|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU TỈNH GIA LAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc ————————— |
Bản án số: 23/2025/HSST
Ngày: 24-01-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Nga.
Hội thẩm nhân dân: Ông Quách Đình Hoằng và bà Nguyễn Thị Bích Thủy.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Hà – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Đào Anh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 24-01-2025, tại Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 12/2025/TLST-HS ngày 09-01-2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2025/QĐXXST-HS ngày 14-01-2025 đối với bị cáo:
LÊ HUY B (Tên gọi khác: B), sinh ngày 10-8-1980 tại Sơn La; nơi đăng ký HKTT: Tổ D, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai; chỗ ở: Không nơi ở nhất định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Minh O và bà Nguyễn Thị C (đều đã chết); gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con nhỏ nhất; chưa có vợ.
Tiền án: 04 tiền án.
- - Bản án số 74/HSST ngày 20/10/2000 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xử phạt 12 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản của công dân”. Bản án số 58/HSPT ngày 14/12/2000 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Ngày 08/4/2001 chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích.
- - Bản án số 64/HSST ngày 25/6/2002 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xử phạt 06 năm tù về tội: “Cố ý gây thương tích”. Ngày 22/7/2007 chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích.
- - Bản án số 121/2008/HSST ngày 05/8/2008 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xử phạt 11 năm tù về tội: “Cướp tài sản”. Bản án số 22/2008/HSPT ngày 22/10/2008 của Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng giữ nguyên bản án sơ thẩm. Ngày 30/12/2017 chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích.
- - Bản án số 75/2021/HSST ngày 09/7/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Ngày 18/4/2023 chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17-9-2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P. Có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Chị Nguyễn Thị Thùy N; địa chỉ: Tổ H, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Huy B là người sống lang thang trên địa bàn thành phố P và đã có 04 tiền án về các tội: “Trộm cắp tài sản của công dân”, “Cố ý gây thương tích”, “Cướp tài sản”, “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa tích. Vào khoảng 21 giờ ngày 16/9/2024, B đi bộ lang thang đến trước quán cà phê H Phố địa chỉ số nhà A đường T, Thôn C, xã B, thành phố P, tỉnh Gia Lai do chị Nguyễn Thị Thùy N (sinh năm 1978, trú tại Tổ H, phường Y, thành phố P) làm chủ, thì thấy quán cà phê này đóng cửa không có người trông coi nên B nảy sinh ý định đột nhập vào quán lấy trộm tài sản. Sau đó, B trèo qua tường rào bên hông quán cà phê vào bên trong, lục tìm tài sản thì lấy được: 01 loa có dòng chữ "Speaker", 01 loa kéo Karaoke nhãn hiệu Kiomic, 01 máy xay cà phê nhãn hiệu LD 020, 01 máy ép nước trái cây nhãn hiệu “Bluestone, model: Jeb-6535", 16 lon bia nhãn hiệu SÀI GÒN dung tích 330ml, 02 lon nước ngọt nhãn hiệu “Sting energy” dung tích 320ml, 01 lon nước ngọt nhãn hiệu Pepsi, dung tích 330ml. Sau khi lấy được những tài sản trên, B đưa những tài sản này ra bên ngoài bờ rào của quán cà phê rồi trèo ra khỏi quán, đem những tài sản này vào cất giấu tại một nhà hoang ở A đường T, Thôn C, xã B, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Đến ngày 17/9/2024, bị hại N trình báo sự việc đến Công an xã B; qua xác minh Công an xã Biển Hồ nghi ngờ B là người đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của chị N, nên đưa B về làm việc. Tại Công an xã B, B đã đầu thú và khai nhận hành vi lén lút chiếm đoạt của chị N; đồng thời, giao nộp các tài sản đã trộm cắp gồm: 01 loa có dòng chữ “Speaker”, 01 loa kéo Karaoke nhãn hiệu Kiomic, 01 máy xay cà phê nhãn hiệu LD 020, 01 máy ép nước trái cây nhãn hiệu “Bluestone, model: Jeb-6535", 16 lon bia nhãn hiệu SÀI GÒN dung tích 330ml, 02 lon nước ngọt nhãn hiệu “Sting energy" dung tích 320ml, 01 lon nước ngọt nhãn hiệu Pepsi, dung tích 330ml.
Qua định giá, kết luận: Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 1.154.000 đồng. Sau khi định giá, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã xử lý trả lại các tài sản trên cho chị Nguyễn Thị Thùy N.
Về dân sự: Sau khi nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, chị Nguyễn Thị Thùy N không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự.
* Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Không.
Tình tiết giảm nhẹ: Sau khi thực hiện tội phạm, Lê Huy B đã đầu thú; quá trình điều tra và truy tố vụ án, bị cáo đã thành khẩn khai nhận về hành vi của bản thân và các tình tiết có liên quan; tài sản chiếm đoạt có giá trị không lớn.
Tại cáo trạng số 31/CT-VKS ngày 07-01-2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo Lê Huy B tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
2. Diễn biến tại phiên tòa:
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng. Lời nói sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Lê Huy B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Huy B từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17-9-2024.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản gì nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về dân sự: Không xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hoạt động của các cơ quan và người tiến hành tố tụng trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố vụ án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng hiện hành; các tài liệu, chứng cứ thu thập được có tại hồ sơ vụ án là hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo nhận tội, thấy bị truy tố về tội danh và điều luật là đúng. Hội đồng xét xử đối chiếu với nội dung cáo trạng và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ căn cứ kết luận:
Khoảng 21 giờ ngày 16/9/2024, tại quán cà phê Hợp P đường T, thôn C, xã B, thành phố P tỉnh Gia Lai, lợi dụng sơ hở quán cà phê đóng cửa, không có người trông coi nên Lê Huy B đã lén lút đột nhập, chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Thùy N các tài sản gồm: 01 loa có dòng chữ “Speaker”, 01 loa kéo Karaoke nhãn hiệu Kiomic, 01 máy xay cà phê nhãn hiệu LD 020, 01 máy ép nước trái cây nhãn hiệu “Bluestone, model: Jeb-6535", 16 lon bia nhãn hiệu SÀI GÒN dung tích 330ml, 02 lon nước ngọt nhãn hiệu “Sting energy” dung tích 320ml, 01 lon nước ngọt nhãn hiệu Pepsi, dung tích 330ml; có tổng trị giá 1.154.000 đồng.
Bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản có giá trị dưới 2.000.000 đồng, nhưng đã bị kết án về các tội: Trộm cắp tài sản của công dân, Cướp tài sản, Trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích, do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của bị cáo là ít nghiêm trọng, xâm phạm tài sản của người khác, gây hoang mang trong quần chúng và gây mất trật tự trị an. Tài sản bị cáo trộm cắp có giá trị không lớn, nhưng nhân thân bị cáo có 04 tiền án về tội trộm cắp tài sản của công dân, cướp tài sản, và cố ý gây thương tích, bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân, mà liên tiếp phạm tội, chứng tỏ sự coi thường pháp luật nên cần xử phạt mức án tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội trong khung hình phạt mà điều luật quy định để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đầu thú và nộp lại toàn bộ tài sản trộm cắp; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
[5] Về dân sự: Bị hại chị Nguyễn Thị Thùy N đã nhận lại toàn bộ tài sản bị chiếm đoạt, không có yêu cầu gì khác, nên không xét.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo làm nghề lao động tự do, không có tài sản, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Huy B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự:
- Về dân sự: Không xét.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Xử phạt bị cáo Lê Huy B 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17-9-2024.
Buộc bị cáo Lê Huy B phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo yêu cầu xét xử phúc thẩm. Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được hoặc ngày niêm yết bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Nga |
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi ......giờ ......phút, ngày 24 tháng 01 năm 2025
Tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị N1
Hội thẩm nhân dân: Ông Quách Đình H1 và bà Nguyễn Thị Bích T
Tiến hành nghị án đối với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 12/2025/TLST-HS ngày 09/01/2025 đối với bị cáo Lê Huy B phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS
Căn cứ vào các Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH
CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:
- Về điều luật áp dụng:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Huy B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt:
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
- Về quyền kháng cáo:
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự:
Kết quả biểu quyết: Đồng ý: 3/3; không đồng ý: 0.
Kết quả biểu quyết: Đồng ý: 3/3; không đồng ý: 0.
Xử phạt bị cáo Lê Huy B 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17-9-2024.
Kết quả biểu quyết: Đồng ý: 3/3; không đồng ý: 0.
Buộc bị cáo Lê Huy B phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Kết quả biểu quyết: Đồng ý: 3/3; không đồng ý: 0.
Căn cứ vào các Điều 331 và 333 của Bộ luật tố Tụng hình sự năm 2015;
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo yêu cầu xét xử phúc thẩm. Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được hoặc ngày niêm yết bản án.
Kết quả biểu quyết: Đồng ý: 3/3; không đồng ý: 0.
Nghị án kết thúc vào hồi giờ phút, ngày 24 tháng 01 năm 2025.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Nga |
Biên bản đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Bản án số 23/2025/HSST ngày 24/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 23/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/01/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: trộm
