|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 23/2023/HS-ST Ngày 06 - 12 - 2023 |
Sơn La. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lại Thị Hiếu.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đinh Thị Kim Dung;
Bà Vi Thị Bình.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thu Hương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thuỳ Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 28/2023/TLST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2023, đối với bị cáo:
Trần Thanh T, sinh ngày 19/01/1984 tại huyện M, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản T, xã T, huyện M, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể khi phạm tội: Uỷ viên Ban chấp hành Đảng bộ xã, Bí thư chi bộ, đã bị khai trừ ra khỏi Đảng theo Quyết định số 782-QĐ/HU ngày 29/11/2022 của Huyện ủy M1; Con ông: Trần Thanh X, sinh năm 1960; Con bà: Nguyễn Thị Y, sinh năm 1962; Có vợ là Nguyễn Thị H, sinh năm 1990 và 02 con (con lớn sinh năm 2015, con nhỏ nhất sinh năm 2019); Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/5/2023 đến nay. Có mặt tại phiên toà.
- Bị hại:
- + Chị Sùng Thị S, sinh năm 1985, nơi cư trú: Bản Đán É, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người đại diện theo uỷ quyền của chị Sùng Thị S: Ông Vừ A T1, sinh năm 1970, nơi cư trú: Bản Đán Én, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- + Bà Mùa Thị S1, sinh năm 1978, nơi cư trú: Bản Đán Én, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người đại diện theo uỷ quyền của bà Mùa Thị S1: Anh Sùng A L, sinh năm 1988, nơi cư trú: Bản Đán Én, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Thanh T2, sinh năm 1987, nơi cư trú: Bản T, xã T, huyện M, tỉnh Sơn La. Có mặt.
- Người làm chứng:
- + Ông Vừ A T1, sinh năm 1970, nơi cư trú: Bản Đán Én, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- + Anh Sùng A L, sinh năm 1988, nơi cư trú: Bản Đán Én, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- + Anh Vừ A K, sinh năm 1996, nơi cư trú: Bản Đán Én, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- + Anh Vàng A T3, sinh năm 1995, nơi cư trú: Bản P, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- + Chị Lò Thị Q, sinh năm 1989, nơi cư trú: Bản Nhạp, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Vắng mặt;
- + Chị Cầm Thị Q1, sinh năm 1986, nơi cư trú: Bản Nhạp, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Vắng mặt;
- + Lò Văn M, sinh năm 1982, nơi cư trú: Bản N, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Thanh T, sinh năm 1984, trú tại bản T, xã T, huyện M, tỉnh Sơn La. Trong thời gian từ tháng 5/2022 đến tháng 6/2022, khi đang là Trưởng Công an xã C, huyện M, T đã đưa ra thông tin sai sự thật để nhận tiền của 02 gia đình có nhu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho người thân. Qua đó, chiếm đoạt số tiền 80.000.000 đồng. Cụ thể:
1. Chiếm đoạt của gia đình Vừ A C, sinh năm 1987, trú tại bản Đán Én, xã C, huyện M số tiền 70.000.000 đồng
Khoảng 22 giờ ngày 07/5/2022, Trần Thanh T cùng Tổ công tác Công an xã C, huyện M bắt quả tang Vừ A C, sinh năm 1987, trú tại bản Đán Én, xã C, huyện M về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Sau khi Tổ công tác lập biên bản và đưa C về trụ sở Công an xã, do không nói được tiếng phổ thông, Sùng Thị S, sinh năm 1985 (vợ Vừ A C) nhờ Vừ A T1, sinh năm 1970 (anh họ Vừ A C) và
Vừ A K, sinh năm 1996 (cháu Vừ A C), cùng trú tại bản Đán Én, xã C, huyện M đến phòng làm việc của Trần Thanh T, đặt vấn đề xin giảm nhẹ hình phạt cho C. T đưa ra thông tin “Muốn giảm nhẹ cho C thì chỉ có thể xin giảm án thôi, nếu gia đình muốn xin giảm án phải chuẩn bị số tiền 70.000.000 đồng để tôi về huyện xin giảm án cho”.
Trứ trao đổi lại với Sùng Thị S, S đồng ý và nhờ T1 đứng ra lo tiền trước. Khoảng 2 giờ sáng ngày 08/5/2022, T1 cùng K vay được 60.000.000 đồng để đưa tiền cho T nhưng T không đồng ý, yêu cầu phải đủ 70.000.000 đồng. Đến khoảng 07 giờ sáng cùng ngày, Sùng Thị S vay được thêm 10.000.000 đồng đưa cho T1, T1 cùng K quay lại gặp và đưa cho T 70.000.000 đồng tại phòng ngủ của T.
Sau khi nhận 70.000.000 đồng, Trần Thanh T sử dụng chi tiêu cá nhân, không xin giảm án như đã hứa hẹn. Ngày 08/11/2022, Tòa án nhân dân huyện Mường La xét xử sơ thẩm, tuyên xử phạt Vừ A C 22 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Sau đó, gia đình C đã nhiều lần yêu cầu trả lại tiền, nhưng T không trả.
2. Chiếm đoạt của gia đình Sùng A C1, sinh năm 1978, trú tại bản Đán Én, xã C, huyện M số tiền 10.000.000 đồng
Khoảng 01 giờ ngày 13/6/2022, Trần Thanh T cùng Tổ công tác Công an xã C, huyện M bắt quả tang Sùng A C1, sinh năm 1978, trú tại bản Đ, xã C, huyện M về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Đến 03 giờ sáng, sau khi lập biên bản và đưa C1 về trụ sở Công an xã, Mùa Thị S1, sinh năm 1978 (vợ Sùng A C1) nhờ Sùng A L (em họ Sùng A C1) hiện là Công an viên bản Đán Én đến phòng làm việc của T, đặt vấn đề xin giảm nhẹ hình phạt cho C1. T đưa ra thông tin “Bây giờ muốn giảm nhẹ án thì bảo gia đình C1 lo chuẩn bị số tiền khoảng 70.000.000 đồng đưa cho tôi để tôi xuống huyện giúp xin giảm án cho”.
Sùng A L trao đổi lại với Mùa Thị S1, S1 đồng ý. Do gia đình chưa chuẩn bị đủ tiền, S1 đưa cho Lệnh 39.000.000 đồng để đưa trước cho T. Lúc này, L cùng Vàng A T3, sinh năm 1995 (em rể Sùng A C1) là Công an viên bản Huổi Hậu cũng đang ở trụ sở Công an xã C đến gặp T. T nói “số tiền còn lại phải lo sớm, nếu không có đủ 70.000.000 đồng thì phải cố gắng lo được 50.000.000 đồng” và nhận trước 39.000.000 đồng từ Lệnh.
Khoảng 20 giờ ngày 13/62022, Vàng A T3 vay được 5.000.000 đồng, đến gặp T, do đang cần tiền trong tài khoản, T yêu cầu T3 chuyển khoản. Sau đó, T3 đi nhờ Lò Thị Q (bán quán T5 công an xã C) chuyển 5.000.000 đồng từ số tài khoản 41310001688897 mang tên Nguyễn Trọng Đ (chồng Q) đến số tài khoản 41388000005199 của T mở tại Ngân hàng Đ1 (B) chi nhánh huyện M.
Cùng ngày, Mùa Thị S1 sang nhà Sùng A L, đưa tiếp cho Lệnh 6.000.000 đồng. Do trời tối nên L nhờ Cầm Thị Q1 (bán quán T5 công an xã C) ứng tiền
trước, chuyển khoản vào số tài khoản 41388000005199 của T. Ngày 14/6/2022, L đã trả lại đủ 6.000.000 đồng cho Q1.
Sau khi nhận 50.000.000 đồng của gia đình Sùng A C1, Trần Thanh T sử dụng chi tiêu cá nhân, không xin giảm án như đã cam kết. Ngày 08/11/2022, Tòa án nhân dân huyện Mường La xét xử sơ thẩm, tuyên phạt Sùng A C1 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Sau đó, gia đình C1 đã nhiều lần yêu cầu T trả lại tiền, ngày 16/9/2022, T đã trả cho gia đình Chay 40.000.000 đồng.
* Vật chứng thu giữ: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy Note 10+, có số IMEI 1: 358780105323633;IMEI 2: 358781105323631, trong máy có lắp 02 thẻ Sim (Sim 1 là thuê bao Viettel số: 0982.866.xxx, Sim 2 là thuê bao Vinaphone số: 0912.866.xxx). Hiện đang bảo quản tại Kho vật chứng Công an tỉnh S.
* Về trách nhiệm dân sự: Sau khi Trần Thanh T bị khởi tố, bắt tạm giam. Ngày 17/6/2023, Trần Thanh T2 (em trai T) đã trả cho gia đình Vừ A C 70.000.000 đồng; trả cho gia đình Sùng A C1 10.000.000 đồng. Hai gia đình đều có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Trần Thanh T, không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Tại bản cáo trạng số 150/CT-VKS ngày 31/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố Trần Thanh T về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, theo điểm c, đ khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh và Điều luật áp dụng đối với bị cáo như cáo trạng đã quy kết và đề nghị:
Căn cứ điểm c, đ khoản 2 Điều 174; điểm b, s, t, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 54 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Trần Thanh T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Xử phạt bị cáo Trần Thanh T từ 18 đến 24 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, trả lại cho bị cáo Trần Thanh T: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy Note 10+.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586 Bộ luật Dân sự: Chấp nhận việc gia đình bị cáo Trần Thanh T và 02 bị hại đã thỏa thuận bồi thường cho với tổng số tiền 80.000.000 đồng (Tám mươi triệu đồng).
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo Trần Thanh T nhất trí với cáo trạng truy tố và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu, tỏ ra ăn năn, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo để cải tạo tại địa phương.
- 02 người bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt, đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không yêu cầu bị cáo bồi thường do bị cáo đã tác động gia đình bị cáo đã bồi thường xong.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên Công an tỉnh S; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo:
[2.1] Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Trần Thanh T có lời khai nhận tội phù hợp lẫn nhau, thể hiện: Trong thời gian từ tháng 5/2022 đến tháng 6/2022, Trần Thanh T – N là Trưởng Công an xã C, huyện M tuy không có khả năng giảm nhẹ án cho các đối tượng phạm tội nhưng T vẫn nói với Vừ A T4 và Sùng A L là có khả năng giảm án cho Vừ A C và Sùng A C1 với chi phí 70.000.000 đồng/ người. Do tin tưởng vào Trần Thanh T nên người nhà Vừ A C đã đưa cho T 70.000.000 đồng, gia đình Sùng A C1 đưa cho T 50.000.000 đồng để “chạy án”.
[2.2] Sau khi nhận tiền, T sử dụng số tiền chiếm đoạt để chi tiêu cá nhân. Ngày 16/9/2022 Trần Thanh T đã trả lại cho gia đình Sùng A C1 số tiền 40.000.000 đồng. Tổng số tiền Trần Thanh T chiếm đoạt của gia đình 02 bị hại là 80.000.000 đồng.
[2.3] Lời khai nhận tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau: Biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của 02 bị hại, lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng.
[2.4] Với các căn cứ chứng minh trên, có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Trần Thanh T đã đưa ra thông tin sai sự thật nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác
có giá trị 80.000.000 đồng. Bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân. Như vậy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự.
[3] Về tình tiết định khung hình phạt: Khi thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, bị cáo Trần Thanh T là đang công tác trong ngành Công an nhân dân có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nhưng do thiếu tu dưỡng rèn luyện, tư tưởng lệch lạc nên bị cáo đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đưa ra các thông tin gian dối nhằm chiếm đoạt 80.000.000 của người khác. Hành vi phạm tội của bị cáo đã vi phạm tình tiết định khung hình phạt “c) Chiếm đoạt tài sản trị giá 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng” và “đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức” quy định tại điểm c, đ khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015, quy định mức hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
[4] Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[4.1] Nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.
[4.2] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo 02 lần thực hiện hành vi phạm tội, đã vi phạm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[4.3] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi có đơn tố cáo bị cáo đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra đầu thú tự nguyện khai báo, tích cực hợp tác với cơ quan điều tra nộp những những tài liệu, chứng cứ có ý nghĩa cho việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Thanh T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; trong quá trình công tác, bị cáo là người có thành tích xuất sắc được khen thưởng; bị cáo và gia đình đã tự nguyện khắc phục hậu quả; gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Ngoài ra, bị cáo có bà nội được tặng thưởng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s, t, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Trần Thanh T có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, có đủ điều kiện áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự.
[5] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Trần Thanh T phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng; Hành vi của bị cáo trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, trật tự quản lý hành chính Nhà nước, gây dư luận xấu tại địa phương, ảnh hưởng đến danh dự, uy tín của cơ quan Nhà nước. Trên cơ sở cân nhắc các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử quyết định mức hình phạt tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đảm bảo cải tạo và giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung phù hợp với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
[6] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính bị cáo có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Xong kết quả điều tra và tại phiên tòa xác định bị cáo hiện không có tài sản không có điều kiện để thi hành án, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự:
[7.1] Sau khi phạm tội, bị cáo Trần Thanh T đã tác động gia đình tích cực bồi thường, khắc phục hậu quả cho các bị hại. Ngày 17/6/2023, em trai của bị cáo là anh Trần Thanh T2 khắc phục hậu quả, bồi thường toàn bộ số tiền bị cáo đã chiếm đoạt là 80.000.000 đồng cho gia đình bị hại. Các bị hại đã nhận tiền bồi thường và không có yêu cầu gì khác. Xét thấy việc thoả thuận dân sự giữa gia đình bị cáo và bị hại là tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật do đó được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7.2] Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thanh T2 thay bị cáo trả 80.000.000 đồng cho các bị hại. Tại phiên toà, anh Trần Thanh T2 tự nguyện không yêu cầu bị cáo hoàn trả số tiền nêu trên, do đó cần chấp nhận.
[8] Về xử lý vật chứng vụ án: Đối với 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy Note 10+ màu đen xám, cùng 02 sim điện thoại đã qua sử dụng thu giữ của Trần Thanh T, qua điều tra xác định bị cáo không sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, cần trả lại cho bị cáo Trần Thanh T.
[9] Về án phí: Bị cáo Trần Thanh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ điểm c, đ khoản 2 Điều 174; điểm b, s, t, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự:
- - Tuyên bố bị cáo Trần Thanh T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- - Xử phạt bị cáo Trần Thanh T 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 28/5/2023).
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về vật chứng:
Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự: Trả lại cho bị cáo Trần Thanh T: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy Note 10+, loại cảm ứng, vỏ màu đen xám, phần vỏ mặt sau bị nứt vỡ, số imes 1: 358780105323633, số imes 2: 358781105323631 cùng 02 sim điện thoại, được niêm phong trong 01 phong bì.
3. Về trách nhiệm dân sự:
Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586 Bộ luật Dân sự:
Chấp nhận việc gia đình bị cáo Trần Thanh T và 02 bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong với tổng số tiền 80.000.000 đồng (Tám mươi triệu đồng).
Chấp nhận việc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thanh T2 không yêu cầu bị cáo bồi hoàn số tiền 80.000.000 đồng (Tám mươi triệu đồng).
4. Về án phí:
Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Trần Thanh T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
5. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 06/12/2023). Bị hại; người đại diện theo ủy quyền của bị hại; vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án./.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
|
Đinh Thị Kim Dung |
Lại Thị Hiếu |
|
Vi Thị Bình |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lại Thị Hiếu |
Bản án số 23/2023/HS-ST ngày 06/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 23/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thanh Tùng phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, theo điểm c, đ khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự
