Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC

Tỉnh Thanh Hóa

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 23/2024/HS-ST

Ngày 06/06/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tạ Văn Tuyển.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Nam Văn.
Ông Trịnh Tiến Thanh.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lê - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Quy - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 06 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 17/2024/HSST ngày 09 tháng 04 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 04 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2024/QĐ-HS ngày 15/5/2024 đối với bị cáo:

Lê Sỹ T; sinh ngày 27/6/1972 tại Thanh Hóa; Hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: Thôn P, xã Đ, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Sỹ T1 và bà Phạm Thị G (đã chết); có vợ: Vũ Thị Phương L sinh năm 1972 (đã ly hôn) và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1993, con nhỏ nhất sinh năm 2005; tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 30/07/2021, bị Công an huyện H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “ Sử dụng giấy tờ giả vay vốn ngân hàng”, đã chấp hành xong.

Nhân thân:

Ngày 30/06/1999, bị Công an huyện H khởi tố bị can về tội “Cố ý gây thương tích” đến ngày 16/02/2000, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc ra quyết định đình chỉ điều tra bị can đối với Lê Sỹ T.

Ngày 24/11/2012, bị Công an huyện H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Vi phạm quy định về kiểm dịch động vật”, đã chấp hành xong

Bị cáo bị bắt và tạm giữ từ ngày 29/01/2024 đến ngày 04/02/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại, có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Phan Văn T2 - sinh năm 1987 (vắng mặt)
    Địa chỉ: Thôn P, xã T, huyên H, tỉnh Thanh Hóa
  2. Anh Nguyễn Văn C - sinh năm 1997 (vắng mặt)
    Địa chỉ: Thôn P, xã Đ, huyện H, tỉnh Thanh Hóa
  3. Anh Trần Văn H - sinh năm 1979 (vắng mặt)
    Địa chỉ: Thôn P, xã T, huyên H, tỉnh Thanh Hóa
  4. Anh Nguyễn Trung P - sinh năm 1987 (vắng mặt)
    Địa chỉ: Thôn P, xã Đ, huyên H, tỉnh Thanh Hóa
  5. Anh Lê Văn M - sinh năm 1988 (vắng mặt)
    Địa chỉ: Thôn Q, xã T, huyên H, tỉnh Thanh Hóa
  6. Chị Nguyễn Thị H1 - sinh năm 1989 (vắng mặt)
    Địa chỉ: Thôn P, xã T, huyên H, tỉnh Thanh Hóa
  7. Chị Đinh Thị Phượng H2 - sinh năm: 1988 (vắng mặt)
    Địa chỉ: Thôn P, xã Đ, huyên H, tỉnh Thanh Hóa
  8. Chị Nguyễn Thị Q - sinh năm 1993 (vắng mặt)
    Địa chỉ: Thôn Q, xã T, huyên H, tỉnh Thanh Hóa

Người làm chứng:

  1. Chị Lê Thị N - sinh năm 1971 (vắng mặt)
  2. Chị Bùi Thị T3 - sinh năm 1992 (vắng mặt)
    Địa chỉ: Thôn P, xã Đ, huyên H, tỉnh Thanh Hóa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ năm 2021 đến năm 2023, Lê Sỹ T, sinh năm 1972, trú tại thôn P, xã Đ, thấy việc cho vay tiền thu được nhiều lợi nhuận nên T đã cho nhiều người vay tiền thu lãi cao theo hình thức tín chấp. Khi có khách đến nhà vay tiền, T sẽ trực tiếp gặp gỡ tiếp xúc để tìm hiểu về hoàn cảnh gia đình và công việc sau đó mới quyết định cho vay. Người vay tiền phải mang theo các giấy tờ tùy thân để kiểm tra thông tin người vay, khi cho vay T yêu cầu người vay phải có cả người nhà đi cùng, sau khi trao đổi mức lãi suất, được người vay đồng ý, T đưa cho người vay một tờ giấy loại giấy A4, phía dưới lót giấy than để người vay tự viết các thông tin cá nhân, số tiền vay và ký nhận tuy nhiên trên giấy vay không thể hiện mức lãi suất, giấy vay tiền này T giữ bản chính, còn bản mực giấy than người vay giữ. Khi cho vay T có thể đưa tiền mặt hoặc chuyển khoản và trả lại cho người vay giấy tờ gốc khi người vay đã trả hết tiền. Qúa trình cho vay T thu lãi theo tháng, không giới hạn thời gian vay, T trực tiếp liên lạc nhắc đóng lãi và nhận tiền đóng lãi từ người vay có thể bằng tiền mặt hoặc nhận chuyển khoản qua ngân hàng số tài khoản: 100000711616 thuộc ngân hàng V mang tên Lê Sỹ T. Những người đã vay tiền của Lê Sỹ T gồm:

  1. Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1997, trú tại thôn P, xã Đ, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Tháng 11/2021, anh C vay của T số tiền là 30.000.000 đồng, với mức lãi suất là 3000đ/ 1.000.000đ/1 ngày, tương ứng 2.700.000đ/tháng. Hàng tháng anh Nguyễn Văn C đóng đều tiền lãi bằng cách chuyển khoản đến số tài khoản 100000711616, thuộc ngân hàng V cho T. Đến tháng 3/2023, thì anh Nguyễn Văn C trả hết tiền gốc cho T. Tổng cộng, anh C đã đóng cho T 16 tháng tiền lãi với tổng số tiền là 43.000.000 đ (Bốn mươi ba triệu đồng). Như vậy, mức lãi suất bị can T đã thu là 108%/năm, gấp 5,4 lần so với quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự, số tiền lãi tối đa theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự là 7.963.000đồng/16 tháng, số tiền mà T đã thu lời bất chính trong 16 tháng là 35.037.000₫ (Ba mươi lăm triệu không trăm ba mươi bảy nghìn đồng).
  2. Anh Phan Văn T2, sinh năm 1987, trú tại thôn P, xã T, huyện H. Ngày 25/01/2022, anh T2 vay của T số tiền 40.000.000 đồng, với mức lãi suất là 3000đ/1.000.000đ/1 ngày, tương ứng với 3.600.000đ/1 tháng. Hàng tháng anh T2 đóng lãi đều cho T bằng cách chuyển khoản. Đến cuối tháng 8/2022, anh T2 đã trả hết số tiền gốc cho T, tính từ khi vay đến khi trả gốc anh T2 đã đóng được cho T 07 tháng tiền lãi với số tiền là 25.200.000₫ (Hai mươi lăm triệu hai trăm nghìn đồng). Như vậy, mức lãi suất T đã thu là 108%/năm, gấp 5,4 lần so với quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự, số tiền lãi tối đa theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự là 4.666.667 đồng/07 tháng, trừ số lãi tối đa theo quy định của BLDS, thì số tiền mà T đã thu lời bất chính trong 07 tháng là 20.533.333 đ (Hai mươi triệu năm trăm ba mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba đồng).
  3. Anh Trần Văn H, sinh năm 1979, trú tại thôn P, xã T, huyện H. Tháng 02/2022, anh Trần Văn H vay của T số tiền 25.000.000đ, với mức lãi suất là 3000đ/1.000.000đ/1 ngày, tương ứng 2.250.000đ/tháng. Sau đó, hàng tháng anh H đóng đều tiền lãi cho T qua số tài khoản 100000711616, đến tháng 8/2023 do kinh tế khó khăn nên anh H xin T cho mình ngưng trả lãi, tiền gốc đến nay anh H vẫn chưa trả cho T. Tổng cộng anh H đã đóng được 18 tháng tiền lãi, với tổng số tiền là 40.500.000 đ (Bốn mươi triệu năm trăm nghìn đồng).
    Như vậy, mức lãi suất T đã thu là 108%/năm, gấp 5,4 lần so với quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự, số tiền lãi tối đa theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự là 7.500.000 đồng/18 tháng, trừ số lãi tối đa theo quy định của BLDS, thì số tiền mà T thu lời bất chính trong 18 tháng là 33.000.000đ (Ba mươi ba triệu đồng).
  4. Nguyễn Trung P, sinh năm, 1987 trú tại thôn F, xã Đ, huyện H. Anh P đã vay tiền của T tổng cộng 03 lần, đều với mức lãi suất là 3000đ/1.000.000đ/1 ngày, cụ thể như sau:

    Lần 1: vào tháng 3/2022, anh P vay T số tiền 30.000.000 đồng, tương ứng tiền lãi là 2.700.000 đồng/tháng, đến ngày 01/5/2022 thì anh P trả cả gốc và lãi, số lãi đã trả là 3.960.000đ (Ba triệu chín trăm sáu mươi nghìn đồng). T đã thu lời bất chính số tiền là 3.226.667đ (Ba triệu hai trăm hai mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi bảy đồng).

    Lần 2: vào tháng 9/2022 anh P vay T số tiền 50.000.000 đồng, tương ứng tiền lãi là 4.500.000 đồng/tháng. Đến tháng 11/2022 anh P trả tiền gốc cho T, số lãi đã đóng cho T là 10.530.000 đồng. T đã thu lời bất chính số tiền là 8.580.000đồng.

    Lần 3: vào tháng 3/2023 anh P vay T số tiền 50.000.000 đồng, tương ứng tiền lãi là 4.500.000 đồng/ tháng, đến tháng 6/2023 thì anh P đã trả hết tiền gốc cho T, số lãi anh P đã đóng là 15.000.000 đồng. T đã thu lời bất chính số tiền là 12.222.222 đồng.

    T thu lợi bất chính từ việc cho anh P vay 3 lần trên tổng số tiền 24.028.889₫ (Hai mươi bốn triệu không trăm hai mươi tám nghìn tám trăm tám chín đồng).

  5. Lê Văn M, sinh năm 1988, trú tại thôn Q, xã T, huyện H. Vào ngày 15/8/2022, anh Lê Văn M vay của T số tiền 50.000.000 đồng, với mức lãi suất là 3.000đ/1.000.000đ/1 ngày, tương ứng 4.500.000đ/ tháng. Đến ngày 03/9/2022, anh M tiếp tục vay thêm của T số tiền 50.000.000 đồng cũng với mức lãi suất như trên. Sau đó, hàng tháng anh M đóng đều tiền lãi 02 lần qua số tài khoản 100000711616 cho T. Đến tháng 6/2023 thì anh M trả hết tiền gốc, tổng số tiền lãi anh M đã đóng cho T là 72.000.000 đồng. Số tiền mà T đã thu lời bất chính là 58.666.667 đồng (Năm mươi tám triệu sáu trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi bảy đồng).

Như vậy, tổng số tiền gốc mà Lê Sỹ T cho 05 người trên vay là 325.000.000 đồng, đều với mức lãi suất là 108%/năm, gấp 5,4 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự. Tổng số tiền đã thu lời bất chính là 171.266.000đồng (Một trăm bảy mốt triệu hai trăm sáu mươi sáu nghìn đồng)

Đến ngày 29/01/2024, biết cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đang điều tra vụ việc nên Lê Sỹ T đã chủ động ra đầu thú, thành khẩn khai báo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của T phù hợp với những tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã thu thập được.

Ngày 29/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện H đã tiến hành khám xét khẩn cấp tại nơi ở của Lê Sỹ T thu giữ 216.000.000 đồng (gồm 432 tờ polime mệnh giá 500.000 đồng) và tạm giữ: 01 quyển sổ tay màu nâu, 02 sổ kẻ ngang, tất cả đã qua sử dụng; 02 tập tài liệu được lưu giữ trong 02 túi Clear màu trắng được đóng trong thùng Cattong nhãn hiệu mì tôm Hảo Hảo 2024 niêm phong và dán kín ở các mép thùng, được đóng dấu đỏ của Công an xã Đ có các chữ ký của Nguyễn Xuân L1, Trịnh Văn N1, Lê Sỹ T, Đặng Văn T4, Lê Đức Đ.

Ngày 23/02/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện H đã tiến hành mở niêm phong tài liệu thu giữ tại nhà Lê Sỹ T. Quá trình kiểm tra có: 01 quyển sổ tay màu nâu, đã qua sử dụng bên trong ghi chép số liệu mua bán chó từ năm 2008 của Lê Sỹ T; 02 sổ kẻ ngang, đã qua sử dụng, bên trong ghi chép hoạt động kinh doanh buôn bán dịch vụ ăn uống từ năm 2016-2020 của Lê Sỹ T; 01 tập tài liệu được lưu trữ trong túi Clear màu trắng, kiểm tra bên trong đều là các tài liệu, giấy tờ tùy thân của Lê Sỹ T và người thân trong gia đình; 01 tập tài liệu được lưu trữ trong túi Clear màu trắng, kiểm tra bên trong đều là giấy tờ liên quan đến quá trình ly hôn giữa Lê Sỹ T và chị Vũ Thị Phương L. Xét thấy các giấy tờ tài liệu trên không liên quan đến vụ án nên Cơ quan CSĐT Công an huyện H đã tiến hành trả tất cả tài liệu gồm 03 sổ kẻ ngang đã qua sử dụng và 02 túi Clear đựng giấy tờ tùy thân đã thu giữ cho Lê Sỹ T. Sau khi nhận lại các giấy tờ tài liệu nêu trên T đồng ý không có ý kiến gì thêm.

Quá trình điều tra T khai nhận: T sử dụng điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu xanh gắn sim số 0947593868 vào việc cho vay lãi nặng nhưng trước khi đầu thú T đã làm rơi và không tìm thấy nên không thu giữ được.

Đối với các giấy tờ, tài liệu liên quan đến hoạt động cho vay lãi nặng, trong quá trình sinh hoạt Lê Sỹ T đã để bị mất, thất lạc, nên Cơ quan CSĐT Công an huyện H không thu giữ được các tài liệu trên.

Đối với số tiền cho vay, T khai báo nguồn gốc tiền của T lao động có được, số tiền đã thu lời bất chính bị can sử dụng để tiếp tục cho vay để hưởng lãi và tiêu xài cá nhân hết, ngoài bị can ra không có ai được hưởng lợi số tiền trên.

Qúa trình điều tra, Lê Sỹ T đã chủ động trả lại cho anh Lê Văn M, số tiền 40.000.000 đồng và anh Nguyễn Văn C 30.000.000 đồng là tiền thu lời bất chính từ hành vi trên. Anh M và anh C đồng ý nhận lại, không có yêu cầu gì thêm và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho T. Anh T5, anh H yêu cầu T trả lại tiền thu lợi bất chính từ số tiền T đã cho anh T5, anh H vay. Anh P không yêu cầu T trả lại số tiền thu lợi bất chính từ việc cho anh P vay.

Số tiền 216.000.000₫ (Hai trăm mười sáu triệu đồng), thu giữ của Lê Sỹ T, T khai nhận đây là tiền buôn bán tích lũy mà có không liên quan đến tiền cho vay và tiền lãi cho vay. Hiện số tiền trên đang tạm gửi tại tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc chờ xử lý theo quy định.

Cáo trạng số 21/CT-VKSHL ngày 08/04/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Lê Sỹ T về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật nêu trên và sau khi đánh giá tính chất vụ án, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 201; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Lê Sỹ T từ 06 tháng đến 09 tháng tù, được trừ thời gian tạm giữ (từ ngày 29/01/2024 đến ngày 04/02/2024). Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án. Áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo từ 30 triệu đến 50 triệu đồng.

Về biện pháp tư pháp: Đề nghị truy thu để sung công quỹ nhà nước của bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan số tiền được xác định làm phương tiện phạm tội là 205.000.000₫ (Hai trăm linh năm triệu đồng), bị cáo Lê Sỹ T là 180.000.000đ (Một trăm tám mươi triệu đồng), anh Trần Văn H là 25.000.000₫ (Hai mươi lăm triệu đồng); đề nghị truy thu của bị cáo Lê Sỹ T số tiền hưởng lợi bất chính do phạm tội mà có là khoản tiền lãi từ 20%/năm số tiền là 38.924.000₫ (Ba mươi tám triệu chín trăm hai mươi bốn nghìn đồng chẵn); đề nghị buộc bị cáo phải trả lại cho những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khoản tiền thu lãi vượt quá quy định (trên 20%/năm) trừ những người không có yêu cầu là: (anh Nguyễn Văn C, anh Lê Văn M, anh Nguyễn Trung P, anh Trần Văn H); anh Phan Văn T2 yêu cầu bị cáo phải trả số tiền là 20.533.333₫ (Hai mươi triệu năm trăm ba mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba đồng). Tiếp tục tạm giữ số tiền 216.000.000đ (Hai trăm mười sáu triệu đồng) của bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng đã truy tố, đồng ý với Bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo xin hưởng án treo vì bị cáo rất ăn năn hối cải.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về sự vắng mặt của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ngày 15/05/2024 Tòa án mở phiên tòa nhưng vắng mặt những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: anh C, anh T2, anh H, anh P và anh M. Tòa án hoãn phiên tòa và ấn định xét xử và đã tống đạt hợp lệ cho những người này nhưng tại phiên tòa hôm nay vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Lê Sỹ T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp vật chứng vụ án, lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Bị cáo Lê Sỹ T là người có hành vi năng lực dân sự, nhưng với thái độ và động cơ vụ lợi, không lao động nhưng lại muốn hưởng thụ cao bằng cách cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự nhằm thu lợi bất chính. Trong khoảng thời gian từ năm 2021 đến tháng 8 năm 2023, bị cáo T đã cố tình thực hiện hành vi cho 05 người vay lãi nặng, tổng số tiền lãi T đã thu của 05 người là 210.190.000đ (Hai trăm mười triệu một trăm chín mươi nghìn đồng) tương ứng với mức lãi suất 108%/năm, gấp 5,4 lần so với mức lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự, mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự quy định. Bị cáo Lê Sỹ T đã thu lãi vượt quá quy định là 171.266.000đ (Một trăm bảy mươi mốt triệu hai trăm sáu mươi sáu nghìn đồng). Như vậy, xác định số tiền cho vay làm phương tiện phạm tội của bị cáo là: Trong khoảng thời gian từ năm 2021 đến tháng 8 năm 2023 bị cáo T cho nhiều người vay, vay nhiều lần và tất toán lần vay trước, tiếp tục dùng số tiền này cho vay lần sau, trong số những người vay trên. Trong khoảng thời gian đó bị cáo T đã cho những người vay tiền là anh C, anh T2, anh H, anh P và anh M (trong đó có những người có mẹ, vợ tham gia). Tổng số tiền là 325.000.000₫ (Ba trăm hai mươi lăm triệu đồng). Cũng khoảng thời gian từ tháng 8 năm 2022 đến tháng 3 năm 2023 có anh P, anh T2, anh C đã tất toán tiền gốc; tháng 8 năm 2022 anh T2 trả 40.000.000₫ (Bốn mươi triệu đồng) tiền gốc; tháng 11 năm 2022 anh P đã trả 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) tiền gốc; tháng 3 năm 2023 anh C trả 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng) tiền gốc. Tổng cộng là 120.000.000đ (Một trăm hai mươi triệu đồng). Như vậy, xác định số tiền mà bị cáo T làm phương tiện phạm tội là 325.000.000₫ – 120.000.000₫ = 205.000.000₫ (Hai trăm linh năm triệu đồng), trong đó anh H chưa trả tiền gốc cho T là 25.000.000₫ (Hai mươi lăm triệu đồng).

Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, lời khai của người làm chứng và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo dùng tiền của mình để hoạt động kinh doanh tiền tệ thu lãi bất hợp pháp. Tuy nhiên, hành vi cho vay lãi suất cao của bị cáo liên quan đến hoạt động tín dụng đen, gây tác động đến nhiều loại tội phạm khác trong xã hôi. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng lớn đến công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm và xử lý vi phạm liên quan đến hoạt động tín dụng đen trên địa bàn huyện H và các địa phương lân cận. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm theo quy định của Bộ luật Hình sự tương xứng với mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[4.1] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo cho 05 người vay lãi nặng vào những thời điểm khác nhau, mỗi lần bị cáo cho vay với mức lãi suất gấp 5,4 lần trở lên đều vượt quá 5,4 lần trở lên với quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự và thu lợi bất chính, trong đó có 03 lần thu lợi bất chính từ 30.000.000đ trở lên, cụ thể (anh C: 35.037.000đ; anh H: 33.000.000đ; anh M: 58.666.667đ). Nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Hội đồng xét xử cũng xem xét: Bị cáo có 01 tiền sự và nhân thân xấu.

[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đầu thú thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, có bố là thương binh hạng ¼, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt : Trên cơ sở tính chất hành vi phạm tội và nhân thân, tiền sự của người phạm tội. Vì vậy, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Song Hội đồng xét xử cũng xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng để lượng giảm một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo yên tâm cải tạo tốt sớm trở về hòa nhập với gia đình và cộng đồng xã hội.

[5.1] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thực hiện hành vi cho vay lãi nặng nhằm mục đích thu lợi bất chính, nên cần áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 201 Bộ luật Hình sự.

[6] Về biện pháp tư pháp: Số tiền mà bị cáo cho vay được xác định làm phương tiện phạm tội là 205.000.000đ (trong đó anh H vay 25.000.000₫ chưa trả cho T), cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với khoản tiền lãi trên 20%/năm bị cáo thu lợi bất chính của người vay nên buộc bị cáo phải trả lại cho những người vay, trừ những người không yêu cầu. Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì anh Phan Văn T2 yêu cầu bị cáo trả lại số tiền thu vượt mức quy định cho mình nên buộc bị cáo trả lại cho anh T2. Còn anh Nguyễn Văn C, anh Nguyễn Trung P, anh Trần Văn H và anh Lê Văn M không yêu cầu bị cáo trả lại khoản tiền này nên Hội đồng xét xử miễn xét.

Đối với khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/ năm là tiền phát sinh từ việc phạm tội nên truy thu của bị cáo để sung quỹ Nhà nước; cụ thể truy thu của T số tiền bị cáo thu lợi 20% từ thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội đến khi bị bắt tạm giữ số tiền là 38.924.000đ.

Tiếp tục tạm giữ số tiền 216.000.000đ của bị cáo không liên quan đến tiền cho vay và tiền lãi cho vay để đảm bảo thi hành án.

[7] Về vật chứng: Hội đồng xét xử nhận thấy công cụ, phương tiện, tiền bạc lên quan đến phạm tội thì tịch thu sung quỹ Nhà nước theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[8] Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2, 3 Điều 201; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Lê Sỹ T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Sỹ T 06 (sáu) tháng tù, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 29/01/2024 đến ngày 04/02/2024. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bắt thi hành án.

Phạt tiền bổ sung 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng):

*Biện pháp tư pháp: Buộc bị cáo Lê Sỹ T phải trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có tên sau với khoản tiền thu lãi vượt quá 20% cụ thể:

Anh Phan Văn T2: 20.533.333đ (Hai mươi triệu năm trăm ba mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba đồng).

* Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Truy thu sung quỹ Nhà nước số tiền 205.000.000đ (Hai trăm linh năm triệu đồng) là tiền làm phương tiện phạm tội gồm:

  • + Bị cáo Lê Sỹ T: 180.000.000đ (Một trăm tám mươi triệu đồng)
  • + Anh Trần Văn H: 25.000.000₫ (Hai mươi lăm triệu đồng).
  • - Truy thu sung quỹ Nhà nước số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm là tiền phát sinh từ việc phạm tội của bị cáo Lê Sỹ T với số tiền là 38.924.000₫ (Ba mươi tám triệu chín trăm hai mươi bốn nghìn đồng).
  • * Tiếp tục tạm giữ số tiền 216.000.000₫ (Hai trăm mười sáu triệu đồng) của Lê Sỹ T để đảm bảo thi hành án. Theo ủy nhiệm chi lập ngày 09/04/2024 tại Kho bạc Nhà nước huyện H.

* Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lê Sỹ T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

* Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

THẨM

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • tòa
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND huyện Hậu Lộc;
  • - Công an huyện Hậu Lộc;
  • - CQ THA hình sự, THA dân sự;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên

Tạ Văn Tuyển

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2024/HS-ST ngày 06/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 23/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger