Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2024/DS-ST

Ngày 07 - 5 - 2024

“V/v tranh chấp hợp đồng cầm

cố tài sản, đòi tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐÓC, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Đại Nam.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Văn Tâm, bà Võ Thị Thanh Phương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc tham gia phiên toà: Bà Huỳnh Thị Bích Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 5 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 214/2023/TLST-DS ngày 23 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2024/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 55/2024/QÐST-DS ngày 19 tháng 4 năm 2024 giữa:

- Nguyên đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn S (nay là Công ty Cổ phần S1 Có Ngay), trụ sở: số A N, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An.

Người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn: Ông Prart J, chức vụ: Giám Đốc.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1993; nơi cư trú: tổ A, ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang, có mặt.

- Bị đơn: Ông Lý Văn P, sinh năm 1993; nơi cư trú: tổ A, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn S (nay là Công ty Cổ phần S1 Có Ngay), sau đây viết tắt là Công ty S1 Có Ngay trình bày:

Ngày 30/7/2022, ông Lý Văn P có cầm cố 1 xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu Honda, loại Vario, biển số xe 67E1-393.91 cho Công ty S – Chi nhánh C theo hợp đồng cầm cố và giấy mượn xe ký ngày 30/7/2022, số tiền 20.900.000 đồng, mục đích cầm cố là phục vụ tiêu dùng cá nhân và kinh doanh, thời gian 18 tháng, lãi suất là 1,1%/tháng, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, phí quản lý hồ sơ là 0,5%/tháng, phí quản lý hồ sơ và hao mòn tài sản khi mượn tài sản là 438.900 đồng, thỏa thuận thời gian mượn xe là 01 tháng từ ngày 30/7/2022 đến ngày 30/8/2022. Quá trình thực hiện hợp, ông P chỉ mới thanh toán cho Công ty số tiền 8.973.000 đồng (trong đó tiền vốn gốc là 5.224.331 đồng, lãi 1.036.482 đồng, phí 2.712.187 đồng). Công ty đã nhiều lần làm việc và gửi thông báo nhắc nhở để ông P trả nợ nhưng ông P vẫn không thực hiện.

Do đó, Công ty khởi kiện yêu cầu ông P phải thực hiện nghĩa vụ trả lại chiếc xe nhãn hiệu Honda, loại Vario, biển số xe 67E1-393.91. Trong trường hợp ông P không trả lại xe, ông P phải thanh toán cho Công ty số tiền tạm tính đến 13/09/2023 là 22.322.777 đồng (trong đó tiền vốn gốc là 15.675.669 đồng, tiền lãi trong hạn là 1.447.171 đồng, tiền lãi quá hạn là 738.585 đồng, tiền phí bảo dưỡng và hao mòn khi mượn xe là 3.759.910 đồng, phí quản lý hồ sơ là 671.141 đồng), yêu cầu tiếp tục tính lãi suất, phí phát sinh theo hợp đồng cầm cố và giấy mượn xe kể từ ngày 13/9/2023 cho đến khi thanh toán xong.

Tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện do nguyên đơn cung cấp gồm: Hợp đồng cầm cố tài sản và phụ lục hợp đồng cầm cố ngày 30/7/2022; Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy; Giấy mượn xe ngày 30/7/2022; Phiếu yêu cầu đăng ký biện pháp bảo đảm hợp đồng; Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên; Điều lệ công ty; Văn bản chứng nhận đăng ký biện pháp bảo đảm, hợp đồng.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải giữa các đương sự nhưng ông P vắng mặt nhiều lần nên không hòa giải được.

Tại phiên tòa,

- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, bà Nguyễn Thị L yêu cầu ông P có trách nhiệm thanh toán cho Công ty số tiền tính đến ngày 06/5/2024 là 28.426.735 đồng (trong đó tiền gốc 15.675.669 đồng, tiền lãi 2.883.639 đồng, lãi quá hạn 1.416.819 đồng, phí bảo dưỡng và hao mòn khi mượn xe 7.212.590 đồng, phí quản lý hồ sơ 1.2888.018 đồng). Rút lại yêu cầu đòi tài sản là 01 xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu Honda, loại Vario, biển số xe 67E1-393.91, trường hợp ông P không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán thì Công ty có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm theo hợp đồng cầm cố để thu hồi nợ. Ngoài ra, bà L xác định đã cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án, không có tài liệu, chứng cứ khác để cung cấp bổ sung.

- Ý kiến của Kiểm sát viên:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa:

Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Xác định thẩm quyền thụ lý, tư cách pháp lý của các đương sự, thu thập tài liệu, chứng cứ để làm căn cứ giải quyết vụ án và lập hồ sơ đúng theo quy định tại các Điều 195, 196, 198 và Điều 203, 208 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Đối với việc tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp hợp đồng cầm cố là đúng theo quy định tại Điều 309 Bộ luật Dân sự năm 2015 nhưng chưa đầy đủ, bởi nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ông P phải trả lại xe đã mượn; trường hợp ông P không trả lại xe thì yêu cầu thanh toán cho Công ty số tiền phát sinh theo hợp đồng cầm cố nên cần bổ sung quan hệ pháp luật đòi tài sản theo quy định tại Điều 166 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Về giải quyết vụ án:

Xét thấy, thỏa thuận cầm cố tài sản và mượn tài sản được xác lập giữa đôi bên trên cơ sở tự nguyện, nội dung không trái quy định pháp luật, đạo đức xã hội, các bên tham gia đều có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên. Quá trình thực hiện hợp đồng, phía ông P vi phạm nghĩa vụ, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của Công ty. Cho nên, Công ty khởi kiện yêu cầu ông P trả một lần số tiền vốn và lãi còn nợ 21.214.145 đồng (trong đó, nợ gốc 15.675.669 đồng; tiền lãi trong hạn là 2.833.639 đồng; tiền lãi quá hạn là 1.416.819 đồng; phí quản lý hồ sơ là 1.288.018 đồng) tính đến ngày 07/5/2024 là có căn cứ.

Riêng việc Công ty yêu cầu ông P trả tiền phí bảo dưỡng và hao mòn khi mượn xe. Nhận thấy, tuy đôi bên có thỏa thuận trong nội dung phụ lục hợp đồng cầm cố là bên cầm cố tài sản (ông P) đồng ý cho Công ty có quyền được cho thuê, cho mượn, khai thác công dụng tài sản cầm cố và hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản cầm cố và không hoàn trả hoa lợi, lợi tức cho khách hàng khi hợp đồng chấm dứt. Nhưng xét thấy khoản phí “bảo dưỡng và hao mòn khi mượn xe” không phải là hoa lợi, lợi tức cũng không phải có được từ việc khai thác công dụng của tài sản và người chịu thiệt hại trực tiếp từ việc tài sản bị hao mòn là chủ sở hữu (ông P), hơn nữa đây không phải là khoản tiền bù đắp hao hụt khi xử lý tài sản cầm cố không đủ thực hiện nghĩa vụ, bởi khi ông P không trả hoặc trả không đủ số nợ thì Công ty được quyền yêu cầu xử lý tài khác ngoài chiếc xe đã cầm cố theo quy định pháp luật thi hành án. Cho nên, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu của Công ty đối với khoản phí bảo dưỡng và hao mòn xe là 7.212.590 đồng.

Khi bản án có hiệu lực pháp luật, ông P không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Công ty có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm theo hợp đồng cầm cố để thu hồi nợ.

Đối với việc Công ty khởi kiện yêu cầu ông P trả lại xe đã mượn, nay Công ty xác định rút lại yêu cầu này, nên cần đình chỉ một phần khởi kiện mà Công ty đã rút.

Từ phân tích trên căn cứ Điều 244 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Điều 309, 314 Bộ luật Dân sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định: Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty đối với yêu cầu ông P trả lại tài sản; chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc ông P trả cho Công ty TNHH S (nay là Công ty cổ phần S1 Có Ngay) số tiền 21.214.145 đồng tính đến ngày 07/5/2024; không chấp nhận yêu cầu của Công ty buộc ông P trả phí bảo dưỡng và hao mòn xe là 7.212.590 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền giải quyết vụ việc: Công ty S1 Có Ngay khởi kiện yêu cầu ông P thanh toán nợ theo hợp đồng cầm cố tài sản và đòi tài sản. Bị đơn ông P có nơi cư trú tại khóm C, phường C, thành phố C nên yêu cầu kiện của Công ty thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo đơn khởi kiện, Công ty S1 Có Ngay yêu cầu ông P trả nợ phát sinh từ hợp đồng cầm cố tài sản và yêu cầu đòi lại xe mô tô nên đây là tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản và đòi tài sản theo quy định tại Điều 106, Điều 309 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[1.3] Về phạm vi yêu cầu khởi kiện: Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn rút lại yêu cầu khởi kiện buộc ông P giao trả lại xe mô tô cho Công ty nên Tòa án chỉ xem xét giải quyết trong phạm vi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự và đình chỉ xét xử đối với yêu cầu nêu trên theo quy định tại khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.4] Về sự vắng mặt của đương sự: Hợp đồng cầm cố ngày 30/7/2022 giữa các bên, có ghi địa chỉ thường trú và địa chỉ liên lạc của ông P tại tổ A, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang. Đồng thời, theo kết quả xác minh do Công an phường C B cung cấp: ông P có đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ A, khóm C, phường C B nhưng hiện nay đã bỏ địa phương. Do đó, trường hợp ông P có thay đổi nơi cư trú nhưng không thông báo cho nguyên đơn biết thì được coi là cố tình giấu địa chỉ. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017 ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Toà án nhân dân thành phố Châu Đốc tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

Bị đơn ông Lý Văn P đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông P theo quy định tại Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về hợp đồng cầm cố tài sản: Hợp đồng cầm cố ngày 30/7/2022 được ký kết giữa Công ty TNHH S (nay là Công ty Cổ phần S1 Có Ngay) và ông Lý Văn P được thực hiện trên cơ sở tự nguyện, nội dung không trái pháp luật, đạo đức xã hội, các bên tham gia đều có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên. Theo đó, ông P cầm cố cho Công ty 01 xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu Honda, loại Vario, biển số xe 67E1-393.91, giấy chứng nhận đăng ký xe do ông P đứng tên, để nhận số tiền 20.900.000 đồng nhưng không trả đầy đủ vốn gốc và lãi khi đến hạn là vi phạm nghĩa vụ đã thỏa thuận nên Công ty yêu cầu ông P trả vốn gốc, lãi và phí quản lý hồ sơ đã được thỏa thuận trong hợp đồng là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 309, 311, 314 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Do đó, buộc ông P có trách nhiệm trả cho Công ty S1 Có Ngay số tiền tạm tính đến ngày 06/5/2024 là 21.214.145 đồng (trong đó tiền gốc 15.675.669 đồng, tiền lãi 2.883.639 đồng, lãi quá hạn 1.416.819 đồng, phí quản lý hồ sơ 1.2888.018 đồng).

[2.2] Về phí bảo dưỡng và hao mòn khi mượn xe: Theo giấy mượn xe ngày 30/7/2022 giữa Công ty và ông P thỏa thuận ông P mượn lại xe mô tô đã cầm cố cho Công ty để làm phương tiện đi lại, thời hạn mượn từ ngày 30/7/2022 đến ngày 30/8/2022 và trả phí bảo dưỡng và hao mòn xe là 438.900 đồng/tháng. Xét thấy, mặc dù các bên có thỏa thuận về phí bảo dưỡng và hao mòn khi mượn xe nhưng xe thuộc quyền sở hữu của ông P và do ông P quản lý, sử dụng nên nếu có phát sinh các chi phí bảo dưỡng, sửa chữa xe thì cũng do ông P tự chi trả. Vì vậy, Công ty yêu cầu ông P có trách nhiệm trả phí bảo dưỡng và hao mòn khi mượn xe tạm tính đến ngày 06/5/2024 với số tiền 7.212.590 đồng là không hợp lý nên không có căn cứ để chấp nhận.

[2.3] Về xử lý tài sản bảo đảm: Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vario, biển số 67E1-393.91 được đăng ký biện pháp bảo đảm theo phiếu yêu cầu đăng ký số 1468139189 vào ngày 08/8/2022 tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại thành phố Hà Nội thuộc Cục Đ giao dịch bảo đảm là đúng quy định pháp luật nên Công ty S1 Có Ngay yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ là có căn cứ chấp nhận.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Nguyên đơn Công ty S1 Có Ngay phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với một phần yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận. Bị đơn ông Lý Văn P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Điều 298, Điều 299, Điều 303, Điều 309, Điều 311, Điều 314 Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Điều 147, Điều 244 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần S1 Có Ngay về việc yêu cầu ông Lý Văn P giao trả 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vario, biển số xe 67E1-393.91.
  2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần S1 Có Ngay: Buộc ông Lý Văn P có trách nhiệm trả cho Công ty cổ phần S1 Có Ngay số tiền tạm tính đến ngày 06/5/2024 là 21.214.145 (hai mươi mốt triệu hai trăm mười bốn nghìn một trăm bốn mươi lăm) đồng (trong đó tiền gốc 15.675.669 đồng, tiền lãi 2.883.639 đồng, lãi quá hạn 1.416.819 đồng, phí quản lý hồ sơ 1.2888.018 đồng).

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  3. Trường hợp ông Lý Văn P không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Công ty cổ phần S1 Có Ngay có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm là 01 (một) xe mô tô hai bánh; nhãn hiệu: Honda; loại: Vario 150; biển số xe: 67E1-393.91; số khung: MH1KF4119KK676311; số máy: KF41E1678989; giấy chứng nhận đăng ký số: 030855 do Công an thành phố C cấp ngày 26/9/2019 cho ông Lý Văn P đứng tên, để thu hồi nợ.
  4. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần S1 Có Ngay về việc yêu cầu ông Lý Văn P có trách nhiệm trả phí bảo dưỡng và hao mòn khi mượn xe tạm tính đến ngày 06/5/2024 với số tiền 7.212.590 (bảy triệu hai trăm mười hai nghìn năm trăm chín mươi) đồng.
  5. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    • - Công ty cổ phần S1 Ngay phải chịu 361.000 (ba trăm sáu mươi mốt nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 559.000 (năm trăm năm mươi chín nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai 0003617 ngày 23 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc. Công ty cổ phần S1 Có Ngay được nhận lại số tiền chênh lệch là 198.000 (một trăm chín mươi tám nghìn) đồng.
    • - Ông Lý Văn P phải chịu 1.061.000 (một triệu không trăm sáu mươi mốt nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, Công ty cổ phần S1 Có Ngay có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo của ông Lý Văn P là 15 ngày, kể từ bản án được giao hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát TPCD (1);
  • - Viện kiểm sát tỉnh An Giang (1);
  • - Tòa án tỉnh An Giang (1);
  • - Thi hành án DS TPCD (1);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ (1);
  • - Lưu văn phòng (1).

TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Võ Đại Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2024/DS-ST ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản, đòi tài sản

  • Số bản án: 23/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản, đòi tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger