Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH MIÊN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 23/2024/HS-ST

Ngày 05-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH MIỆN, TỈNH HẢI DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Xuân Hiền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Đình Phúc và bà Nguyễn Thị Lý

Thư ký Tòa án: Ông Vũ Cao Nguyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Xuê - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 7 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm tại Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam - Công an tỉnh H; xét xử sơ thẩm công khai, trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 21/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Xuân H, sinh năm 2002 tại Thái Nguyên. Nơi đăng ký cư trú và cư trú: Xóm A, xã A, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân N và bà Lê Thị H1; bị cáo chưa có vợ, con; gia đình có hai anh em bị cáo là con thứ nhất; tiền sự: Không; tiền án: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 44 ngày 29/12/2023, Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Cướp giật tài sản” (Trong vụ án này bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/6/2023 đến ngày 27/6/2023 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B đến ngày 29/12/2023 được trả tự do tại phiên tòa). Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/3/2024 đến ngày 15/3/2024 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh H đến nay (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Người tiến hành tố tụng tại điểm cầu thành phần: Ông Phạm Sỹ P, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương và ông Bùi Hoàng A, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.

- Những người tham gia tố tụng khác:

  • + Cán bộ, chiến sỹ thuộc Trại tạm giam - Công an tỉnh H tại điểm cầu thành phần: Ông Lê Xuân Q.
  • + Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn N1 và anh Nguyễn Đức H2 (đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 13 giờ 10 phút, ngày 12/3/2024; tại khu vực trước cây ATM của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương. Trong quá trình làm nhiệm vụ, lực lượng cảnh sát điều tra tội phạm về mua túy - Công an huyện T phối hợp với công an xã T phát hiện bắt quả tang Nguyễn Xuân H thực hiện hành vi bán cho đối tượng Nguyễn Văn N1 một túi nilon màu trắng, kích thước khoảng (02x02) cm bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng; H và N1 tự khai là ma túy dạng đá. Cơ quan điều tra đã thu giữ túi ma túy trong lòng tay phải của N1 và thu giữ của H một tờ tiền loại polyme mệnh giá 500.000 đồng trong túi quần phía sau bên trái là tiền H nhận của N1. Đồng thời, cơ quan điều tra còn thu giữ của H một túi nilon màu trắng, kích thước khoảng (02x02) cm bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng được bọc bên ngoài bằng vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng H tự khai là ma túy dạng đá với mục đích nếu gặp người mua thì sẽ bán kiếm lời trước sự chứng kiến của anh Nguyễn Đức H2.

Quá trình điều tra Nguyễn Xuân H khai nhận: Ngày 11/3/2024, H đi xe taxi từ nhà tại Thái Nguyên đến xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương với mục đích tìm việc làm tại các công ty trên địa bàn. Do nghe thông tin ngoài xã hội cho rằng cách huyện T khoảng 6 km là xã N, huyện P, tỉnh Hưng Yên có người nam giới bán ma túy ngoài đường. H nảy sinh ý định sẽ đi mua ma túy nhằm mục đích bán lại cho người có nhu cầu sử dụng để kiếm lời. Đến khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 12/3/2024 H thuê xe taxi không nhớ hãng đi một mình đến địa phận xã N gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 02 túi ma túy dạng đá với giá 600.000 đồng. H cho hai túi ma túy vào vỏ bao thuốc lá Thăng L rồi đút vào túi quần phía trước bên trái, sau đó đi nhờ xe của người trên đường về khu vực thôn T, xã T. Khoảng 13 giờ 10 phút cùng ngày, khi H đang đứng trước cây ATM của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ tại thôn T thì gặp Nguyễn Văn N1 hỏi mua ma túy; H đã đồng ý bán cho N1 01 túi ma túy vừa mua được để nhận về số tiền 500.000 đồng, túi ma túy còn lại H cất giấu với mục đích nếu ai hỏi mua sẽ bán tiếp. Khi H vừa giao túi ma túy cho N1 và nhận số tiền 500.000 đồng thì bị cơ quan điều tra công an huyện T phát hiện bắt giữ.

Tại kết luận giám định số 188/KL-KTHS ngày 15/3/2024, Phòng K - Công an tỉnh H kết luận:

  • Chất rắn (dạng tinh thể) màu trắng trong túi nilon màu trắng được niêm phong trong phong bì ký hiệu M1, ghi thu của Nguyễn Văn N1, gửi đến giám định khối lượng là 0,070 g là ma túy, loại Methamphetamine. Cơ quan giám định trả lại 0,043 g ma túy loại Methamphetamine, 01 vỏ túi nilon, 01 vỏ phong bì ký hiệu M1 được niêm phong trong phong bì ký hiệu T1.
  • Chất rắn (dạng tinh thể) màu trắng trong túi nilon màu trắng được niêm phong trong phong bì ký hiệu M2, ghi thu của Nguyễn Xuân H, gửi đến giám định khối lượng là 0,187 g là ma túy, loại Methamphetamine. Cơ quan giám định trả lại 0,151 g ma túy loại Methamphetamine, 01 vỏ túi nilon, 01 vỏ phong bì ký hiệu M2 được niêm phong trong phong bì ký hiệu T2.

Tại bản cáo trạng số 22/CT-VKS ngày 29/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương truy tố Nguyễn Xuân H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Xuân H thừa nhận bản thân biết M là chất ma túy và là chất Nhà nước cấm lưu hành nhưng vì động cơ và mục đích tư lợi cá nhân, bị cáo đã thực hiện hành vi mua trái phép chất ma túy, cất giấu và bán cho người khác có nhu cầu sử dụng để kiếm lời. Bị cáo nhất trí với kết luận giám định; đồng thời thể hiện thái độ ăn năn hối cải; công nhận Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện đã truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là đúng.

Tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa trình bày quan điểm vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố; đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân H phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt chính: Áp dụng Khoản 1 Điều 251; điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; điểm h (tái phạm) Khoản 1 Điều 52; Khoản 5 Điều 65; Khoản 2 Điều 56; Khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân H từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 18 (mười tám) tháng tù cho hưởng án treo chưa chấp hành về tội “Cướp giật tài sản” tại bản án hình sự sơ thẩm số 44 ngày 29/12/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án từ 03 năm 09 tháng đến 04 năm tù; được trừ thời gian đã tạm giữ, tạm giam trong vụ án trước từ ngày 24/6/2023 đến ngày 29/12/2023. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ trong vụ án này, ngày 12/3/2024.

Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng.

Về biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm b, c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 500.000 đồng là tiền do bị cáo phạm tội mà có.

Tịch thu cho tiêu hủy 01 vỏ phong bì niêm phong tiền.

Tịch thu cho tiêu hủy 0,043 g ma túy loại Methamphetamine, 01 vỏ túi nilon, 01 vỏ phong bì ký hiệu M1, một phong bì ký hiệu T1 và 01 phong bì ký hiệu 188/KLGÐ.

Tịch thu cho tiêu hủy 0,151 g ma túy loại Methamphetamine, 01 vỏ túi nilon, 01 vỏ phong bì ký hiệu M2, một phong bì ký hiệu T2 và 01 phong bì ký hiệu 188/KLGÐ.

Tịch thu cho tiêu hủy 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng.

Tiếp tục quản lý tại hồ sơ 02 đĩa DVD ghi âm, ghi hình và 01 đĩa CD ghi âm các buổi hỏi cung đối với bị cáo.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm hình sự.

Bị cáo Nguyễn Xuân H nhất trí với luận tội, không tham gia tranh luận, thể hiện lời nói sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Trong quá trình điều tra, truy tố; điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Xuân H thừa nhận vào khoảng 13 giờ 10 phút, ngày 12/3/2024; tại khu vực cây ATM của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ tại thôn T, xã T, huyện T - H bị cơ quan điều tra phát hiện bắt quả tang sau khi thực hiện hành vi bán trái phép 0,070 g Methamphetamine cho đối tượng Nguyễn Văn N1 để nhận số tiền 500.000 đồng. Đồng thời, H còn thừa nhận ngoài túi M đã bán cho N1, H còn cất giấu một túi Methamphetamine khác trong người với mục đích nếu ai hỏi mua cũng sẽ bán để kiếm lời.

Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật bị tạm giữ, biên bản mở niêm phong, kết luận giám định. Các tài liệu, chứng cứ này phù hợp với các chứng cứ khác như: Bản tự khai của bị cáo, biên bản ghi lời khai bị cáo, biên bản hỏi cung bị cáo, biên bản ghi lời khai của đối tượng Nguyễn Văn N1 cũng như người làm chứng đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án.

Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; đã thực hiện hành vi mua trái phép chất ma túy, bán lại cho người khác trái phép để kiếm lời với lỗi cố ý; đã trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Với hành vi mua bán trái phép 0,257 g Methamphetamine nên bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện T truy tố và bị đưa ra xét xử về tội danh “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là đủ căn cứ, đúng người thực hiện hành vi phạm tội và đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

theo quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Mặt khác, bị cáo ở với ông bà nội từ nhỏ, lớn lên đang trực tiếp phụng dưỡng ông bà nội; ông, bà nội bị cáo được Nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến; do vậy Hội đồng xét xử coi đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác theo quy định tại Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự cần áp dụng cho bị cáo.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người đã bị kết án, chưa được xóa án tích lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” theo quy định tại điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[5] Về căn cứ quyết định hình phạt:

Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo là người thực hiện hành vi phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nên cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo thì mới có đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa. Mặt khác, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời gian thử thách của án treo nên buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án này để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án theo quy định tại Khoản 5 Điều 65 và Khoản 2 Điều 56 của Bộ luật hình sự.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mua bán trái phép chất ma túy nhưng là người không có công việc, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về biện pháp tư pháp:

Toàn bộ số Methamphetamine; các vỏ túi nilon; các vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định và các vỏ phong bì cơ quan giám định niêm phong mẫu vật hoàn trả; vỏ bao thuốc lá T. Xét Methamphetamine là chất Nhà nước cấm lưu hành, các vỏ túi nilon, vỏ bao thuốc lá Thăng L và các vỏ phong bì không còn giá trị sử dụng nên tịch thu cho tiêu hủy.

Đối với số tiền 500.000 đồng là tiền do bị cáo phạm tội mà có nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Đối với 02 đĩa DVD ghi âm, ghi hình và 01 đĩa CD ghi âm các buổi hỏi cung được xác định là tài liệu có trong hồ sơ vụ án nên tiếp tục quản lý tại hồ sơ.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Về các vấn đề khác:

Hành vi bán Methamphetamine cho H của người đàn ông không xác định được nên không có căn cứ xử lý.

Đối tượng Nguyễn Văn N1 là người chưa bị xử lý hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, chưa bị kết án về các tội về ma túy nên hành vi mua 0,070g Methamphetamine của N1 nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân không đủ yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 11/4/2024,

Công an huyện T đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Văn N1 là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 251; điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; điểm h (tái phạm) Khoản 1 Điều 52; Khoản 1 Điều 38; Khoản 5 Điều 65; Khoản 2 Điều 56; điểm a, b, c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c Khoản 2 Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân H 28 (hai mươi tám) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 18 (mười tám) tháng tù cho hưởng án treo chưa chấp hành về tội “Cướp giật tài sản” tại bản án hình sự sơ thẩm số 44 ngày 29/12/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 46 (bốn mươi sáu) tháng tù (được trừ thời gian đã tạm giữ, tạm giam trong vụ án trước từ ngày 24/6/2023 đến ngày 29/12/2023). Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ trong vụ án này, ngày 12/3/2024.
  3. Về biện pháp tư pháp:
    • Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 500.000 đồng là tiền do bị cáo phạm tội mà có.
    • Tịch thu cho tiêu hủy 01 vỏ phong bì niêm phong tiền.
    • Tịch thu cho tiêu hủy 0,043 g ma túy loại Methamphetamine, 01 vỏ túi nilon, 01 vỏ phong bì ký hiệu M1, một phong bì ký hiệu T1 và 01 phong bì ký hiệu 188/KLGÐ.
    • Tịch thu cho tiêu hủy 0,151 g ma túy loại Methamphetamine, 01 vỏ túi nilon, 01 vỏ phong bì ký hiệu M2, một phong bì ký hiệu T2 và 01 phong bì ký hiệu 188/KLGÐ.
    • Tịch thu cho tiêu hủy 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng.
    • (Vật chứng trên theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/6/2024 giữa cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Miện).
    • Tiếp tục quản lý tại hồ sơ 02 đĩa DVD ghi âm, ghi hình và 01 đĩa CD ghi âm các buổi hỏi cung đối với bị cáo.
  4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Xuân H phải chịu 200.000 đồng án phí sơ thẩm hình sự.
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Xuân H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND huyện Thanh Miện;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương;
  • - Trại tạm giam-Công an tỉnh Hải Dương;
  • - Công an huyện Thanh Miện;
  • - CQ CSĐT công an huyện Thanh Miện;
  • - CQ THAHS công an tỉnh Hải Dương;
  • - CQ THAHS công an huyện Thanh Miện;
  • - Chi cục THADS huyện Thanh Miện;
  • - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương;
  • - TAND thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh;
  • - TAND huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.
  • - Lưu VP-НСТР.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lê Xuân Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2024/HS-ST ngày 05/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH MIỆN, TỈNH HẢI DƯƠNG về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 23/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH MIỆN, TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: khoảng 13 giờ 10 phút, ngày 12/3/2024; tại khu vực cây ATM của Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam tại thôn T, xã T, huyện Thanh Miện - H bị cơ quan điều tra phát hiện bắt quả tang sau khi thực hiện hành vi bán trái phép 0,070 g Methamphetamine cho đối tượng Nguyễn Văn N để nhận số tiền 500.000 đồng. Đồng thời, H còn thừa nhận ngoài túi Methamphetamine đã bán cho N, H còn cất giấu một túi Methamphetamine khác trong người với mục đích nếu ai hỏi mua cũng sẽ bán để kiếm lời.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger