Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CÙ LAO DUNG

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 23/2024/HS-ST

Ngày: 06-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÙ LAO DUNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán -Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thành Tâm.

Ông Phạm Kiên Trung.

Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Hoàng Ngọc, Thư ký Toà án nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cù Lao Dung tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Cưng – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 17/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2024/QĐXXST-HS, ngày 15 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T; sinh ngày 01/01/1987, tại C - Sóc Trăng; Nơi cư trú: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; Chỗ ở hiện nay: Nhà T, đường P, phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K (s) và bà Cao Thị L (s); Vợ: Nguyễn Thị B và 01 người con sinh năm 2023; Tiền án; tiền sự: không. Nhân Thân: tốt.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/3/2024 cho đến nay (Bị cáo có mặt).

- Các bị hại:

  1. Ông Trịnh Văn N, sinh năm 1960 (có mặt);
  2. Ông Trần Quang T1, sinh năm 1967 (có mặt);
  3. Ông Lê Văn D, sinh năm 1972 (vắng mặt);

Cùng trú tại: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.

  1. Ông Trần Thanh P, sinh năm 1972 (có mặt);
  2. Ông Ngô Văn S, sinh năm 1980 (có mặt);
  3. Ông Trần Vĩnh P1, sinh năm 1977 (vắng mặt);
  4. Ông Phạm Văn D1, sinh năm 1972 (vắng mặt);

Cùng trú tại: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Cô Trúc L1, sinh năm 1983; (vắng mặt); Cư trú tại: Số A C, phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng;
  2. Nguyễn Thị B, sinh năm 1988 (có mặt); Cư trú tại: Nhà T, đường P, phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 13/01/2024, Trịnh Văn N đến báo tin với Công an xã A 3 về việc bị mất trộm tài sản. Qua sàn lọc đối tượng, Nguyễn Văn T đã khai nhận chính T trực tiếp thực hiện 07 vụ trộm cắp tài sản của người khác trên địa bàn xã A, huyện C cụ thể như sau:

- Vụ thứ nhất: Vào khoảng 22 giờ, ngày 09/12/2023, Nguyễn Văn T từ nhà trọ 60 đường P, phường H, thành phố S điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát 83P4-438.98 từ thành phố S đến huyện C, khi đến khu vực vườn mai của ông Lê Văn D thuộc ấp A, xã A, huyện C là khoảng 23 giờ 25 phút. Tại đây, T quan sát thấy trong nhà kho có 01 cái mô tơ điện nên đã đột nhập lấy trộm đem giấu tại bờ dừa. Sau đó, T tiếp tục lục soát để chiếm đoạt tổng cộng 05 cái mô tơ điện (04 cái nhãn hiệu Tân Hoàng Cầu, công suất 02HP và 01 cái nhãn hiệu VTC, công suất 03HP) cùng đem giấu tại bờ dừa. Sau đó, T dùng xe mô tô 83P4-438.98 chở 05 cái mô tơ trộm được bán cho tiệm phế liệu của bà Cô Trúc L1 tại phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng với giá phế liệu là 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng).

Tại bản kết luận định giá số 06/KL.HĐĐGTTHS ngày 04/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C đối với tài sản mất trộm của ông Lê Văn D, kết luận:

  • + 04 mô tơ điện công suất 02HP nhãn hiệu Tân Hoàng Cầu (đã qua sử dụng) có giá trị tại thời điểm định giá là 5.733.333 đồng (Năm triệu bảy trăm ba mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba đồng).
  • + 01 mô tơ điện công suất 03HP nhãn hiệu VTC (đã qua sử dụng) có giá trị tại thời điểm định giá là 1.766.666 đồng (Một triệu bảy trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi sáu đồng).

Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là: 7.490.000 đồng (Bảy triệu bốn trăm chín mươi nghìn đồng).

- Vụ thứ hai: Vào khoảng 22 giờ, ngày 22/12/2023, Nguyễn Văn T từ nhà trọ 60 đường P, phường H, thành phố S điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát 83P4-438.98 từ thành phố S đến huyện C, khi đến khu vực ao nuôi tôm của ông Ngô Văn S thuộc ấp A, xã A, huyện C là khoảng 24 giờ. Tại đây, T chiếm đoạt 01 cái mô tơ điện nhãn hiệu Tân Hoàng Cầu, công suất 02 HP và đem giấu tại bờ dừa. Sau đó, T dùng xe mô tô 83P4-438.98 chở cái mô tơ trộm được bán cho tiệm phế liệu của bà Cô Trúc L1 tại phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng với giá phế liệu là 285.000 đồng (Hai trăm tám mươi lăm nghìn đồng).

Tại bản kết luận định giá số 07/KL.HĐĐGTTHS ngày 05/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C đối với tài sản mất trộm của ông Ngô Văn S, kết luận: 01 (một) cái mô tơ điện hiệu Tân Hoàn Cầu, công suất 02HP (đã qua sử dụng) có giá trị còn lại là 1.430.000 đồng (Một triệu bốn trăm ba mươi nghìn đồng).

- Vụ thứ ba: Vào khoảng 22 giờ, ngày 24/12/2023, Nguyễn Văn T từ nhà trọ 60 đường P, phường H, thành phố S điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát 83P4-438.98 từ thành phố S đến huyện C, khi đến khu vực Rạch lớn thuộc ấp A, xã A, huyện C, T giấu xe và đi bộ đến ao tôm của ông Trần Thanh Phong c chỗ giấu xe khoảng 150m. Tại đây, T đã đột nhập vào ao nuôi tôm lục soát để chiếm đoạt tổng cộng 03 cái mô tơ điện (02 cái nhãn hiệu Bảo Long, công suất 02 HP đã qua sử dụng và 01 cái nhãn hiệu Bảo Long, công suất 1,5HP đã qua sử dụng). Đồng thời, T lấy trộm cái mô tơ điện, loại 02HP hiệu Tân Hoàn Cầu, để ở rẫy trồng ớt của ông Phạm Văn D1 cách ao tôm khoảng 100m. Sau đó, T dùng xe mô tô 83P4-438.98 chở 04 cái mô tơ trộm được bán cho tiệm phế liệu của bà Cô Trúc L1 tại phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng với giá phế liệu là 1.300.000 đồng (Một triệu ba trăm nghìn đồng).

Tại bản kết luận định giá số 09/KL.HĐĐGTTHS ngày 11/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C đối với tài sản mất trộm của ông Trần Thanh P, kết luận:

  • + 02 mô tơ điện công suất 02HP nhãn hiệu Bảo Long (đã qua sử dụng) có giá trị tại thời điểm định giá là 3.333.333 đồng (Ba triệu ba trăm ba mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba đồng).
  • + 01 mô tơ điện công suất 1,5HP nhãn hiệu Bảo Long (đã qua sử dụng) có giá trị tại thời điểm định giá là 1.100.000 đồng (Một triệu một trăm nghìn đồng).

Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là: 4.430.000 đồng (Bốn triệu bốn trăm ba mươi nghìn đồng).

Tại bản kết luận định giá số 08/KL.HĐĐGTTHS ngày 07/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C đối với tài sản mất trộm của ông Phạm Văn D1, kết luận:

  • + 01 mô tơ điện công suất 02HP nhãn hiệu Tân Hoàn Cầu (đã qua sử dụng) có giá trị tại thời điểm định giá là 1.700.000 đồng (Một triệu bảy trăm nghìn đồng).

Tổng giá trị tài sản mà Nguyễn Văn T trộm cắp ngày 25/12/2023 là 6.130.000 đồng (Sáu triệu một trăm ba mươi nghìn đồng).

- Vụ thứ tư: Vào khoảng 22 giờ, ngày 28/12/2023, Nguyễn Văn T từ nhà trọ 60 đường P, phường H, thành phố S điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát 83P4-438.98 từ thành phố S đến huyện C, khi đến khu vực ao nuôi tôm của ông Ngô Văn S thuộc ấp A, xã A, huyện C. Tại đây, T chiếm đoạt 04 cái mô tơ điện (01 cái nhãn hiệu Tân Hoàng Cầu, công suất 1,5 HP; 01 cái nhãn hiệu VTC công suất 02 HP và 02 cái nhãn hiệu VTC công suất 1,5HP). Sau đó, T dùng xe mô tô 83P4-438.98 chở 04 cái mô tơ trộm được bán cho tiệm phế liệu của bà Cô Trúc L1 tại phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng với giá phế liệu là 1.085.000 đồng (Một trăm không trăm tám mươi lăm nghìn đồng).

Tại bản kết luận định giá số 10/KL.HĐĐGTTHS ngày 13/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C đối với tài sản mất trộm của ông Ngô Văn S, kết luận:

  • + 01 mô tơ điện công suất 1,5HP nhãn hiệu Tân Hoàng Cầu (đã qua sử dụng) có giá trị tại thời điểm định giá là 1.133.333 đồng (Một triệu một trăm ba mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba đồng).
  • + 01 mô tơ điện công suất 02HP nhãn hiệu VTC (đã qua sử dụng) có giá trị tại thời điểm định giá là 1.433.333 đồng (Một triệu bốn trăm ba mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba đồng).
  • + 02 mô tơ điện công suất 1,5HP nhãn hiệu VTC (đã qua sử dụng) có giá trị tại thời điểm định giá là 2.333.333 đồng (Hai triệu ba trăm ba mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba đồng).

Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là: 4.890.000 đồng (Bốn triệu tám trăm chín mươi nghìn đồng).

- Vụ thứ năm: Vào khoảng 21 giờ, ngày 02/01/2024, Nguyễn Văn T từ nhà trọ 60 đường P, phường H, thành phố S điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát 83P4-438.98 từ thành phố S đến huyện C, khi đến khu vực Trường Mầm Non H thuộc ấp A, xã A, huyện C, T giấu xe và đi bộ đến vườn nhãn của ông Trần Quang T1 cách chỗ giấu xe khoảng 200m. Tại đây, T đã đột nhập vào lục soát để chiếm đoạt tổng cộng 03 cái mô tơ điện (02 cái nhãn hiệu Tân Hoàn Cầu, công suất 02 HP và 1,5HP đã qua sử dụng và 01 cái nhãn hiệu VTC, công suất 02HP đã qua sử dụng). Sau đó, T dùng xe mô tô 83P4-438.98 chở 03 cái mô tơ trộm được bán cho tiệm phế liệu của bà Cô Trúc L1 tại phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng với giá phế liệu là 850.000 đồng.

Tại bản kết luận định giá số 05/KL.HĐĐGTTHS ngày 01/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C đối với tài sản mất trộm của ông Trần Quang T1, kết luận:

  • + 01 mô tơ điện công suất 02HP nhãn hiệu Tân Hoàn Cầu (đã qua sử dụng) có giá trị tại thời điểm định giá là 1.166.666 đồng (Một triệu một trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi sáu đồng).
  • + 01 mô tơ điện công suất 1,5HP nhãn hiệu Tân Hoàn Cầu (đã qua sử dụng) có giá trị tại thời điểm định giá là 1.066.666 đồng (Một triệu không trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi sáu đồng).
  • + 01 mô tơ điện công suất 02HP nhãn hiệu VTC (đã qua sử dụng) có giá trị tại thời điểm định giá là 766.666 đồng (Bảy trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi sáu đồng).

Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là: 2.990.000 đồng (Hai triệu chín trăm chín mươi nghìn đồng).

- Vụ thứ sáu: Vào khoảng 22 giờ 10 phút, ngày 03/01/2024, Nguyễn Văn T từ nhà T đường P, phường H, thành phố S điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát 83P4-438.98 từ thành phố S đến huyện C, khi đến khu vực Rạch lớn thuộc ấp A, xã A, huyện C, T giấu xe và đi bộ đến ao tôm của ông Trần Thanh Phong c chỗ giấu xe khoảng 150m. Tại đây, T đã đột nhập vào ao nuôi tôm lục soát để chiếm đoạt tổng cộng 02 cái mô tơ điện (01 cái nhãn hiệu Bảo Long, công suất 1,5 HP đã qua sử dụng và 01 cái nhãn hiệu Long Việt, công suất 02HP đã qua sử dụng). Đồng thời, T lấy trộm cái mô tơ điện, loại 1,5HP hiệu Tân Hoàn Cầu, để ở rẫy trồng ớt của ông Trần Vĩnh P1. Sau đó, T dùng xe mô tô 83P4-438.98 chở 03 cái mô tơ trộm được bán cho tiệm phế liệu của bà Cô Trúc L1 tại phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng với giá phế liệu là 1.050.000 đồng (Một triệu không trăm năm mươi nghìn đồng).

Tại bản kết luận định giá số 12/KL.HĐĐGTTHS ngày 15/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C đối với tài sản mất trộm của ông Trần Thanh P, kết luận:

  • + 01 mô tơ điện công suất 1,5HP nhãn hiệu Bảo Long (đã qua sử dụng) có giá trị tại thời điểm định giá là 1.100.000 đồng (Một triệu một trăm nghìn đồng).
  • + 01 mô tơ điện công suất 1,5HP nhãn hiệu Long Việt (đã qua sử dụng) có giá trị tại thời điểm định giá là 800.000 đồng (Tám trăm nghìn đồng).

Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là: 1.900.000 đồng (Một triệu chín trăm nghìn đồng).

Tại bản kết luận định giá số 11/KL.HĐĐGTTHS ngày 14/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C đối với tài sản mất trộm của ông Trần Vĩnh P1, kết luận:

  • + 01 mô tơ điện công suất 1,5HP nhãn hiệu Tân Hoàn Cầu (đã qua sử dụng) có giá trị tại thời điểm định giá là 1.130.000 đồng (Một triệu một trăm ba mươi nghìn đồng.

Tổng giá trị tài sản mà Nguyễn Văn T trộm cắp ngày 04/01/2024 là 3.030.000 đồng (Ba triệu không trăm ba mươi nghìn đồng).

- Vụ thứ bảy: Vào khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 09/01/2024, Nguyễn Văn T từ nhà T đường P, phường H, thành phố S điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát 83P4-438.98 từ thành phố S đến huyện C, khi đến khu vực Trường Mầm Non H thuộc ấp A, xã A, huyện C, T giấu xe và đi bộ đến ao nuôi tôm của ông Trịnh Văn N. Tại đây, T đã đột nhập vào lục soát để chiếm đoạt tổng cộng 04 cái mô tơ điện đều có nhãn hiệu Bảo Long, công suất 02 HP. Sau đó, T dùng xe mô tô 83P4-438.98 chở 04 cái mô tơ trộm được bán cho tiệm phế liệu của bà Cô Trúc L1 tại phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng với giá phế liệu là 1.070.000 đồng (Một trăm không trăm bảy mươi nghìn đồng).

Tại bản kết luận định giá số 04/KL.HĐĐGTTHS ngày 29/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C đối với tài sản mất trộm của ông Trịnh Văn N, kết luận:

  • + 04 mô tơ điện công suất 02HP nhãn hiệu Bảo Long (đã qua sử dụng) có giá trị tại thời điểm định giá là 4.800.000 đồng (Bốn triệu tám trăm nghìn đồng).

Sau khi tiếp nhận tin tố giác, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C tiến hành điều tra, xác minh làm rõ và chứng minh được chính Nguyễn Văn T là người trực tiếp lấy trộm tài sản của các bị hại nêu trên. Cơ quan cảnh sát điều tra tiến hành khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn T; trong quá trình điều tra bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội do bị cáo đã gây ra.

Đối với hành vi trộm 01 cái mô tơ điện hiệu Tân Hoàn Cầu của ông Ngô Văn S vào đêm 22/12/2023 do chưa đủ định lượng nên chưa hội đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C đã Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi trên.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận từ tháng 12 năm 2023 đến tháng 01 năm 2024 chính bị cáo đã thực hiện hành vi lén lút lấy trộm nhiều cái mô tơ điện của các bị hại. Theo kết luận định giá tài sản đã xác định được tổng giá trị bị cáo đã chiếm đoạt 06 lần là 29.330.000 đồng (Hai mươi chín triệu ba trăm ba mươi nghìn đồng).

Tại bản Cáo trạng số 14/CT-VKS-CLD, ngày 13/6/2024 Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cù Lao Dung đã quyết định truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung để xét xử bị cáo: Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự 2015).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng trong phần tranh luận đã viện dẫn khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 vì bị cáo đã lén lút, lấy trộm tài sản của các bị hại với tổng giá trị thiệt hại là 29.330.000 đồng, đã hội đủ các yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”; nên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội trộm cắp tài sản. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 38; khoản 1 Điều 50 Bộ luật hình sự 2015 xử phạt bị cáo: Nguyễn Văn T từ 01 (một) năm 09 (chín) tháng đến 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Do các bị hại trong vụ án đều yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn T phải bồi thường giá trị tài sản bị mất. Tại phiên tòa, bị cáo T và các bị hại đã tự thỏa thuận được với nhau về trách nhiệm bồi thường thiệt hại nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) lưỡi cưa sắt 02 mặt, chiều dài 31cm, chiều ngang rộng 02cm; 01 (một) cây kiềm mỏ nhọn, mỏ kiềm bằng kim loại, thân kiềm có vỏ nhựa màu đỏ; 02 (hai) cây cờ lê không có thông số, một đầu cờ lê vòng và một đầu cờ lê miệng, tình trạng đã qua sử dụng, rỉ sét, chiều dài cờ lê dài 21cm; 01 (một) cây tua vít 4 cạnh, cán nhựa màu xanh trong, thân bằng kim loại, chiều dài 19cm, thân tua vít dài 10cm, cán tua vít dài 09cm; 01 (một) cây kiềm bấm chết hiệu C.H.HANSON10Cj đã qua sử dụng; 01 (một) cuộn băng keo đen đã qua sử dụng; 01 (một) thùng xốp giữ nhiệt màu vàng, đỏ, xanh xen kẽ hình chữ nhật; 04 (bốn) cái bao; 01 (một) cái ba ga xe màu đen; 01 (một) tấm cao su màu xanh.

Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 (một) chiếc xe mô tô, lóc máy có chữ YMT Japan Md 1, thân xe có dòng chữ Dream II, màu trắng nâu, biển số 83P4-438.98, do bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà; các bị hại Trịnh Văn N; Trần Quang T1; Trần Thanh P; Lê Văn D; Ngô Văn S; Trần Vĩnh P1;Phạm Văn D1 trình bày:

Các bị hại có bị mất trộm tài sản đúng như lời nhận tội của bị cáo. Nay các bị hại đều yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn T phải bồi thường giá trị tài sản bị mất cụ thể như sau: Trịnh Văn N yêu cầu bị cáo bồi thường là: 4.800.000 đồng (Bốn triệu tám trăm nghìn đồng); Ngô Văn S, số tiền là: 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng); Trần Quang T1, số tiền là: 2.990.000 đồng (Hai triệu chín trăm chín mươi nghìn đồng); Trần Thanh P, số tiền là: 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng); Phạm Văn D1, số tiền là: 1.700.000 đồng(Một triệu bảy trăm nghìn đồng); Trần Vĩnh P1, số tiền là: 1.130.000 đồng (Một triệu một trăm ba mươi nghìn đồng) và Lê Văn D, số tiền là: 7.490.000 đồng (Bảy triệu bốn trăm chín mươi nghìn đồng).

Bị cáo nói lời sau cùng thống nhất với nội dung bản cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Đồng thời, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để được sớm trở về giúp đỡ gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra và Viện kiểm sát nhân dân huyện Cù Lao Dung, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại xuất trình chứng cứ phù hợp với quy định pháp luật; bị cáo, bị hại không có ý kiến phản đối hoặc khiếu nại về hành vi quyết định tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

  2. Về chứng minh và chứng cứ: Xét thấy, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật được quy định tại các Điều 85, 86, 87, 88, 89, 90, 91, 92, 98, 101, 102, 104, 105, 108 của Bộ luật tố tụng hình sự.

  3. Tại phiên tòa, các bị hại Lê Văn D; Trần Vĩnh P1; Phạm Văn D1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Cô Trúc L1 vắng mặt. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra đã có lời khai đầy đủ và rõ ràng. Đồng thời, tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát, bị cáo và các bị hại khác đều đề nghị xét xử vắng mặt những người nêu trên. Xét thấy sự vắng mặt của những người này không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án. Do đó, căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với những người nêu trên theo quy định của pháp luật.

  4. Quá trình điều tra cũng như tranh tụng tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo là phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thu hồi vật chứng, sơ đồ và bản ảnh hiện trường, lời khai của các bị hại cũng như các chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Nên đã có đủ cơ sở kết luận trong thời gian từ tháng 12 năm 2023 đến tháng 01 năm 2024 bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của các bị hại trong việc quản lý tài sản, lén lút trộm cắp 06 lần với tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 29.330.000 đồng (Hai mươi chín triệu ba trăm ba mươi nghìn đồng) (trong đó cả 0 6 lần đều trên 2.000.000 đồng). Nên bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự 2015.

  5. Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, chỉ vì tham lam, lười biếng lao động nên bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở mất cảnh giác của người quản lý tài sản để thực hiện hành vi lén lút trộm cắp tài sản. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của người khác về tài sản được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội ở địa phương, tạo ra sự hoang mang, lo sợ làm cho nhân dân không an tâm lao động sản xuất. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo mức án tương xứng để làm gương cho người khác và phòng ngừa chung cho xã hội.

  6. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo liên tiếp thực hiện hành vi trộm cắp nhiều lần, trong đó có 06 lần giá trị tài sản bị chiếm đoạt trên 2.000.000 đồng là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015.

  7. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt không có tiền án, tiền sự; sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, tự thú khai ra những lần phạm tội trước đó; bị cáo không biết chữ nên nhận thức về pháp luật còn hạn chế. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của BLHS để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.

  8. Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, các bị hại đều yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn T phải bồi thường giá trị tài sản bị mất cụ thể như sau: Trịnh Văn N yêu cầu bị cáo bồi thường là: 4.800.000 đồng (Bốn triệu tám trăm nghìn đồng); Ngô Văn S, số tiền là: 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng); Trần Quang T1, số tiền là: 2.990.000 đồng (Hai triệu chín trăm chín mươi nghìn đồng); Trần Thanh P, số tiền là: 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng); Phạm Văn D1, số tiền là: 1.700.000 đồng(Một triệu bảy trăm nghìn đồng); Trần Vĩnh P1, số tiền là: 1.130.000 đồng (Một triệu một trăm ba mươi nghìn đồng) và Lê Văn D, số tiền là: 7.490.000 đồng (Bảy triệu bốn trăm chín mươi nghìn đồng). Bị cáo Nguyễn Văn T thống nhất bồi thường toàn bộ theo yêu cầu của các bị hại nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

  9. Về xử lý vật chứng:

    Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) lưỡi cưa sắt 02 mặt, chiều dài 31cm, chiều ngang rộng 02cm; 01 (một) cây kiềm mỏ nhọn, mỏ kiềm bằng kim loại, thân kiềm có vỏ nhựa màu đỏ; 02 (hai) cây cờ lê không có thông số, một đầu cờ lê vòng và một đầu cờ lê miệng, tình trạng đã qua sử dụng, rỉ sét, chiều dài cờ lê dài 21cm; 01 (một) cây tua vít 4 cạnh, cán nhựa màu xanh trong, thân bằng kim loại, chiều dài 19cm, thân tua vít dài 10cm, cán tua vít dài 09cm; 01 (một) cây kiềm bấm chết hiệu C.H.HANSON10Cj đã qua sử dụng; 01 (một) cuộn băng keo đen đã qua sử dụng; 01 (một) thùng xốp giữ nhiệt màu vàng, đỏ, xanh xen kẽ hình chữ nhật; 04 (bốn) cái bao; 01 (một) cái ba ga xe màu đen; 01 (một) tấm cao su màu xanh.

    Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 (một) chiếc xe mô tô, lóc máy có chữ YMT Japan Md 1, thân xe có dòng chữ Dream II, màu trắng nâu, biển số 83P4-438.98, do bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội.

  10. Đối với Cô Trúc L1 là chủ cơ sở phế liệu tuy có mua mô tơ điện của T nhưng không biết rõ đây là tài sản do trộm cắp mà có. Do đó, cơ quan Điều tra, Viện Kiểm sát không khởi tố, truy tố là có căn cứ.

  11. Tại phiên tòa xét thấy lời đề nghị của vị Kiểm sát viên là phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

  12. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23, 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

    Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 173; điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 38; khoản 1 Điều 50 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên xử:

  1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T: 02 (hai) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tự nguyện hoặc bắt thi hành án.

  2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 357, khoản 1 Điều 584, Điều 585, khoản 1 Điều 586, Điều 589 của Bộ luật dân sự năm 2015;

    Buộc bị cáo: Nguyễn Văn T có trách nhiệm bồi thường cho các bị hại cụ thể: Trịnh Văn N, số tiền là: 4.800.000 đồng (Bốn triệu tám trăm nghìn đồng); Ngô Văn S, số tiền là: 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng); Trần Quang T1, số tiền là: 2.990.000 đồng (Hai triệu chín trăm chín mươi nghìn đồng); Trần Thanh P, số tiền là: 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng); Phạm Văn D1, số tiền là: 1.700.000 đồng(Một triệu bảy trăm nghìn đồng); Trần Vĩnh P1, số tiền là: 1.130.000 đồng (Một triệu một trăm ba mươi nghìn đồng) và Lê Văn D, số tiền là: 7.490.000 đồng (Bảy triệu bốn trăm chín mươi nghìn đồng).

    Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày các bị hại có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng bị cáo Nguyễn Văn T còn phải trả lãi cho các bị hại theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, đối với số tiền chậm thi hành án.

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

    Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) lưỡi cưa sắt 02 mặt, chiều dài 31cm, chiều ngang rộng 02cm; 01 (một) cây kiềm mỏ nhọn, mỏ kiềm bằng kim loại, thân kiềm có vỏ nhựa màu đỏ; 02 (hai) cây cờ lê không có thông số, một đầu cờ lê vòng và một đầu cờ lê miệng, tình trạng đã qua sử dụng, rỉ sét, chiều dài cờ lê dài 21cm; 01 (một) cây tua vít 4 cạnh, cán nhựa màu xanh trong, thân bằng kim loại, chiều dài 19cm, thân tua vít dài 10cm, cán tua vít dài 09cm; 01 (một) cây kiềm bấm chết hiệu C.H.HANSON10Cj đã qua sử dụng; 01 (một) cuộn băng keo đen đã qua sử dụng; 01 (một) thùng xốp giữ nhiệt màu vàng, đỏ, xanh xen kẽ hình chữ nhật; 04 (bốn) cái bao; 01 (một) cái ba ga xe màu đen; 01 (một) tấm cao su màu xanh.

    Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 (một) chiếc xe mô tô, lóc máy có chữ YMT Japan Md 1, thân xe có dòng chữ Dream II, màu trắng nâu, biển số 83P4-438.98, do bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội.

    Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu vật chứng, ngày 09/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cù Lao Dung.

  4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23, 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

    Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng và 2.005.500 (Hai triệu không trăm linh năm nghìn năm trăm đồng) án phí dân sự trên phần bồi thường về trách nhiệm dân sự.

  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, các bị hại có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Riêng đối với các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND huyện CLD;
  • - Cơ quan THAHS CA huyện CLD;
  • Chi cục THADS huyện CLD;
  • - Cơ quan CSĐT CA huyện CLD;
  • - Đội tổng hợp CA huyện CLD;
  • - Sở TP tỉnh Sóc Trăng;
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan;
  • - Phòng KTNV và THA TAND tỉnh ST;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2024/HS-ST ngày 06/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÙ LAO DUNG TỈNH SÓC TRĂNG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 23/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÙ LAO DUNG TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger