|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 23/2024/HNGĐ-ST Ngày 07 - 8 - 2024 V/v: "Không công nhận vợ chồng" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thủy Khơi, bà Nguyễn Thị Tin.
Thư ký phiên tòa: Ông Mông Anh Tuấn – Thư ký, Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Mạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 224/2023/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 12 năm 2023 về việc “Không công nhận vợ chồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2024/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Phạm Trí C, sinh năm 1971 (vắng mặt)
Bị đơn: Chị Hoàng Thị G, sinh năm 1973 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn anh Phạm Trí C trình bày:
Anh và chị Hoàng Thị G chung sống với nhau từ năm 1990 trên tinh thần tự nguyện, được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương nhưng không đăng ký kết hôn. Sau ngày cưới anh và chị G chung sống cùng nhau tại thôn P, xã T, huyện Y. Tình cảm hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2021 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm về tình cảm, anh nghi ngờ chị G có quan hệ bất hợp pháp với người khác. Mặt khác giữa hai bên không có tiếng nói chung trong việc làm ăn, phát triển kinh tế gia đình nên thường xuyên xảy ra cãi vã, to tiếng với nhau. Chị G chuyển ra ngoài sống ly thân với anh từ năm 2021 đến nay, hiện tại anh và chị G không quan hệ tình cảm, quan tâm, giúp đỡ gì nhau nữa. Do thời gian ly thân đã lâu, không còn khả năng đoàn tụ nên anh đề nghị Tòa án giải quyết không công nhận vợ chồng giữa anh và chị Hoàng Thị G.
Về con chung: Anh và chị Hoàng Thị G sinh được hai con chung là Phạm Chí T, sinh năm 1992 và Phạm Trí H, sinh năm 1994. Hiện nay các con đều đã trưởng thành, có cuộc sống riêng nên anh không đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết về vấn đề con chung.
Về tài sản, công nợ chung: Anh và chị Hoàng Thị G tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn là chị Hoàng Thị G:
Quá trình giải quyết vụ án, ngày 10/01/2024 Tòa án đã tống đạt trực tiếp Thông báo về việc thụ lý vụ án cho chị G. Tuy vậy, hết thời hạn 15 ngày ấn định theo Thông báo thụ lý vụ án, Tòa án không nhận được văn bản ghi ý kiến của chị G đối với yêu cầu khởi kiện của anh C.
Tại biên bản xác minh ngày 26/3/2024 tại Công an xã T xác định: Chị Hoàng Thị G, sinh năm 1973, căn cước công dân số [...] hiện vẫn đăng ký thường trú tại thôn P, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; không có thông tin về việc chị Hoàng Thị G đang tạm trú, cư trú tại địa chỉ nào khác.
Ngày 15/02/2024 và ngày 01/3/2024 Tòa án tiến hành niêm yết công khai Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đối với chị Hoàng Thị G theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hết thời hạn niêm yết công khai, chị G không đến Tòa án làm việc, không gửi văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Trí C. Do vậy Tòa án không thu thập được lời khai của chị Hoàng Thị G.
Ngày 26/6/2024 Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án lần thứ nhất nhưng đã hoãn phiên tòa vì chị G vắng mặt. Tại phiên tòa hôm nay chị G vẫn tiếp tục vắng mặt không lý do.
Anh Phạm Trí C vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh C vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, phát biểu ý kiến:
Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi mở phiên tòa, Thẩm phán và Thư ký tòa án đã tuân theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về phía các đương sự, nguyên đơn là anh Phạm Trí C đã chấp hành đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn là chị Hoàng Thị G không cung cấp văn bản ghi ý kiến, vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, vắng mặt tại phiên tòa không lý do là chưa thực hiện đúng nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 14, 53 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147; 271; 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
- - Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận anh Phạm Trí C và chị Hoàng Thị G là vợ chồng.
- - Về án phí: Anh Phạm Trí C phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh C đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp:
Anh Phạm Trí C có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết không công nhận vợ chồng với chị Hoàng Thị G. Do vậy xác định quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là "Ly hôn" theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án:
Nguyên đơn, bị đơn đều có địa chỉ cư trú tại thôn P, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng là cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp.
[3] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng tại phiên tòa:
Nguyên đơn là anh Phạm Trí C vắng mặt tại phiên tòa nhưng anh C đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do vậy căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh C.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai các thủ tục tố tụng đối với bị đơn là chị Hoàng Thị G theo đúng quy định tại Điều 179 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Ngày 22/7/2024 Hội đồng xét xử sơ thẩm hoãn phiên tòa lần thứ nhất vì chị G vắng mặt không lý do.
Căn cứ biên bản xác minh với chính quyền địa phương thể hiện chị Hoàng Thị G là người vẫn thường xuyên cư trú tại thôn P, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Mặt khác, chị G đã được nhận trực tiếp Thông báo về việc thụ lý vụ án nên chị hoàn toàn biết việc Tòa án đang giải quyết yêu cầu ly hôn của anh Phạm Trí C đối với chị. Xét thấy việc chị Hoàng Thị G vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa là cố ý trốn tránh, giấu địa chỉ, gây khó khăn cho anh C trong việc xin ly hôn, nhằm làm kéo dài thời gian giải quyết vụ án. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Anh Phạm Trí C và chị Hoàng Thị G chung sống với nhau từ tháng 10 năm 1990, trước đó hai bên có được tự do tìm hiểu, được gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương nhưng không đăng ký kết hôn.
Căn cứ biên bản xác minh ngày 07/3/2024 tại UBND xã T, huyện Y, phía địa phương cho biết như sau: “UBND xã T không lưu trữ được sổ đăng ký kết hôn từ năm 1996 trở về trước. Từ năm 1997 đến nay, không có trường hợp nào đăng ký kết hôn tên là Phạm Trí C và Hoàng Thị G”.
Căn cứ vào lời khai của phía nguyên đơn về việc giữa anh C và chị G không đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền; căn cứ vào tài liệu, chứng cứ là biên bản xác minh tại địa phương. Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa anh Phạm Trí C và chị Hoàng Thị G là không hợp pháp, không được cơ quan có thẩm quyền chứng nhận theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Nhưng việc anh C – chị G có tổ chức hôn lễ theo phong tục địa phương và chung sống với nhau từ tháng 10 năm 1990 đến khi xảy ra mâu thuẫn là sự kiện có thật, vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc từ đó đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do không hòa hợp, không quan tâm, chăm sóc nhau. Nhiều năm nay anh C – chị G đã sống ly thân, chấm dứt mọi quan hệ tình cảm với nhau từ 2021. Hội đồng xét xử xét thấy thời gian anh C – chị G ly thân đã lâu, chứng tỏ tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã rất trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, tuy nhiên do anh C – chị G không đăng ký kết hôn nên cần phải áp dụng Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để xử “Không công nhận anh Phạm Trí C và chị Hoàng Thị G là vợ chồng" là phù hợp quy định tại Điều 14, Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[5] Về con chung: Anh Phạm Trí C và chị Hoàng Thị G có hai con chung là Phạm Chí T, sinh năm 1992 và Phạm Trí H, sinh năm 1994. Hiện nay các con đều đã trưởng thành, anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết về vấn đề con chung, do vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[6] Về tài sản, công nợ chung, ruộng canh tác: Đương sự tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[7] Về án phí: Nguyên đơn là anh Phạm Trí C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[8] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 9; Điều 14; Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Trí C:
- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận anh Phạm Trí C và chị Hoàng Thị G là vợ chồng.
- Về án phí: Anh Phạm Trí C chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng anh C đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0005165 ngày 28 tháng 12 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Xác nhận anh Phạm Trí C đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thái Sơn |
Bản án số 23/2024/HNGĐ-ST ngày 07/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG về không công nhận vợ chồng
- Số bản án: 23/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Không công nhận vợ chồng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Phạm Trí Ch
