thế chấp không đủ để thanh toán toàn bộ khoản nợ của Công ty Đ2 tại Ngân hàng, thì Công ty Đ2 vẫn phải có trách nhiệm tiếp tục thanh toán số tiền còn lại cho Ngân hàng A.
[2.2.5]
Quá trình xem xét thẩm định tại chỗ: Tòa án đã thành lập Hội đồng xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất thửa đất số 37, tờ bản đồ số 11, địa chỉ: Tổ C cụm A Q, phường Q, quận T, Thành phố Hà Nội (Nay là số G đường T, phường Q, quận T, Thành phố Hà Nội). Tuy nhiên chủ tài sản thế chấp là bà Vũ Thị Ngọc B mặc dù đã được tống đạt hợp lệ Quyết định xem xét thẩm định tại chỗ nhưng bà B vẫn vắng mặt. Công ty A2 là đơn vị hiện đang thuê và quản lý nhà đất trên của bà Vũ Thị Ngọc B để kinh doanh không đồng ý cho Hội đồng xem xét thẩm định tại chỗ tiến hành đo đạc thửa đất, nên việc đo đạc không thực hiện được mà chỉ tiến hành mô tả tài sản thế chấp như sau:
- - Về đất: Vị trí đất nằm trong khu dân cư; Có tứ cận: Phía Bắc, phía Tây và phía Nam đều giáp các thửa đất của hộ khác. Phía Đông giáp đường.
- - Về tài sản trên đất: 01 nhà 4 tầng do bà B xây dựng (01 tum). Theo trình bày của đại diện Công ty A2 thì Công ty A2 đã thực hiện việc cải tạo, sửa chữa tại tầng 1 để phục vụ kinh doanh; Sân lát gạch tráng men; T1 bê tông và tường ốp đá; Cổng sắt.
[3]
Đối với lời khai của Công ty A2 về việc “Công ty A2 đề nghị Toà án nhân dân huyện Đông Anh giải quyết cho Công ty A2 được tiếp tục thực hiện Hợp đồng thuê bất động sản ADI/HAN/TNV01 giữa Công ty A2 với bà B trong bất kỳ trường hợp nào khi giải quyết yêu cầu của nguyên đơn.
Với việc đầu tư hơn 5 tỷ đồng để cải tạo toàn bộ toà nhà, lắp đặt thi công trang thiết bị y tế và sinh hoạt, kinh doanh, Công ty A2 muốn được tiếp tục thuê căn nhà này theo Hợp đồng hiện tại để ổn định kinh doanh và đóng góp nhiều giá trị hơn cho xã hội. Ngoài ra trong trường hợp bên Ngân hàng thắng vụ kiện, Công ty A2 hy vọng có thể đàm phán đôi bên để cũng đưa ra phương án hợp lý về việc tiếp tục Hợp đồng thuê. Trong trường hợp bà B không thể giải quyết được vụ án tranh chấp và đơn phương kết thúc Hợp đồng thuê, cũng như bên Ngân hàng thắng kiện nhưng không đồng ý cho bên Công ty A2 tiếp tục thuê căn nhà, Công ty A2 kính mong Toà án xem xét và xét xử các bên liên quan để Công ty A2 có thể được bồi thường một cách thoả đáng và đúng pháp luật, đồng thời được xem xét quyền lợi chính đáng dựa trên Hợp đồng thuê nhà.”
Quá trình giải quyết vụ án Toà án đã nhiều lần ban hành Thông báo yêu cầu Công ty A2 thực hiện nghĩa vụ tố tụng, làm đơn yêu cầu độc lập, nộp tiền tạm ứng án phí với yêu cầu độc lập và Thông báo yêu cầu giao nộp chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình đối với Công ty A2. Tuy nhiên Công ty A2 vẫn không thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự.
Do vậy nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này và giành quyền khởi kiện của Công ty A2 liên quan đến Hợp đồng thuê bất động sản ADI/HAN/TNV01 ngày 29/12/2020, giữa Công ty A2 và bà Vũ Thị Ngọc B trong một vụ án khác khi Công ty A2 có đơn yêu cầu cụ thể và nộp đầy đủ các tài liệu, chứng cứ kèm theo.
[4]
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa hoàn toàn có căn cứ và phù hợp các qui định của pháp luật.
[5] Về án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm:
Công ty Đ2 phải trả tổng số tiền nợ cho Ngân hàng A tính đến ngày 08/5/2024 là 78.321.167.085 đồng (Bẩy mươi tám tỷ, ba trăm hai mươi mốt triệu, một trăm sáu mươi bẩy nghìn, không trăm tám mươi lăm đồng).
Theo qui định tại điểm b khoản 1 Điều 24; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qui định về án phí, lệ phí Tòa án, điểm e khoản 1.4 Điều 1 Mục II Danh mục án phí ban hành kèm theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.
Công ty Đ2 phải chịu án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm với mức thu là (112.000.000 đồng + 0,1% của phần giá trị tranh chấp vượt quá 4.000.000.000 đồng) là 186.321.167 đồng (Một trăm tám mươi sáu triệu, ba trăm hai mươi mốt nghìn, một trăm sáu mươi bẩy đồng).
Ngân hàng N1 (A) được hoàn trả số tiền 84.100.000 đồng (Tám mươi tư triệu, một trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số
AA/2020/0047414 ngày 05/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh.
[6] Về quyền kháng cáo:
Các đương sự đều có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng:
- - Điều 30, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Điều 317, Điều 318, Điều 320, Điều 321, Điều 322, Điều 323, Điều 351, Điều 357, Điều 466 của Bộ luật dân sự.
- - Điều 91, Điều 95, Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng.
- - Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số qui định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
- - Điểm b khoản 1 Điều 24; khoản 2 Điều 26; điểm e khoản 1.4 Điều 1 Mục II Danh mục án phí ban hành kèm theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 qui định về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N1 đối với Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ2 (Trước đây là Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ2).
2. Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ2 phải thanh toán cho Ngân hàng N1 số tiền nợ theo Hợp đồng tín dụng số 3140-LAV-202002556 ngày 28/5/2020, các Phụ lục Hợp đồng tín dụng và các Giấy nhận nợ tính đến ngày 08/5/2024 tổng số là 78.321.167.085 đồng (Bẩy mươi tám tỷ, ba trăm hai mươi mốt triệu, một trăm sáu mươi bẩy nghìn, không trăm tám mươi lăm đồng). Trong đó:
- + Nợ gốc: 57.365.000.000 đồng (Năm mươi bẩy tỷ, ba trăm sáu mươi lăm triệu đồng).
- + Nợ lãi trong hạn: 2.414.531.584 đồng (Hai tỷ, bốn trăm mười bốn triệu, năm trăm ba mươi mốt nghìn, năm trăm tám mươi tư đồng).
- + Nợ lãi quá hạn: 18.541.635.501 đồng (Mười tám tỷ, năm trăm bốn mươi mốt triệu, sáu trăm ba mươi lăm nghìn, năm trăm linh một đồng).
3. Kể từ ngày 09/5/2024, hàng tháng Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ2 còn phải chịu khoản tiền lãi trên số nợ gốc chưa trả theo mức lãi suất các bên thỏa thuận ký trong Hợp đồng tín dụng, các Phụ lục Hợp đồng và các Giấy nhận nợ nêu trên với Ngân hàng N1 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
4. Trong trường hợp Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ2 không trả hoặc trả không đầy đủ số tiền còn nợ thì Ngân hàng N1 có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho Ngân hàng, cụ thể là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 37, tờ bản đồ số 11, có địa chỉ tại tổ C cụm A Q, phường Q, quận T, Thành
phố Hà Nội (Nay là số G đường T, phường Q, quận T, Thành phố Hà Nội). Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 542956 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 14/8/2017 mang tên bà Vũ Thị Ngọc B – Sinh năm 1975 – Địa chỉ thường trú: 48 H, phường H, quận H, Thành phố Hà Nội. Theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ của người khác số công chứng 4427/TC/25019 ngày 13/6/2019 lập tại Văn phòng C, đăng ký thế chấp ngày 13/6/2019 tại Văn phòng Đ.
5. Trường hợp sau khi xử lý tài sản thế chấp mà không đủ để trả nợ cho Ngân hàng N1 thì Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ2 phải có trách nhiệm tiếp tục thanh toán số tiền còn lại cho Ngân hàng N1.
6. Giành quyền khởi kiện của Công ty trách nhiệm hữu hạn A1 liên quan đến Hợp đồng thuê bất động sản ADI/HAN/TNV01 ngày 29/12/2020, giữa Công ty trách nhiệm hữu hạn A1 và bà Vũ Thị Ngọc B trong một vụ án khác khi Công ty trách nhiệm hữu hạn A1 có đơn yêu cầu cụ thể và nộp đầy đủ các tài liệu, chứng cứ kèm theo.
7. Án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm:
7.1. Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ2 phải nộp án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm là 186.321.167 đồng (Một trăm tám mươi sáu triệu, ba trăm hai mươi mốt nghìn, một trăm sáu mươi bẩy đồng).
7.2. Ngân hàng N1 được hoàn trả số tiền 84.100.000 đồng (Tám mươi tư triệu, một trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số AA/2020/0047414 ngày 05/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh.
8. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
9. Ngân hàng N1, Công ty trách nhiệm hữu hạn A1 có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ2, bà Vũ Thị Ngọc B có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo qui định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Phạm Thị Thu Huyền |
Bản án số 23/2024/KDTM-ST ngày 08/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hđtd
- Số bản án: 23/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp HĐTD
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/05/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng N khởi kiện Công ty TNHH Đ2
