|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - hạnh phúc |
Bản án số: 23/2025/KDTM-PT
Ngày 11-6-2025
V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Xuân Quang; |
| Các Thẩm phán: | Ông Trần Nam Phương; |
| Ông Nguyễn Đình Trung. |
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Sơn – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai: Bà Nguyễn Ngọc Lan - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 11 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 32/2024/TLPT-KDTM ngày 10 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng".
Do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số: 04/2024/KDTM-ST ngày 29-3-2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 18/2025/QĐ-PT ngày 21 tháng 3 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 22/2025/QĐ-PT ngày 11 tháng 4 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 36/2025/QĐ-PT ngày 12 tháng 5 năm 2025; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ.
Địa chỉ: T, số A T, phường L, quận H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 03/01/2024): Ông Đinh Nho Á, sinh năm 1981.
Địa chỉ liên hệ: Tổ I, khu B, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai (có mặt).
- Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một Thành Viên (MTV) Văn Tiến N.
Địa chỉ: Số F P, Khu phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Văn Văn N, sinh năm 1975.
Địa chỉ: Số B Khu phố 1, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (hiện đang chấp hành án tại Trại giam T1 – Bộ C) (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Văn Văn N, sinh năm 1975.
Địa chỉ: Số B Khu phố I, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (hiện đang chấp hành án tại Trại giam T1 – Bộ C).
Người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 29-11-2023): Ông Lê Hồng L, sinh năm 1984; địa chỉ liên hệ: Số I đường L, Khu phố D, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (có mặt).
2. Chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1993.
3. Chị Nguyễn Thị B, sinh năm 1998.
Cùng địa chỉ: Số B Khu phố I, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
1. Nội dung chính:
1.1. Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển Thành phố H và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 03/08/2017, Ngân hàng đã cấp cho Công ty TNHH MTV V hạn mức tín dụng thường xuyên với tổng số tiền 30.000.000.000 (ba mươi tỷ) đồng theo hợp đồng tín dụng số 01/2017/2837428/HĐTD ngày 03/08/2017 được ký giữa Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh Đ1 với khách hàng là Công ty TNHH MTV V, mục đích vay: Bổ sung vốn lưu động; thời hạn: 12 tháng; lãi trong hạn: Theo từng giấy đề nghị giải ngân kiêm hợp đồng tín dụng cụ thể; lãi quá hạn: 150% lãi suất trong hạn; trường hợp lãi suất trong hạn được điều chỉnh thì lãi suất nợ quá hạn sẽ tính theo mức lãi suất trong hạn đã được điều chỉnh.
Tài sản đảm bảo cho hợp đồng tín dụng nêu trên gồm: Quyền sử dụng đất diện tích 68,8 m² thuộc thửa số 22 tờ bản đồ số 04 phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (theo hợp đồng thế chấp số 01/2017/2837428/HĐBĐ ngày 03/8/2017); quyền sử dụng đất diện tích 33.055 m² thuộc thửa số 117 tờ bản đồ số 39 xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai và quyền sử dụng đất diện tích 9.568 m² thuộc thửa số 1426 tờ bản đồ số 39 xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai (theo hợp đồng thế chấp số 02/2017/2837428/HĐBĐ ngày 03/8/2017); quyền sử dụng đất diện tích 287,8 m² và nhà ở trên đất thuộc thửa số 40 tờ bản đồ số 55 phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, quyền sử dụng đất diện tích 490,4 m² và nhà ở trên đất thuộc thửa số 83 tờ bản đồ số 50 phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, quyền sử dụng đất diện tích 72 m² thuộc thửa số 199 tờ bản đồ số 02 phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai và quyền sử dụng đất diện tích 220,8 m² và nhà ở trên đất thuộc thửa số 34 tờ bản đồ số 25 phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (theo hợp đồng thế chấp số 03/2017/2837428/HĐBĐ ngày 03/8/2017); 01 xe ô tô hiệu Land Rover, 01 trạm trộn bê tông nhựa nóng TSAP-1500FFW hiệu Speco (theo hợp đồng thế chấp số 04/2017/2837428/HĐBĐ ngày 03/8/2017).
Sau khi ký kết hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp, Ngân hàng đã giải ngân cho Công ty TNHH MTV V tổng số tiền 29.906.934.390 đồng, cụ thể như sau:
- Theo hợp đồng tín dụng cụ thể ngày 08/8/2017, Ngân hàng đã giải ngân cho Công ty TNHH MTV V số tiền 10.000.000.000 đồng để thanh toán tạm ứng mua vật tư CT theo hợp đồng số 2006/2017/HĐKT cho Công ty cổ phần D1 (Ngân hàng chuyển vào tài khoản của Công ty cổ phần D1, số tài khoản 67010000879338 tại Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh Đ1 vào ngày 08/8/2017);
- Theo hợp đồng tín dụng cụ thể ngày 09/8/2017, Ngân hàng đã giải ngân cho Công ty TNHH MTV V tổng số tiền 5.967.934.390 đồng, cụ thể: Chuyển vào tài khoản của Công ty cổ phần S, số tài khoản 006704070002833 tại Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H, số tiền 200.000.000 đồng vào ngày 08/8/2017 có nội dung Công ty TNHH MTV V thanh toán tiền mua cát nghiền rửa theo hợp đồng số 0520/HĐKT-05-2017; Chuyển vào tài khoản của Công ty TNHH MTV N, số tài khoản 060069272099 tại Ngân hàng TMCP S1 chi nhánh H Thành phố Hồ Chí Minh, số tiền 240.000.090 đồng vào ngày 08/8/2017, có nội dung Công ty TNHH MTV V thanh toán tiền đầu DO theo hợp đồng số 03/2017/HĐMB; chuyển vào tài khoản của Công ty TNHH MTV H, số tài khoản 0407040799999 tại Ngân hàng Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H chi nhánh Đ1, số tiền: 566.921.800 đồng vào ngày 08/8/2017, có nội dung Công ty TNHH MTV V thanh toán tiền đá theo hợp đồng số 512/HĐMB/2016/HLP-VTN; chuyển vào tài khoản của Chi nhánh Công ty cổ phần X tại P, số tài khoản 67210000311162 tại Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh Đ1, số tiền 200.000.000 đồng vào ngày 08/8/2017, có nội dung Công ty TNHH MTV V thanh toán tiền mua cát nghiền rửa theo hợp đồng số 0520/HĐKT-05-2017 Chi nhánh Công ty cổ phần X tại P; chuyển vào tài khoản của Công ty B1 số tài khoản 67010000361543 tại Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh Đ1, số tiền 145.612.500 đồng vào ngày 08/8/2017, có nội dung Công ty TNHH MTV V thanh toán tiền mua bảo hiểm theo hợp đồng số 09172786 và HĐ số 09172815; chuyển vào tài khoản của Công ty cổ phần S, số tài khoản 006704070000125 tại Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H – Chi nhánh C1, số tiền 1.100.000.000 đồng vào ngày 08/8/2017, có nội dung Công ty TNHH MTV V thanh toán tiền bê tông nhựa nóng theo hợp đồng số 18C1/HĐBTNN-11-2016; chuyển vào tài khoản của Công ty TNHH T2, số tài khoản 72278969 tại Ngân hàng Á1 phòng giao dịch Bùi Đình T, số tiền 195.800.000 đồng vào ngày 08/8/2017, có nội dung Công ty TNHH MTV V thanh toán tiền còn lại lắp thang máy theo hợp đồng HCM7916/HĐKT; chuyển vào tài khoản của Công ty TNHH MTV D, số tài khoản 67010000796330 tại Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh Đ1, số tiền 3.328.600.000 đồng vào ngày 08/8/2017, có nội dung Công ty TNHH MTV V thanh toán tiền vật tư công trình theo hợp đồng số 12/2017 HĐKT.
- Theo hợp đồng tín dụng cụ thể ngày 14/8/2017, Ngân hàng đã giải ngân cho Công ty TNHH MTV V số tiền 10.000.000.000 đồng để thanh toán tạm ứng mua vật tư CT theo hợp đồng số 19-170308/HĐKT-VTN-PN Công ty Cổ Phần V (Ngân hàng chuyển vào tài khoản của Công ty Cổ phần V, số tài khoản 67010000719993 tại Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh Đ1 vào ngày 21/8/2017);
- Theo hợp đồng tín dụng cụ thể ngày 21/8/2017, Ngân hàng đã giải ngân cho Công ty TNHH MTV V số tiền 3.400.000.000 đồng để thanh toán số tiền còn lại mua bê tông nhựa theo hợp đồng số 2006/2017/HĐKT cho Công ty cổ Phần V (Ngân hàng chuyển vào tài khoản của Công ty Cổ Phần V, số tài khoản 67010000719993 Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh Đ1 vào ngày 21/8/2017);
Trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp là ông Văn Văn N có những sai phạm ở tổ chức tín dụng khác nên đã bị kết án và phải chấp hành án tại Trại giam T1 (Z30D) tại thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Mặc dù, Ngân hàng đã nhiều lần làm việc, đôn đốc nhưng Công ty vẫn không thể trả nợ theo đúng cam kết, Công ty vẫn còn nợ Ngân hàng số tiền nợ gốc là 29.825.834.549 đồng, lãi tạm tính đến ngày 29/3/2024 là 19.521.538.923 đồng, tổng cộng là 49.347.373.472 đồng (bốn mươi chín tỷ ba trăm bốn mươi bảy triệu ba trăm bảy mươi ba nghìn bốn trăm bảy mươi hai) đồng. Do đó, Ngân hàng TMCP Đ khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết:
Buộc bị đơn Công ty TNHH MTV V trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ tổng số tiền 49.347.373.472 đồng (bốn mươi chín tỷ ba trăm bốn mươi bảy triệu ba trăm bảy mươi ba nghìn bốn trăm bảy mươi hai) đồng và toàn bộ tiền lãi phát sinh cho đến ngày thanh toán hết nợ theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng, hợp đồng cấp bảo lãnh.
Trường hợp bị đơn không thanh toán được toàn bộ số tiền nêu trên, Ngân hàng đề nghị Tòa tuyên Ngân hàng có quyền yêu cầu thi hành án phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 34 tờ bản đồ số 25 phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai và tài sản trên đất, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 4701202442 do Ủy ban nhân dân tỉnh Đ cấp cho ông Văn Văn N 18/04/2003 để đảm bảo thu hồi khoản nợ vay.
1.2. Tại bản tự khai, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Văn Văn N đồng thời là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH MTV V trình bày:
Năm 2004, ông thành lập doanh nghiệp tư nhân V1, đến năm 2008 chuyển đổi thành Công ty TNHH MTV V. Tháng 8/2017, Công ty TNHH MTV V có ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ – Chi nhánh L1, hình thức hợp đồng tín dụng hạn mức tối đa không quá 30.000.000.000 đồng, giải ngân nhiều đợt theo giấy nhận nợ của lần giải ngân đó, giải ngân được bao nhiêu cần có bản đối chiếu công nợ của hai bên. Tài sản thế chấp bằng bất động sản hợp pháp của Công ty theo thẩm định giá tại thời điểm cho vay là 45.000.000.000 đồng, Ngân hàng cho vay 70% giá trị tài sản thế chấp. Ngoài ra, ông không thế chấp thêm tài sản cá nhân nào khác để đảm bảo cho việc vay tiền của Công ty. Đến ngày 23/11/2017 ông bị bắt về hành vi vi phạm từ Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở T3, tại phiên tòa hình sự sơ thẩm và phúc thẩm đã tịch thu toàn bộ tài sản của ông để khắc phục hậu quả. Về phía Ngân hàng Đ - Chi nhánh L1 cũng không bảo vệ quyền và lợi ích của Ngân hàng cũng như trách nhiệm giữ gìn tài sản hợp pháp của Công ty TNHH MTV V đã giao cho ngân hàng, đồng nghĩa với việc Ngân hàng đã chấp nhận rủi ro mà chưa được sự đồng ý của Công ty TNHH MTV V.
Nay Ngân hàng khởi kiện và yêu cầu phát mãi tài sản là nhà đất thuộc thửa đất số 34 tờ bản đồ số 25 tọa lạc tại địa chỉ 2 Khu phố I, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai để đảm bảo việc thanh toán nợ ông không đồng ý vì Ngân hàng còn giữ 30 % tài sản của Công ty TNHH MTV V đã thế chấp để đảm bảo cho hợp đồng tín dụng, ông không đồng ý dùng tài sản cá nhân của gia đình ông để đảm bảo thanh toán nợ cho Công ty TNHH MTV V. Nhà và đất thuộc thửa đất số 34 tờ bản đồ số 25 tọa lạc tại địa chỉ 2 Khu phố I, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai trước đây ông có ký hợp đồng tín dụng với tư cách cá nhân để vay mục đích tiêu dùng, thẩm định giá là 4.000.000.000 đồng, đề nghị cho vay 1.900.000.000 đồng nhưng trong thời gian chờ Ngân hàng giải ngân thì ông bị bắt nên chưa nhận được khoản vay này. Nhà và đất trên hiện nay có vợ và con gái ông (mới 10 tuổi) đang sinh sống nên ông đề nghị được giữ lại căn nhà trên làm chỗ ở cho vợ con ông tiếp tục sinh sống.
1.3. Tại phiên tòa, ông Lê Hồng L là đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Văn Văn N trình bày:
Công ty TNHH MTV V có ký hợp đồng tín dụng số 01/2017/2837428/HĐTD ngày 03/08/2017 với Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh Đ1, hạn mức tín dụng là 30.000.000.000 (ba mươi tỷ) đồng. Sau khi ký kết hợp đồng tín dụng, Ngân hàng đã giải ngân cho Công ty TNHH MTV V tổng số tiền 29.906.934.390 đồng theo đại diện ngân hàng trình bày là đúng. Về tài sản thế chấp cho khoản vay tín dụng nêu trên gồm có tài sản của Công ty TNHH MTV V và của cá nhân ông Công ty TNHH MTV V theo các hợp đồng thế chấp mà Ngân hàng đã trình bày là đúng. Ông xác nhận Công ty TNHH MTV V còn nợ Ngân hàng số tiền nợ gốc là 29.825.834.549 đồng, lãi tạm tính đến ngày 29/3/2024 là 19.521.538.923 đồng, tổng cộng là 49.347.373.472 đồng (bốn mươi chín tỷ ba trăm bốn mươi bảy triệu ba trăm bảy mươi ba nghìn bốn trăm bảy mươi hai) đồng. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ ông Văn Văn N có ý kiến như sau: Tổng số tài sản thế chấp cho khoản vay tín dụng của Công ty theo thẩm định giá tại thời điểm cho vay là 45.000.000.000 đồng, theo nội dung bản án hình sự phúc thẩm xét xử ông Văn Văn N đã tịch thu toàn bộ các tài sản đã thế chấp, ngoại trừ tài sản nhà và đất thuộc thửa đất số 34 tờ bản đồ số 25 tọa lạc tại địa chỉ 2 khu phố I, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Về phía Ngân hàng Đ khi tham gia phiên tòa hình sự nêu trên đã không bảo vệ quyền và lợi ích của ngân hàng cũng như trách nhiệm giữ gìn tài sản hợp pháp của Công ty TNHH MTV V đã giao cho ngân hàng, đồng nghĩa với việc Ngân hàng đã chấp nhận rủi ro. Do vậy, Công ty TNHH MTV V chỉ đồng ý thanh toán nợ nếu Ngân hàng giao trả được cho Công ty các tài sản mà Công ty đã thế chấp hợp pháp. Đối với yêu cầu tài sản đảm bảo là nhà và đất thuộc thửa đất số 34 tờ bản đồ số 25 tọa lạc tại địa chỉ 2 khu phố I, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, ông Văn Văn N không đồng ý vì những lý do đã nêu ở trên; ngoài ra, đề nghị Tòa án xem xét hiện nay ông Văn Văn N đang phải chấp hành hình phạt tù, nhà đất nêu trên là tài sản duy nhất còn lại của ông Văn Văn N. Do đó, đề nghị Ngân hàng giải chấp trả lại tài sản nhà đất nêu trên cho ông Văn Văn N. Hiện nay những người đang sinh sống trên nhà đất nêu trên gồm có chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1993 (vợ của ông văn Văn N) và chị Nguyễn Thị B, sinh năm 1998 (em của chị D).
2. Quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm:
Tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số: 04/2024/KDTM-ST ngày 29-3-2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành đã quyết định:
- - Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228, 238, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- - Áp dụng các Điều 357, 463, 466, 470, 688 Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi bổ sung năm 2017);
- - Áp dụng Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Án lệ số 08/2016/AL của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/8/2016 và công bố theo Quyết định số 698/QĐ.CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
- - Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng đối với bị đơn Công ty TNHH MTV V.
Buộc Công ty TNHH MTV V phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ số tiền nợ gốc: 29.825.834.549 đồng, lãi tạm tính đến ngày 29/3/2024 là 19.521.538.923 đồng, tổng cộng là 49.347.373.472 đồng (bốn mươi chín tỷ ba trăm bốn mươi bảy triệu ba trăm bảy mươi ba nghìn bốn trăm bảy mươi hai) đồng.
Kể từ ngày 30/3/2024, Công ty TNHH MTV V còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 01/2017/2837428/HĐTD ngày 03/8/2017 cho đến khi thanh toán xong nợ gốc. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà Công ty TNHH MTV V phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với mức lãi suất của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ.
Trường hợp Công ty TNHH MTV V không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất diện tích 220,8 m² thuộc thửa đất số 34, tờ bản đồ số 25 phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai và tài sản gắn liền với đất là nhà ở kết cấu tường gạch, mái tôn, cột gạch theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 4701202442 do Ủy ban nhân dân tỉnh Đ cấp ngày 18/04/2003, cập nhật thay đổi chủ sử dụng đất cho ông Văn Văn N ngày 13/7/2009 (tài sản được thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số 03/2017/2837428/HĐTD ngày 03/8/2017 và đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 04/8/2017) để thu hồi nợ.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
3. Về kháng cáo:
Trong thời hạn luật định, người đại diện theo ủy quyền của ông Văn Văn N kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm tuyên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tuyên tài sản nhà và đất thuộc thửa đất số 34 tờ bản đồ số 25 tọa lạc tại địa chỉ số B, Khu phố I, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai là tài sản đảm bảo cho khoản vay tín dụng của Công ty TNHH MTV V với Ngân hàng TMCP Đ.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu Công ty TNHH MTV V thanh toán tiền lãi phát sinh từ khoản vay liên quan đến tài sản thế chấp là nhà và đất thuộc thửa đất số 34 tờ bản đồ số 25 tọa lạc tại địa chỉ số B, Khu phố I, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
4. Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm:
- Về chấp hành pháp luật tố tụng:
- + Từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử, Tòa án cấp phúc thẩm đã chấp hành đúng quy định pháp luật tố tụng, ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử đúng thời hạn. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về trình tự phiên tòa phúc thẩm.
- + Việc chấp hành pháp luật tố tụng của các đương sự: các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật theo quy định tại các Điều 70, 71, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án và kháng cáo của đương sự:
Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của bên thứ ba được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật để đảm bảo khoản vay theo hợp đồng tín dụng của Công ty TNHH MTV V; do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên buộc Công ty có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng và tài sản bảo đảm theo hợp đồng thế chấp đã được ký kết giữa các bên là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Ông Văn Văn N kháng cáo cho rằng hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của ông để đảm bảo khoản vay tiêu dùng với số tiền 1.900.000.000 đồng nhưng không cung cấp được tài liệu chứng cứ, chứng minh nên không có cơ sở chấp nhận.
Từ những căn cứ trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; không chấp nhận kháng cáo của người kháng cáo ông Văn Văn N, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Long Thành.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
[1] Về thủ tục kháng cáo:
Kháng cáo của ông Văn Văn N thực hiện trong thời hạn, đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm nên được xem xét.
[2] Về tố tụng:
- - Về quan hệ pháp luật: Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” là đúng quy định pháp luật.
- - Về tư cách tham gia tố tụng: Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện, hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp và kết quả xem xét thẩm định tại chỗ; Tòa án cấp sơ thẩm xác định tư cách đương sự đúng và đầy đủ.
[3] Về nội dung vụ án và kháng cáo:
Sau khi xác lập hợp đồng tín dụng hạn mức số 01/2017/2837428/HĐTD ngày 03/08/2017 để vay vốn của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ với mục đích bổ sung vốn lưu động, bảo lãnh. Công ty TNHH MTV V đã ký các hợp đồng tín dụng cụ thể: Hợp đồng tín dụng ngày 08/08/2017, ngày 09/8/2017; ngày 14/8/2017, ngày 21/8/2017. Tổng số tiền Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ đã giải ngân cho Công ty TNHH MTV V vay là 29.906.934.390 (hai mươi chín tỷ chín trăm lẻ sáu triệu chín trăm ba mươi bốn nghìn ba trăm chín mươi) đồng.
Để đảm bảo cho các khoản vay theo hợp đồng tín dụng, các bên đã ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ngày 03/08/2017; trong đó, có thế chấp quyền sử dụng đất diện tích 220,8 m² và nhà ở trên đất thuộc thửa số 34 tờ bản đồ số 25 phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (theo hợp đồng thế chấp số 03/2017/2837428/HĐBĐ ngày 03/8/2017); hợp đồng thế chấp tài sản trên được công chứng và đăng ký thế chấp, được Văn phòng đăng ký đất đai xác nhận biến động theo đúng quy định của pháp luật nên có hiệu lực.
Ngoài ra, việc thế chấp quyền sử dụng đất đã được xác định trong bản án có hiệu lực pháp luật là tình tiết không phải chứng minh theo điểm đ khoản 1 Điều 2 của Bộ luật Tố tụng dân sự; cụ thể: Theo nội dung Bản án hình sự phúc thẩm số 363/2020/HS-PT ngày 29/6/2020 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã nhận định: “Đối với thửa đất số 34, tờ bản đồ số 25, phường H, thành phố B bị cáo N nhận chuyển nhượng vào ngày 06/7/2009 là tài sản bị cáo tạo lập trước thời điểm thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, không được coi là do phạm tội chiếm đoạt mà có, nên cần hủy việc kê biên để đảm bảo quyền lợi cho bên nhận thế chấp là Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ – Chi nhánh Đ1 theo quy định của pháp luật”. Đối với các tài sản thế chấp còn lại được xác định là tạo lập trong thời gian thực hiện hành vi chiếm đoạt, vì vậy cần tiếp tục kê biên để đảm bảo thu hồi khoản tiền đã chiếm đoạt cho các bị hại.
Như vậy, tài sản thế chấp của ông Văn Văn N được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục của pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm; không phải là tài sản hình thành do phạm tội mà có nên việc Tòa án cấp sơ thẩm tuyên tài sản thế chấp trên để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án theo các hợp đồng tín dụng của Công ty TNHH MTV V có căn cứ; đúng quy định của pháp luật.
Người kháng cáo cho rằng tài sản trên được thế chấp chỉ để đảm bảo cho khoản vay tiêu dùng 1.900.000.000 đồng là không có căn cứ. Tại cấp phúc thẩm, người kháng cáo không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh nên không có cơ sở chấp nhận; do đó, giữa nguyên Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Long Thành.
[4] Quan điểm của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai
đề nghị không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Về án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm:
Do kháng cáo không được chấp nhận nên người kháng cáo phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của ông Văn Văn N; giữ nguyên bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số: 04/2024/KDTM-ST ngày 29-3-2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành.
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228, 238, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng các Điều 357, 463, 466, 470, 688 Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi bổ sung năm 2017);
Áp dụng Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Án lệ số 08/2016/AL của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/8/2016 và công bố theo Quyết định số 698/QĐ.CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” đối với bị đơn Công ty TNHH MTV V.
Buộc Công ty TNHH MTV V phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ số tiền 49.347.373.472 đồng (bốn mươi chín tỷ ba trăm bốn mươi bảy triệu ba trăm bảy mươi ba nghìn bốn trăm bảy mươi hai đồng); trong đó, nợ gốc: 29.825.834.549 đồng, nợ lãi tính đến ngày 29/3/2024 là 19.521.538.923 đồng.
Kể từ ngày 30/3/2024, Công ty TNHH MTV V còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 01/2017/2837428/HĐTD ngày 03/8/2017 cho đến khi thanh toán xong nợ gốc. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà Công ty TNHH MTV V phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với mức lãi suất của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ.
Trường hợp Công ty TNHH MTV V không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất diện tích 220,8 m² thuộc thửa đất số 34, tờ bản đồ số 25 phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai và tài sản gắn liền với đất là nhà ở kết cấu tường gạch, mái tôn, cột gạch theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 4701202442 do Ủy ban nhân dân tỉnh Đ cấp ngày 18/04/2003, cập nhật thay đổi chủ sử dụng đất cho ông Văn Văn N ngày 13/7/2009 (tài sản được thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số 03/2017/2837428/HĐTD ngày 03/8/2017 và đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 04/8/2017) để thu hồi nợ.
2. Về án phí:
2.1. Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
Công ty TNHH MTV V phải chịu 157.347.373 (một trăm năm mươi bảy triệu ba trăm bốn mươi bảy nghìn ba trăm bảy mươi ba) đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ số tiền 76.482.000 (bảy mươi sáu triệu bốn trăm tám mươi hai nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tiề tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006649 ngày 09/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành.
2.2. Án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm:
Ông Văn Văn N phải chịu 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) đã nộp (do ông Lê Hồng L nộp thay) tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0015799 ngày 15-5-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành. Ông Văn Văn N đã nộp đủ.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 23/2025/KDTM-PT ngày 11/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 23/2025/KDTM-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2025
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của người kháng cáo
