Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ PHÚ THỌ

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc.

Bản án số : 23/2025/HSST

Ngày 27/5/2025

NHÂN DANH

NỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Bà Trần Thị Lệ T
  • - Các hội thẩm nhân dân :
    1. Ông Nguyễn Anh V;
    2. Bà Phạm Thị H.
  • - Thư ký toà án ghi biên bản phiên toà : Bà Đinh Thị Thu H1 – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ .
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã P tham gia phiên toà: Bà Phan Tường L - Kiểm sát viên.

Trong ngày 27/5/2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ - tỉnh Phú Thọ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 18/2025/HSST ngày 29/4/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2025/QĐXXST-HS ngày 14/5/2025 đối với bị cáo:

Cao Mạnh T1; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 13/10/1988, tại thị xã P, tỉnh Phú Thọ. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: KDC Q, phường Â, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ văn hoá: 05/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Đoàn thể: Không. Con ông: Cao Bộ L1 (Đã chết). Con bà: Nguyễn Thị Kim D, sinh năm 1966. Vợ: Hà Thị Hoài N, sinh năm: 1992. Con: Có 02 con (con lớn sinh năm: 2011, con nhỏ sinh năm: 2019); Tiền án: có 01 tiền án: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 31 ngày 17/9/2019, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ, xử phạt 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 60 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, về tội đánh bạc. Chấp hành xong hình phạt chính ngày 17/9/2024, nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng ngày 12/12/2019, nộp khoản tiền phạt bổ sung 20.000.000 đồng và tiền truy thu 52.150.000 đồng ngày 17/02/2025. Tiền sự: Không. Nhân thân: Tại Quyết định số 02 ngày 30/01/2004, Công an phường P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ, xử phạt vi phạm hành chính đối với Cao Mạnh T2 về hành vi đánh bạc, hình thức phạt tiền, mức phạt 250.000 đồng. T1 đã chấp hành xong ngày 02/02/2004.

Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam; Bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường Â, thị xã P từ ngày 17/02/2025 cho đến khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm. Hôm nay có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Nguyễn Mạnh C, sinh năm 1998
    Địa chỉ: Bản Xéo Xin Chải, xã San Thàng, TP. Lai Châu, tỉnh Lai Châu
  2. Anh Trần Hữu Q, sinh năm 1994
    Địa chỉ: Khu N, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ.
  3. Chị Bạch Thị Ánh T3, sinh năm 2002
    Địa chỉ: Khu E, xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ.
  4. Anh Lê Việt D1, sinh năm 1984
    Địa chỉ: Khu N, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ
  5. Anh Lê Anh T4, sinh năm 1998
    Địa chỉ: Khu E, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau :

Hồi 18 giờ 10 phút ngày 14/02/2025, tại quán bán bia của Cao Mạnh T1, sinh năm 1988, trú tại KDC Q, phường Â, thị xã P, tỉnh Phú Thọ, thuê tại địa chỉ KDC N, phường Â, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Cơ quan CSĐT Công an thị xã P, tỉnh Phú Thọ kiểm tra, phát hiện Cao Mạnh T1 đã thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề qua ứng dụng Zalo, T5 và tin nhắn SMS (tin nhắn thường). Vật chứng thu giữ: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 3, màu đen, số IMEI 1: 860202042649617, số IMEI 2: 860202042649609, bên trong lắp sim số 0376194314 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max, màu tím, số IMEI: 350636273884434 bên trong lắp sim số 0567668999 và 0971949953.

Kết quả khai thác dữ liệu chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 3 bên trong lắp sim số 0376194314 xác định trong ngày 14/02/2025, Cao Mạnh T1 bán số lô, số đề cho những người sau:

  • Bán qua tin nhắn SMS cho anh Nguyễn Mạnh C, sinh năm 1998, HKTT: Bản X, xã S, TP ., tỉnh Lai Châu từ số điện thoại 0866.909.xxx của anh C đến số điện thoại 0376.194.xxx của T1 gồm: số lô 03, 99 = 100 điểm/số. Tổng số tiền anh C mua số lô của T1 là 4.600.000 đồng. Anh C đã thanh toán số tiền trên cho T1.
  • Bán qua tin nhắn SMS cho anh Lê Anh T4, sinh năm 1998, HKTT: Khu E, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ từ số điện thoại 0978.205.xxx của anh T4 đến số điện thoại 0376.194.xxx của T1 gồm: số lô 67, 06, 59 = 20 điểm/số; số lô 76 = 40 điểm. Tổng số tiền anh T4 mua số lô của T1 là 2.300.000 đồng. Anh T4 chưa thanh toán tiền cho T1.
  • Bán qua tin nhắn trên ứng dụng Zalo cho anh Trần Hữu Q, sinh năm 1994, HKTT: khu N, xã H, thị xã P từ tài khoản zalo “Gấu Ka” của anh Q đến tài khoản zalo “Như Y” đăng ký bằng số điện thoại 0376.194.xxx của T1 gồm: số lô 81, 91 = 5 điểm/số; số đề 66 = 20.000 đồng; số đề 52, 63 25, 36, 18, 57, 81, 77 = 10.000 đồng/số. Tổng số tiền anh Q mua số lô, số đề của T1 là 330.000 đồng. Anh Q chưa thanh toán tiền cho T1.
  • Bán qua tin nhắn trên ứng dụng Telegram cho chị Bạch Thị Ánh T3, sinh năm 2002, HKTT: khu E, xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ từ tài khoản T5 có tên “Ac Ma” của T1 đến tài khoản T5 có tên “ánh tuyết” của chị T3 gồm: số lô 89, 98 = 10 điểm/số; số đề 90, 95, 92, 93, 97, 98, 69, 59, 09, 29, 39, 89, 79, 59 = 20.000 đồng/số; các số đề dây 02, 04, 23, 34 mỗi dây mua 80.000 đồng (mỗi dây có 08 số đề, lần lượt là 57, 75, 25, 52, 02, 20, 07, 70, 04, 40, 09, 90, 54, 45, 95, 59, 23, 32, 87, 78, 28, 82, 37, 73, 34, 43, 89, 98, 39, 93, 84, 48 = 10.000 đồng/số); số lô 39 = 10 điểm; số lô 98 = 5 điểm. Tổng số tiền chị T3 mua số lô, số đề của T1 là 1.405.000 đồng. Chị T3 chưa thanh toán tiền cho T1.

Kết quả khai thác dữ liệu chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max bên trong lắp sim số 0567668999 và 0971949953 xác định trong ngày 14/02/2025, Cao Mạnh T1 bán số lô, số đề như sau:

  • Bán qua tin nhắn trên ứng dụng Messenger cho anh Lê Việt D1, sinh năm 1984, HKTT: khu N, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ từ tài khoản Messenger có tên “Dũng T6” của anh D1 đến tài khoản M có tên “Mạnh Thắng” của T1 số lô 14 = 100 điểm. Tổng số tiền anh D1 mua số lô của T1 là 2.300.000 đồng. Anh Dũng chưa thanh toán tiền cho T1.

Tổng số tiền số lô, số đề Cao Mạnh Thắng đã bán cho anh Nguyễn Mạnh C, Lê Anh T4, Trần Hữu Q, Lê Việt D1 và chị Bạch Thị Ánh T3 là 10.935.000 đồng. Ngoài ra, T1 còn bán cho 02 người khác chưa rõ danh tính với tổng số tiền 21.894.000 đồng, cụ thể:

  • Bán qua tin nhắn Zalo từ tài khoản có tên “Dlen Bien” (không hiện số điện thoại đăng ký) đến tài khoản “Như Y” của T1 gồm: số lô 25, 27 = 25 điểm/số; số lô 36, 38 = 10 điểm/số; số lô 33, 37, 54 = 5 điểm/số; số lô 71 = 10 điểm; số đề 51 = 100.000 đồng; số lô xiên hai 06-91 = 500.000 đồng. Tổng số tiền là 2.785.000 đồng. Người này chưa thanh toán tiền cho T1.
  • Bán qua tin nhắn Zalo từ tài khoản có tên “Nguyễn Quang H2” (không hiện số điện thoại đăng ký) đến tài khoản “Như Y” của T1 với tổng số tiền 19.109.000 đồng. Người này chưa thanh toán tiền cho T1, gồm 06 tin nhắn:
    • + Tin nhắn 01: Số lô 15 = 10 điểm; số lô 72 = 3 điểm; các số lô 65, 56, 29, 92 = 5 điểm/số; số lô 58 = 20 điểm; các số đề đầu 9 mỗi số 5.000 đồng (gồm 10 số đề 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99 = 5.000 đồng/số); các số đề 65, 39, 66, 67, 77, 76, 79, 99, 97, 00, 09, 04, 22, 27, 29, 11, 89, 98, 44, 61, 27, 38, 33, 55 = 10.000 đồng/số; các số đề dây 29 mỗi số 20.000 đồng (gồm 08 số đề 29, 92, 47, 74, 79, 97, 24, 42 = 20.000 đồng/số); số đề 40 = 220.000 đồng; số đề 38, 84 = 100.000 đồng/số; số đề 88 = 140.000 đồng; số đề 83 = 50.000 đồng; số đề 74, 95 = 30.000 đồng/số; số đề 99, 88, 66, 16, 94, 36 = 20.000 đồng/số; số lô xiên ba 73-66-23 = 30.000 đồng, 36-00-56 = 20.000 đồng, 58-88-67 = 20.000 đồng, 95-10-41 = 30.000 đồng, 50-99-66 = 40.000 đồng.
    • + Tin nhắn 02: Các số đề 44, 24, 34, 43, 45, 46, 47, 64, 54 = 20.000 đồng/số; các số đề 27, 22, 85, 99, 67, 65, 15, 51 = 10.000 đồng/số; số lô xiên ba 85-32-23 = 20.000 đồng; số lô xiên hai 22-84 = 50.000 đồng, 19-84 = 50.000 đồng, 19-22 = 100.000 đồng; các số đề kép bằng mỗi số mua 10.000 đồng (gồm 10 số đề 00, 11, 22, 33, 44, 55, 66, 77, 88, 99 = 10.000 đồng/số); số lô 99 = 25 điểm; số lô 67, 65, 22 = 10 điểm/số; số lô 48, 15, 51 = 5 điểm/số; số lô 84 = 20 điểm.
    • + Tin nhắn 03: Số lô 99 = 30 điểm, 63 = 60 điểm; số lô 02, 20 = 5 điểm/số; số lô 29, 16, 61, 39, 93 = 10 điểm/số; số đề 22, 77, 27, 72, 39, 93, 57, 75, 48, 84, 11, 22, 27, 72, 77, 43, 44, 39, 93 = 20.000 đồng/số; số đề 84, 30, 31, 32, 22, 77, 27, 72 = 10.000 đồng/số; số đề 77, 78 = 25.000 đồng/số; số lô xiên ba 29-67-02 = 50.000 đồng, 29-85-67 = 50.000 đồng.
    • + Tin nhắn 04: Số lô 81, 91, 06, 60, 55, 03, 85, 84 = 5 điểm/số; số lô 19, 39, 44 = 20 điểm/số; số lô 56, 48, 84 = 30 điểm/số; số lô 58, 51, 22, 55 = 10 điểm/số; số đề 84 = 100.000 đồng; số đề 22 = 20.000 đồng; số đề 14, 41, 34, 43, 89, 98 = 10.000 đồng/số; số đề 44, 19, 91, 84, 56 = 50.000 đồng/số; số đề 48 = 200.000 đồng.
    • + Tin nhắn 05: Số đề kép bằng mỗi số mua 10.000 đồng (gồm 10 số đề 00, 11, 22, 33, 44, 55, 66, 77, 88, 99 = 10.000 đồng/số); số lô 02, 20 = 5 điểm/số; số lô 16 = 20 điểm; số lô 88, 12, 21 = 10 điểm/số.
    • + Tin nhắn 06: Số lô 39, 93 = 25 điểm/số; số lô 19 = 50 điểm; số đề 44 = 100.000 đồng.

Về cách thức đánh bạc và tỷ lệ được thua các đối tượng thống nhất như sau: Với số đề: Người mua tự lựa chọn số tự nhiên có hai chữ số bất kỳ từ 00 đến 99 rồi đặt cược (mua) với số tiền tùy thích, nếu số đề này trùng với 02 số cuối của giải đặc biệt xổ số kiến thiết miền B mở thưởng cùng ngày thì người mua số đề đó thắng, được người bán trả thưởng (1.000 đồng mua số đề, trúng thưởng được trả 70.000 đồng), ngược lại là thua phải mất số tiền mua số đề cho người bán. Người chơi có thể mua số đề 3 chữ số (còn gọi là 3 càng), là số tự nhiên có ba chữ số bất kỳ từ 000 đến 999, nếu số đề này trùng với 3 số cuối của giải đặc biệt xổ số kiến thiết miền B thì người chơi trúng thưởng, được trả thưởng gấp 400 lần (1.000đ mua số trúng thưởng, được trả 400.000đ).

Với số lô: Người mua tự lựa chọn một hoặc nhiều số tự nhiên có hai chữ số bất kỳ từ 00 đến 99, khi mở thưởng mà có số lô đã mua trùng với hai số cuối của một trong 27 bộ số nằm trong cơ cấu của 08 giải thưởng xổ số kiến thiết miền B thì người mua số lô đó thắng (01 điểm lô giá 23.000đ, thắng được trả 80.000 đồng), nếu số lô đã mua trùng 2 số cuối của 2 bộ số bất kỳ trong 27 bộ số thì số tiền thắng được nhân gấp đôi, trùng 2 số cuối của 3 bộ số trong 27 bộ số thì tiền thắng nhân gấp 3 (không tính thắng quá 3 lần); ngược lại nếu không trùng thì người mua thua, người bán thắng và được hưởng toàn bộ số tiền người chơi bỏ ra mua số lô đó. Người chơi có thể mua số lô dưới dạng lô xiên 2, xiên 3 có nghĩa là lựa chọn hai hoặc ba số lô bất kỳ, khi mở thưởng cả hai hoặc cả ba số lô người mua đã lựa chọn đều trùng với hai số cuối của 27 bộ số thì người mua số lô xiên 2 hoặc xiên 3 thắng (tỷ lệ thắng đối với lô xiên 2 là mua 1.000 đồng thắng được 10.000 đồng, đối với lô xiên 3 là mua 1.000 đồng thắng được 40.000 đồng). Nếu chỉ cần một trong hai hoặc ba số lô đã mua không trùng với hai số cuối của 27 bộ số thì người mua số lô dưới dạng lô xiên 2, xiên 3 thua và mất toàn bộ số tiền đã bỏ ra để mua số lô xiên 2, xiên 3 cho người bán.

Tại Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P, Cao Mạnh T1, Lê Việt D1, Bạch Thị Ánh T3, Trần Hữu Q, Lê Anh T4, Nguyễn Mạnh C đều thừa nhận hành vi mua, bán số lô, số đề như đã nêu trên. Lời khai phù hợp với nhau và phù hợp các tài liệu chứng cứ thu thập được. Thời điểm Cơ quan CSĐT, Công an tỉnh P phát hiện kiểm tra T1 chưa đến giờ mở thưởng kết quả xổ số kiến thiết miền B nên chưa tính thắng thua.

Đối với tài khoản Z có tên “Dlen Bien” nhắn tin mua số lô, số đề với tổng số tiền 2.785.000 đồng và “Nguyễn Quang H2” mua số lô, số đề với tổng số tiền 19.109.000 đồng: T1 khai tài khoản “Dlen Bien” là của người không quen biết, còn tài khoản “Nguyễn Quang H2” là của chị Lê Thị Thanh M1, sinh năm 1982, HKTT: Khu N, xã H, thị xã P; hiện trú tại: Khu M, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ, Cơ quan điều tra đã triệu tập chị M1 đến làm việc, chị M1 khai không sử dụng tài khoản zalo này và không thừa nhận hành vi mua bán số lô, số đề của Cao Mạnh T1. Ngoài lời khai của T1 không có tài liệu nào khác chứng minh chị M1 mua số lô, đề của T1. Cơ quan điều tra đã đề nghị Công ty Cổ phần C2 (V1) cung cấp số điện thoại đăng ký các tài khoản Zalo này nhưng không có kết quả.

Đối với Lê Việt D1, Bạch Thị Ánh T3, Trần Hữu Q, Lê Anh T4, Nguyễn Mạnh C thực hiện hành vi đánh bạc với số tiền dưới 5.000.000 đồng. Kết quả điều tra xác định cả D1, T3, Q, T4 và C không có tiền án, tiền sự về tội Đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc nên hành vi của D1, T3, Q, T4 và C không cấu thành tội Đánh bạc quy định tại Điều 321 Bộ luật hình sự. Ngày 17/4/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P đã có văn bản số 09 đề nghị Phòng C3 Công an tỉnh P ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính D1, T3, Q, T4 và C theo quy định.

Đối với các máy điện thoại di động của C, T3, T4, D1, Quyền sử dụng nhắn tin mua số lô, đề của Cao Mạnh T1, quá trình điều tra các đối tượng khai nhận do hoảng sợ nên trên đường đi đã vứt bỏ và không xác định được địa điểm cụ thể vứt ở đâu nên Cơ quan điều tra không thu giữ được. Đối với số tiền mua số lô là 4.600.000 đồng mà anh Nguyễn Mạnh C đã thanh toán cho T1, T1 giao nộp Theo Biên lai thu tiền số 0004390 ngày 27/5/2025 của C1 cực Thi hành án dân sự thị xã P. Đối với tổng số tiền mua số lô, số đề là 6.335.000 đồng mà Lê Việt D1, Lê Anh T4, Trần Hữu Q, Bạch Thị Ánh T3 chưa thanh toán cho T1, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P đã yêu cầu T4, Quyền, D1, T3 giao nộp nhưng đến nay chưa chấp hành. Đối với số tiền mua số lô, số đề là 21.894.000 đồng của 02 người chưa rõ danh tính chưa thanh toán cho T1, do chưa làm rõ được là ai nên chưa có căn cứ thu hồi.

Về xử lý vật chứng, tài sản, đồ vật tạm giữ: Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 3, màu đen, số IMEI 1: 860202042649617, số IMEI 2: 860202042649609, lắp sim số 0376194314, T1 dùng nhắn tin bán số lô, số đề cho Nguyễn Mạnh C, Lê Anh T4, Trần Hữu Q, Bạch Thị Ánh T3, hai người khác chưa rõ danh tính và 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max, màu tím, số IMEI: 350636273884434, lắp sim số 0567668999 và 0971949953; T1 dùng nhắn tin bán số lô, số đề cho Lê Việt D1. Các điện thoại này hiện đang được quản lý, bảo quản tại kho vật chứng của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P chờ xử lý.

Về tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Cao Mạnh T1 phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm. Quá trình điều tra, truy tố, T1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Về điều kiện kinh tế: Cao Mạnh T1 không có tài sản là nhà đất, ngoài đồ dùng sinh hoạt cá nhân, T1 không có tài sản có giá trị.

Tại bản cáo trạng số 18/CT-VKSTX ngày 29/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ truy tố Cao Mạnh Thắng về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX: Tuyên bố bị cáo Cao Mạnh T1 phạm tội “Đánh bạc”. Áp dụng khoản 1 điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51, điểm h khoản 1 điều 52, điều 38 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt: Cao Mạnh T1 từ 07 đến 09 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Không áp dụng hình phạt bổ xung bằng tiền.

Về vật chứng: Áp dụng điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a,b khoản 1,2 điều 47 Bộ luật hình sự .

Tịch thu để bán nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 3, màu đen, số IMEI 1: 860202042649617, số IMEI 2: 860202042649609 và 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max, màu tím, số IMEI: 350636273884434.

Tịch thu để tiêu hủy 03 sim số : 0376194314, 0567668999 và 0971949953.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 10.935.000 đồng tiền ngân hàng N1. Trong đó thu của D1 là 2.300.000 đồng; T7 của T3 là 1.405.000 đồng; thu của Q là 330.000 đồng; thu của T4 là 2.300.000 đồng và thu của T1 là 4.600.000 đồng (Xác nhận T1 đã nộp tại Biên lai thu tiền số 0004390 ngày 27/5/2025 của C1 cực Thi hành án dân sự thị xã P).

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo thừa nhận đã phạm tội đánh bạc và đề nghị HĐXX áp dụng chính sách khoan hồng của pháp luật cho bị cáo hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau;

Tại phiên tòa hôm nay, lời khai nhận tội của bị cáo T1 phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và vật chứng thu được của vụ án, nên có cơ sở khẳng định: Hồi 18 giờ 10 phút ngày 14/02/2025, tại quán bán bia của Cao Mạnh T1 ở KDC N, phường Â, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; vì hám lợi, Cao Mạnh T1 đã thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, đề qua ứng dụng Zalo, T5 và tin nhắn SMS (tin nhắn thường) với Lê Việt D1, Bạch Thị Ánh T3, Trần Hữu Q, Lê Anh T4, Nguyễn Mạnh C, tổng số tiền đánh bạc là 10.935.000 đồng, trong đó, đánh bạc với D1 là 2.300.000 đồng, đánh bạc với T3 là 1.405.000 đồng, đánh bạc với Q là 330.000 đồng; đánh bạc với T4 là 2.300.000 đồng và đánh bạc với C là 4.600.000 đồng. Bản cáo trạng số 18/CT-VKSTXPT ngày 29/4/20245 của VKSND thị xã Phú Thọ truy tố T1 theo khoản 1 điều 321 BLHS về tội “đánh bạc” là đúng người, đúng tội. Đủ cơ sở kết luận Cao Mạnh T1 phạm tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được qui định tại khoản 1 điều 321 Bộ luật hình sự.

Khoản 1 điều 321 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm ...”

Đối với Lê Việt D1, Bạch Thị Ánh T3, Trần Hữu Q, Lê Anh T4, Nguyễn Mạnh C thực hiện hành vi đánh bạc với số tiền dưới 5.000.000 đồng. Kết quả điều tra xác định cả D1, T3, Q, T4 và C không có tiền án, tiền sự về tội Đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc nên hành vi của D1, T3, Q, T4 và C không cấu thành tội Đánh bạc quy định tại Điều 321 Bộ luật hình sự. Ngày 17/4/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P đã có văn bản số 09 đề nghị Phòng C3 Công an tỉnh P ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính D1, T3, Q, T4 và C là phù hợp.

[1] Hành vi, quyết định tố tụng: của cơ quan điều tra Công an tỉnh P, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi của bị cáo gây nguy hại không lớn cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự. Cờ bạc là căn nguyên của nhiều tệ nạn xã hội, phá hoại hạnh phúc nhiều gia đình, xâm phạm trật tự công cộng, nếp sống văn minh của xã hội, gây mất an ninh trật tự địa phương. Do đó vụ án cần phải được đưa ra xét xử kịp thời nhằm giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.

[3] Xét về nhân thân các bị cáo thì thấy :

Bị cáo T1 là người trưởng thành, có hiểu biết xã hội, có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, không chịu lao động tu dưỡng rèn luyện bản thân, muốn hưởng lợi ích vật chất nhanh chóng từ việc làm trái pháp luật nên đã cố ý thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô số đề, được thua bằng tiền. Bị cáo có 01 tiền án, không có tiền sự, nhân thân xấu do đã từng phạm tội và có hành vi vi phạm là đánh bạc. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, khi bị phát hiện đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo có ông nội là người có công được Nhà nước tặng thưởng bằng khen kháng chiến, Chính phủ tặng Bảng gia đình vẻ vang; đã ủng hộ Quỹ vì người nghèo của UBND phường  1.000.000đ, đã nộp lại số tiền đánh bạc. Do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự và phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự. Căn cứ vào nhân thân, hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đã nêu, HĐXX cân nhắc thấy rằng cần áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội để bị cáo rèn luyện, biết tôn trọng pháp luật cải tạo bản thân. Đề nghị của Kiểm sát viên về mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp, cần chấp nhận.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Khoản 3 điều 321 Bộ luật hình sự quy định: “ Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến năm mươi triệu đồng”. Bị cáo là lao động tự do, không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là phù hợp.

[5] Về vật chứng của vụ án:

Đối với số tiền bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan dùng để đánh bạc trong vào ngày 14/02/2025 tổng là 10.935.000 đồng cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. Trong đó thu của D1 là 2.300.000 đồng; T7 của T3 là 1.405.000 đồng; thu của Q là 330.000 đồng; thu của T4 là 2.300.000 đồng và thu của T1 là 4.600.000 đồng. Ngày 27/5/2025, T1 đã nộp 4.800.000đ theo Biên lai thu tiền số 0004390 của Chi cực Thi hành án dân sự thị xã P, trong đó có 4.600.000đ là tiền đánh bạc và 200.000đ là tiền án phí cần xác nhận là hợp pháp.

Đối với số tiền 21.894.000 đồng T1 khai của 02 người chưa rõ danh tính mua số lô, số đề với T1, chưa thanh toán cho T1, do chưa làm rõ được là ai nên chưa có căn cứ thu hồi.

Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 3, màu đen, số IMEI 1: 860202042649617, số IMEI 2: 860202042649609, lắp sim số 0376194314 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max, màu tím, số IMEI: 350636273884434, lắp sim số 0567668999 và 0971949953; T1 dùng nhắn tin bán số lô, số đề với D1, T3, Q, C, T4 cần tịch thu bán nộp ngân sách nhà nước, sim điện thoại cần tịch thu để tiêu hủy.

[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Cao Mạnh T1 phạm tội “Đánh bạc”.

Căn cứ khoản 1 điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51, điểm h khoản 1 điều 52, khoản 1 điều 38, điểm a,b khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; Khoản 2 điều 106, điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án

Xử phạt: Cao Mạnh T1 07 (bẩy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Không áp dụng hình phạt bổ xung bằng tiền.

Về vật chứng:

  • Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 10.935.000 đồng tiền ngân hàng N1. Trong đó thu của Lê Việt D1 là 2.300.000 đồng; T7 của Bạch Thị Ánh T3 là 1.405.000 đồng; T7 của Trần Hữu Q là 330.000 đồng; T7 của Lê Anh T4 là 2.300.000 đồng và thu của Cao Mạnh T1 là 4.600.000 đồng. Xác nhận bị cáo T1 đã nộp 4.800.000đ theo Biên lai thu tiền số 0004390 ngày 27/5/2025 của C1 cực Thi hành án dân sự thị xã P là hợp pháp.
  • Tịch thu 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 3, màu đen, số IMEI 1: 860202042649617, số IMEI 2: 860202042649609, 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max, màu tím, số IMEI: 350636273884434 để bán nộp ngân sách Nhà nước .
  • Tịch thu để tiêu hủy 03 sim số : 0376194314, 0567668999 và 0971949953. (Các vật chứng trên hiện đang bị tạm giữ tại Kho vật chứng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh P và có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng).

Về án phí:

Bị cáo Cao Mạnh T1 phải chịu 200.000đ ( hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKS thị, tỉnh
  • - Thi hành án;
  • - Công an tỉnh
  • - Lưu hồ sơ, VP
  • - Bị cáo, NLQ
  • - UBND P.Âu Cơ

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Trần Thị Lệ T

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2025/HSST ngày 27/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ về hình sự sơ thẩm (tội đánh bạc)

  • Số bản án: 23/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger