|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY TỈNH QUẢNG BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 23/2024/HNGĐ-ST Ngày: 07 - 8 - 2024 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hải;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hồng Minh và ông Lê Ngọc Thành;
Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Tuyết Mai - Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.
Trong ngày 07 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình mở phiên tòa xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số 48/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2024/QĐST – HNGĐ ngày 16/7/2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị K, sinh năm 1992;
Địa chỉ: Thôn T, xã D, huyện L, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
2. Bị đơn: Anh Ngô Tuấn Đ, sinh năm 1991; Đã bị tuyên bố mất tích theo Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích số 01/2024/QĐST-VDS ngày 16/4/2024.
Địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Thôn T, xã D, huyện L, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn chị Nguyễn Thị K trong đơn khởi kiện đề ngày 07/5/2024, bản tự khai ngày 14/6/2024 và tại phiên tòa trình bày: Chị Nguyễn Thị K và anh Ngô Tuấn Đ kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện L, tỉnh Quảng Bình vào ngày 31/3/2011. Sau kết hôn vợ chồng chung sống cùng với bố mẹ chồng anh Ngô Tuấn Đ tại thôn T, xã D, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Hai vợ chồng chung sống hạnh phúc trong khoảng thời gian 05 năm và có với nhau 02 đứa con. Đến năm 2016 thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do anh Ngô Tuấn Đ ngoại tình. Từ đó vợ chồng rạn nứt tình cảm và anh Đ đã bỏ nhà ra đi làm ăn xa từ đó đến nay không có tung tích gì. Chị K đã làm đơn yêu cầu tuyên bố mất tích đối với anh Đ, Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy đã ra quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích số 01/2024/QĐST-VDS đối với anh Ngô Tuấn Đ ngày 16/4/2024. Chị Nguyễn Thị K xác định hiện tại
tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu được ly hôn anh Ngô Tuấn Đ.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Ngô Nhật K1, sinh ngày 28/9/2011 và Ngô Nguyễn Thiện N, sinh ngày 29/01/2016. Hiện các con đang ở với chị K, do anh Đ mất tích nên chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con và không đặt vấn đề cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
* Bị đơn anh Ngô Tuấn Đ đã bị Tòa án tuyên bố mất tích theo Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích số 01/2024/QĐST-VDS ngày 16/4/2024. Do đó, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án không thể lấy lời khai và tiến hành hòa giải được. Tòa án căn cứ vào tài liệu do nguyên đơn cung cấp và các căn cứ theo quy định của pháp luật để xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị K xin ly hôn anh Ngô Tuấn Đ là tranh chấp về hôn nhân và gia đình về ly hôn, tranh chấp nuôi con, được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình thụ lý giải quyết là đúng quy định của pháp luật.
[2] Việc vắng mặt của bị đơn: Do anh Ngô Tuấn Đ đã bị Tòa án tuyên bố mất tích, nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định. Căn cứ khoản 2 Điều 207, Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[3] Về hôn nhân: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và trình bày của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa thì chị Nguyễn Thị K và anh Ngô Tuấn Đ kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện L, tỉnh Quảng Bình vào ngày 31/3/2011, nên hôn nhân của chị Nguyễn Thị K và anh Ngô Tuấn Đ là hợp pháp.
[4] Về mâu thuẫn: Theo trình bày của nguyên đơn chị Nguyễn Thị K trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, thì sau kết hôn vợ chồng chung sống cùng với bố mẹ chồng tại thôn T, xã D, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Hai vợ chồng chung sống hạnh phúc trong khoảng thời gian 05 năm và có với nhau 02 đứa con. Đến năm 2016 thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do anh Ngô Tuấn Đ ngoại tình. Từ đó, vợ chồng rạn nứt tình cảm và anh Đ đã bỏ nhà ra đi làm ăn xa từ đó đến nay không có tung tích gì. Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị K xác định tình cảm vợ chồng không còn, yêu cầu được ly hôn anh Ngô Tuấn Đ.
[5] Qua xem xét, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị K và anh Ngô Tuấn Đ xảy ra trong một thời dài không thể hàn gắn được, nguyên nhân theo chị Nguyễn Thị K là do anh Ngô Tuấn Đ ngoại tình, sau đó bỏ nhà ra đi từ đó không về. Việc anh Đ bỏ đi khỏi địa phương mà không cho chị K biết là đi đâu, cũng không cung cấp địa chỉ hoặc liên lạc thông tin với chị K và gia đình, chứng tỏ anh Đ đã không còn quan tâm và mưu cầu xây dựng hạnh phúc gia đình. Hai vợ chồng đã sống ly thân kể từ 2016 cho đến nay chứng tỏ mâu thuẫn đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Ngày 16/4/2024, Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình đã tuyên bố mất tích đối với anh Ngô Tuấn Đ, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và cho đến nay vẫn không có tin tức gì về anh Đ. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị K, xử cho chị Nguyễn Thị K ly hôn anh Ngô Tuấn Đ là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
[6] Về nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị K và anh Ngô Tuấn Đ có 02 con chung là Ngô Nhật K1, sinh ngày 28/9/2011 và Ngô Nguyễn Thiện N, sinh ngày 29/01/2016, hiện tại các cháu đang ở với chị K để tiện cho việc ăn học và đi lại. Chị Nguyễn Thị K nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai con Ngô Nhật K1 và Ngô Nguyễn Thiện N, không yêu cầu anh Ngô Tuấn Đ cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, cháu Ngô Nhật K1 và cháu Ngô Nguyễn Thiện N đều có nguyện vọng được sống cùng với mẹ (Theo Biên bản ghi nhận ý kiến của của con ngày 14/6/2024). Tại phiên tòa, chị K đã chứng minh về mức thu nhập của mình, có đủ khả năng để nuôi dưỡng con, nên không cần anh Đ phải cấp dưỡng cho con. Xét thấy: Việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là nghĩa vụ của cả bố mẹ, tuy nhiên hiện nay anh Đ đã bỏ đi khỏi địa phương và bị Tòa án tuyên bố mất tích do đó không thể thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với con chung. Vì vậy, giao cháu Ngô Nhật K1 và Ngô Nguyễn Thiện N cho chị K là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi các cháu tròn 18 tuổi hoặc có Bản án, quyết định khác thay thế và không đặt vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[6] Về tài sản chung, nợ chung: Theo chị Nguyễn Thị K trình bày thì trong thời gian chung sống chị K và anh Đ không có tài sản chung và nợ chung, chị K không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị K phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51, khoản 2 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 207, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 264, Điều 266 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kiều.
- Xử cho chị Nguyễn Thị K ly hôn anh Ngô Tuấn Đ.
- Giao con chung Ngô Nhật K1, sinh ngày 28/9/2011 và Ngô Nguyễn Thiện N, sinh ngày 29/01/2016 cho chị Nguyễn Thị K trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi các con tròn 18 tuổi hoặc có Bản án (Quyết định) khác thay thế; anh Ngô Tuấn Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.
Anh Ngô Tuấn Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở.
Sau này, vì quyền lợi của con chung, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con chung.
- Án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị K phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình theo biên lai 0004377 ngày 07/5/2024 (chị Nguyễn Thị K đã nộp đủ án phí). Bị đơn anh Ngô Tuấn Đ không phải chịu án phí.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị K có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 07/8/2024); bị đơn anh Ngô Tuấn Đ vắng mặt tại phiên tòa, đã bị tuyên bố mất tích có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử phúc thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thanh Hải |
Bản án số 23/2024/HNGĐ-ST ngày 07/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 23/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn
