TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC TỈNH THANH HÓA Bản án số:23/2024/HS-ST Ngày: 06 - 6 - 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Xuân Thành
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Bùi Trung Thành
2. Bà Phạm Thị Diệu
+ Tại điểm cầu trung tâm: Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quý Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa
+ Tại điểm cầu thành phần: Bà Lê Mỹ D - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:
+ Tại điểm cầu trung tâm: Bà Hoàng Thị Vân A - Kiểm sát viên
+ Tại điểm cầu thành phần: Phạm Diệu L - Chuyên viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai (bằng hình thức trực tuyến) vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:19/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:29/2024/QĐXXST- HS ngày 20 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Đinh Văn H - Sinh ngày 02/09/1996 tại huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi thường trú: Thôn P, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; giới tính N; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Con ông: Đinh Văn N1 - Sinh năm 1966; Con bà: Doãn Thị T - Sinh năm 1973; Vợ Phạm Thị Â - Sinh năm 1996; Có 02 con, con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2019.
Tiền án: Ngày 29/3/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc xử phạt 15 tháng tù, về tội tàng trữ trái phép chất ma túy tại Bản án số 10/2022/HS-ST, ngày 09/3/2023 chấp hành xong hình phạt tù.
Tiền sự: không;
Nhân thân: Ngày 31/12/2021, Chủ tịch UBND xã M, huyện N áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường, chấp hành xong 11/5/2022.
1
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/11/2023 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Đinh Văn N1 – sinh năm: 1966 (Vắng mặt)
- Nơi cư trú: Thôn P, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
- - Doãn Thị T - sinh năm: 1973 (Vắng mặt)
- Nơi cư trú: Thôn P, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
Những người làm chứng:
- - Hà Ngọc T1, sinh năm: 1942 (Vắng mặt)
- Nơi cư trú: Khu phố G, thị trấn L, huyện L, tỉnh Thanh Hóa.
- - Phạm Văn T2, sinh năm: 1996 (Vắng mặt)
- Nơi cư trú: Thôn P, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
- - Trương Thị Đ, sinh năm: 1987 (Vắng mặt)
- Nơi cư trú: Thôn M, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 20 giờ 45 phút, ngày 08/11/2023, tại thôn B, xã M, huyện N Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, đối với Đinh Văn H, trú tại thôn P, xã M, huyện N có hành vi tàng trữ trái phép 05 viên ma túy, loại Methamphetamine.
Quá trình điều tra Đinh Văn H khai: Do tình cờ Đinh Văn H gặp và nói chuyện với một người đàn ông tự xưng tên là T3 tại khu vực ngã tư đèn đỏ, thị trấn N, H hỏi có biết chỗ bán ma tuý không, rồi hai bên lấy số điện thoại để liên lạc, đến ngày 06/11/2023 T3 gọi điện thoại cho H và cho số điện thoại người có tên Đại để liên lạc mua ma tuý, sau đó H điện thoại gọi cho Đ1 hỏi mua ma tuý, Đại đồng ý và hẹn đến tối ngày 08/11/2023 gặp ở dốc phố C thuộc thôn M, xã M, huyện N để lấy ma túy. Sau khi hẹn với Đại H1 mượn chiếc xe mô tô biển kiểm soát 36B1-967.73 của mẹ đẻ bà Doãn Thị T đến khu vực thôn M thì gặp Đ1, rồi cùng với Đ1 đi đến khu vực đường rẽ đi xã C điện thoại cho một người đàn ông lạ mặt đến đưa cho H1 một gói ma tuý (05 viên Hồng phiến), H1 đưa cho người đàn ông đó số tiền 300.000 đồng, xong H1 và Đ1 điều khiển xe đi về đến khu vực thôn B, xã M, huyện N thì bị Công an xã M kiểm tra bắt giữ H1 cùng vật chứng, người có tên Đ1 bỏ chạy thoát.
Tại Bản kết luận giám định số 4114/KL-KTHS ngày 13/11/2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận.
“05 (năm) viên nén hình tròn màu đỏ của phong bì niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng là 0,530g loại: Methamphetamine.”
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng:
2
Một phong bì là mẫu vật còn lại sau giám do Phòng K Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lại Thị Thanh L1, Trần Thị Thúy H2, Mỵ H và các hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T; 01 xe mô tô nhãn hiệu SYM, loại ANGEL, màu xanh, biển kiểm soát 36B1-967.73; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đỏ, loại cảm ứng đã qua sử dụng, là vật chứng liên quan đến vụ án, chuyển đến Kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ngọc Lặc để xét xử và thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Không.
Bản cáo trạng số 24/CT-VKS - NL ngày 15/4/2024 của VKSND huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Đinh Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa Đại diện viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
- - Mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo Đinh Văn H từ 18 (mười tám) đến 22 (hai mươi hai) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 09/11/2023.
- - Về xử lý vật chứng:
- Đề nghị: Tịch thu tiêu hủy phong bì dán kín, niêm phong bởi các chữ ký và các hình con dấu bên trong có 0,422g Methamphetamine.
- Trả lại cho chủ sở hữu 01 xe mô tô nhãn hiệu SYM, loại ANGEL, màu xanh, biển kiểm soát 36B1-967.73. mặt nạ xe đã vỡ
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đỏ, loại cảm ứng đã qua sử dụng
- Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản riêng, công việc không ổn định nên đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo thống nhất với bản luận tội, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, trong lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành
3
tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định, lời khai của bị cáo có trong hồ sơ cũng như tại phiên tòa đã thể hiện rõ: Vào khoảng 20 giờ 45 phút ngày 08/11/2023 Công an huyện N lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, đối với Đinh Văn H, trú tại thôn P, xã M, huyện N có hành vi cất giấu trái phép 05 viên ma tuý (hồng phiến), kết quả giám định có tổng trọng lượng là 0,530 gam, loại Methamphetamine. Đủ yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, hành vi phạm tội: Trong những năm qua tình hình về tội phạm ma túy dưới mọi hình thức trong cả nước nói chung và trên địa bàn huyện N nói riêng ngày càng tăng. Các vụ án ma túy diễn biến ngày càng phức tạp, tình trạng sử dụng ma túy diễn ra ngày càng nhiều. Có thể nói ma túy là một tệ nạn đang nhức nhối nhất hiện nay mà Đảng, nhà nước và nhân dân ta đã và đang quyết tâm loại trừ ra khỏi đời sống xã hội, vì ma tuý có tác hại nghiêm trọng đến đời sống, sức khoẻ, hạnh phúc của mọi người, mọi nhà, làm suy thoái về giống nòi, suy đồi về đạo đức, lối sống, ma tuý làm lây lan căn bệnh thế kỷ HIV, do ma tuý mà một loạt các tội phạm khác gia tăng. Bị cáo đủ nhận thức để hiểu được những tác hại do ma túy gây ra và các hành vi về tàng trữ, mua bán, sử dụng, lôi kéo người khác ... đều vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về ma túy, gây nên dư luận bất bình trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng đến tình hình trật tự an ninh, an toàn xã hội cũng như tiếp tay cho những kẻ buôn bán trái phép chất ma túy. Vì vậy cần phải lên cho bị cáo một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhân thân của bị cáo: Bị cáo phạm tội có một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đó là tái phạm quy định định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có 01 tình tiết giảm nhẹ đó là trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo “Thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo có 01 tiền án đó là Ngày 29/3/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc xử phạt 15 tháng tù, về tội tàng trữ trái phép chất ma túy tại Bản án số 10/2022/HS-ST, ngày 09/3/2023 chấp hành xong hình phạt tù. Ngoài ra bị cáo còn là người có nhân thân xấu: Ngày 31/12/2021, Chủ tịch UBND xã M, huyện N áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường, chấp hành xong 11/5/2022.
Với các tình tiết và nhân thân nêu trên chứng tỏ bị cáo là người không có ý thức cải tạo thành người công dân tốt, tỏ thái độ coi thường pháp luật. Do đó hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe giáo dục bị cáo sửa chữa lỗi lầm, để bị cáo thấy được tính nghiêm minh của pháp luật, cải tạo thành người công dân có ích cho xã hội.
[5] Về xử lý vật chứng:
4
Phong bì dán kín, niêm phong bởi các chữ ký và các hình con dấu bên trong có 0,422g Methamphetamine, đây là vật bị Nhà nước cấm tàng trữ lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
Trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp 01 xe mô tô nhãn hiệu SYM, loại ANGEL, màu xanh, biển kiểm soát 36B1-967.73, mặt nạ xe bị vỡ, đây là vật chứng không liên quan đến vụ án.
Cần tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đỏ, loại cảm ứng đã qua sử dụng, đây là vật chứng liên quan đến vụ án do bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo công việc không ổn định, không có tài sản cá nhân có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về án phí: Bị cáo Đinh Văn H phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đinh Văn H.
Tuyên bố: Đinh Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Đinh Văn H 18 (mười tám) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/11/2023.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS.
Tịch thu tiêu hủy phong bì dán kín, niêm phong bởi các chữ ký và các hình con dấu bên trong có 0,422g Methamphetamine.
Trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Đinh Văn N1 và bà Doãn Thị T 01 xe mô tô nhãn hiệu SYM, loại ANGEL, màu xanh, biển kiểm soát 36B1-967.73, mặt nạ xe bị vỡ.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đỏ, loại cảm ứng đã qua sử dụng.
Hiện vật chứng, tài sản đang được nhập kho Chi cục thi hành án dân sự huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa theo phiếu nhập kho và lệnh nhập kho số NK 2024/030 ngày 16/4/2024.
Án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 136; 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Buộc bị cáo Đinh Văn H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử trực tuyến công khai sơ thẩm có mặt bị cáo vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Tuyên bố bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, người có quyền lợi nghĩa vụ liên
5
quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Xuân Thành |
6
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Quách Văn Toản | Phạm Đức Hoàn | Phạm Xuân Thành |
7
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Bùi Trung Thành | Phạm Thị Diệu | Phạm Xuân Thành |
8
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Bùi Trung Thành | Phạm Đức Hoàn | Phạm Xuân Thành |
9
10
11
12
13
Bản án số 23/2024/HS-ST ngày 06/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC, TỈNH THANH HÓA về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 23/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
