TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC HỒI TỈNH KON TUM Bản án số: 23/2025/HS-ST Ngày 25-6-2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC HỒI, TỈNH KON TUM
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hảo.
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Hòa; bà Lưu Thị Bích Giang;
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Quang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Kiên – Kiểm sát viên.
Trong ngày 25-6-2025, tại hội trường Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 23/2025/TLST-HS ngày 29-5-2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXXST-HS ngày 10-6-2025, đối với bị cáo:
1.Nguyễn Văn C, tên gọi khác: không, sinh ngày 12/02/1999 tại tỉnh Ninh Bình; CCCD số [...], cấp ngày 16/4/2024, tại Cục C1 về TTXH; Nơi đăng ký thường trú: Thôn D, thị trấn P, huyện N, tỉnh Kon Tum; Nơi ở: Thôn N, xã P, huyện N, tỉnh Kon Tum; Nghề nghiệp: Thợ sắt; Trình độ văn hóa: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn D (đã chết) và bà Trần Thị L; chưa vợ con; anh em ruột có 02 người, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Hiện đang chấp hành hình phạt tù từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 25-12-2024) về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; có mặt tại phiên tòa.
Về nhân thân: Tại bản án số 18/2025/HSST ngày 09/5/2025 của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Trần Thị L, sinh năm 1975; địa chỉ: Thôn B, xã P, huyện N, tỉnh Kon Tum; có mặt.
3. Người chứng kiến: Bà Xa Thị N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Thực hiện kế hoạch cao điểm tấn công trấn áp tội phạm trong dịp tết nguyên đán năm 2025; ngày 25/12/2024, Tổ công tác thuộc Công an huyện N phối hợp với Công an xã P, huyện N và Đồn Biên phòng cửa khẩu Quốc tế B1 tiến hành tuần tra, kiểm soát địa bàn xã P, huyện N. Bằng các biện pháp nghiệp vụ, Tổ công tác nắm được thông tin đối tượng Nguyễn Văn C, sinh năm 1999, hiện đang sinh sống tại thôn N, xã P, huyện N, có biểu hiện nghi vấn về tội phạm nên tiến hành kiểm tra, xác minh khi thấy Tổ công tác, C lập tức chạy vào trong nhà, Tổ công tác truy đuổi theo C vào trong nhà, tiến hành kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Văn C có hành vi cất giấu ma túy trong nhà. Cùng thời điểm trên, C nghĩ nếu không chỉ nơi cất giấu và giao nộp khẩu súng thì cơ quan chức năng cũng sẽ phát hiện nên C dẫn Tổ công tác đi xuống phòng bếp căn nhà, tìm lấy trong tủ bếp và giao nộp một vật hình khẩu súng bằng kim loại, nòng súng dài 05cm, chiều dài từ nòng súng đến báng súng là 16cm, kiểu súng ổ quay (ru – lô), ổ đạn có 06 lỗ chứa đạn, nghi là súng quân dụng. Kiểm tra vật hình khẩu súng trên thấy bên trong ổ đạn chứa 05 (năm) vật hình viên đạn chưa nổ, kích thước mỗi viên giống nhau, dài 2,4cm, đường kính chỗ lớn nhất 0,7cm, đáy mỗi viên đều có chữ “SB”.
Quá trình điều tra Nguyễn Văn C khai nhận: Vào khoảng giữa tháng 11/2024, nam thanh niên tên D1 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) đến nhà C tại thôn N, xã P, huyện N, tỉnh Kon Tum chơi. Tại đây, D1 nói với C muốn qua Lào nhưng trong người D1 đang cất giấu 01 khẩu súng, nếu mang theo thì sợ qua chốt kiểm tra biên giới sẽ bị phát hiện nên đã nhờ C cất giấu giúp một thời gian, vì cả nể nên C đồng ý giúp D1 rồi mang khẩu súng cất giấu trong hộc tủ phòng bếp tại nhà ở, sau đó D1 bỏ đi. Đến khoảng ba, bốn ngày sau, do tò mò nên C mang khẩu súng ra xem thì thấy bên trong khẩu súng có 06 viên đạn, quá trình xem súng C vô tình động tay vào cò súng làm nổ 01 viên đạn, rồi C đem cất giấu khẩu súng tại chỗ cũ. Đến ngày 25/12/2024, Nguyễn Văn C bị Cơ quan chức năng phát hiện, bắt quả tang, thu giữ 01 khẩu súng và 05 viên đạn trên.
- Kết luận giám định số 527/KL-KTHS, ngày 31/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh K kết luận:
01 (một) vật hình khẩu súng gửi giám định là súng ngắn dạng ổ xoay 06 lỗ, được chế tạo thủ công, súng còn sử dụng được, thuộc vũ khí quân dụng.
05 (năm) vật hình viên đạn là đạn thể thao cỡ (5,6x15,5)mm, thuộc vũ khí thể thao, đạn sử dụng được cho khẩu súng gửi tới giám định.
-Tại Bản Cáo trạng số 16/CT-VKSKT-P1 ngày 28 tháng 5 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum đã truy tố Nguyễn Văn C về tội: “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo khoản 1 Điều 304 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Phân công Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm đối với vụ án.
Các đối tượng, hành vi liên quan khác, theo Bản Cáo trạng nhận định:
+ Đối với hành vi tàng trữ 05 viên đạn thể thao của Nguyễn Văn C. Do C chưa có tiền án, tiền sự về hành vi này, nên Cơ quan điều tra không xử lý trách nhiệm hình sự mà chuyển cơ quan có thẩm quyền xử phạt hành chính.
+ Đối với hành vi mua bán trái phép chất ma túy bị bắt quả tang ngày 25/12/2024, đã bị Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hồi xét xử theo Bản án số 18/2025/HS-ST ngày 09/5/2025.
+ Đối với người tên D1 (chưa rõ lai lịch, địa chỉ), đã đưa khẩu súng cho C cất giấu dùm, đến nay Cơ quan An ninh điều tra chưa xác định được danh tính, lai lịch. Cơ quan An ninh điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.
+ Đối với bà Trần Thị L (mẹ đẻ của C), là chủ sở hữu căn nhà nơi C sinh sống. Kết quả điều tra xác định bà L không biết C đã cất giấu trái phép khẩu súng tại căn nhà Bà đã cho C ở, nên không đủ cơ sở để xử lý.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố bị cáo. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Không áp dụng tình tiết tăng nặng đối với bị cáo, cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”. Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 304, điểm s khoản 1 Điều 51, 38, 50, 56 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù; tổng hợp chung với hình phạt tại Bản án số 18/2025/HS-ST ngày 09/5/2025 của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hồi để chấp hành. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, buộc bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật. Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu, giao nộp vật chứng trong vụ án là khẩu súng ngắn cho Ban chỉ huy phòng thủ khu vực 2 - P, tỉnh Quảng Ngãi xử lý theo thẩm quyền.
Tại phiên tòa Nguyễn Văn C thừa nhận hành vi phạm tội đúng như Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị L khai tại phiên tòa: Bà là mẹ đẻ của Nguyễn Văn C, vì C đã lớn và cũng muốn cho C tự lập nên Bà đã giao cho C căn nhà ở thôn N, xã P để ở, giấy tờ nhà đất đứng tên của Bà. Bà hoàn toàn không biết C đã cất giấu khẩu súng ngắn tại căn nhà của Bà.
Người chứng kiến: Bà Xa Thị N khai tại hồ sơ về tình tiết, nội dung đúng như Bản Cáo trạng đã truy tố.
-Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết sai, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo sớm được về với gia đình. Bị cáo cam kết sau này không phạm tội nữa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được đánh giá là hợp pháp.
[2] Đối với hành vi “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”: Toàn bộ lời khai tại phiên tòa của Nguyễn Văn C phù hợp với các lời khai và tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, thể hiện như sau:
[2.1] Theo khoản 1 Điều 304 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định: Người nào “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 07 năm.
[2.2] Hành vi “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”, là cất giữ vũ khí quân dụng ở nơi ở, nơi làm việc... hoặc giấu giếm ở những nơi khác trái phép. Vũ khí quân dụng như súng cầm tay; súng vác vai; vũ khí hạng nặng, nhẹ; bom, mìn, lựu đạn, súng bắn đạn ghém, súng săn, súng nén khí, dao có tính sát thương cao....; Vào lúc 10 giờ 15 phút ngày 25/12/2024, Nguyễn Văn C bị tổ công tác thuộc Công an huyện N, Công an xã P, Đồn Biên phòng Cửa khẩu Quốc tế B1 kiểm tra, khám xét tại nơi ở của C, đã thu giữ 10,145g ma túy và 01 khẩu súng, 05 viên đạn và một số vật dụng khác có liên quan đến việc mua bán ma túy và sử dụng ma túy.
[2.3] Tại Kết luận giám định số 527/KL-KTHS, ngày 31/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh K kết luận: 01 (một) vật hình khẩu súng gửi giám định là súng ngắn dạng ổ xoay 06 lỗ, được chế tạo thủ công, súng còn sử dụng được thuộc vũ khí quân dụng
[2.4] Như vậy, Nguyễn Văn C đã có hành vi cất giữ 01 khẩu súng ngắn tại ngăn tủ phòng bếp căn nhà C ở; đây chính là hành vi “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”. Nguyễn Văn C là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã có hành vi “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” thể hiện lỗi cố ý, đã xâm phạm vào trật tự, an toàn xã hội qua việc xâm phạm vào các quy định độc quyền của Nhà nước về chế tạo, quản lý vũ khí quân dụng, đe dọa đến an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội ở mức độ nghiêm trọng, đủ yếu tố cấu thành tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 304 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, có mức khung hình phạt tù từ 01 năm đến 07 năm. Chính vì vậy, bị cáo bị viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum truy tố về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo khoản 1 Điều 304 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội.
[3] Về đối tượng, hành vi liên quan khác:
[3.1] Đối với đối tượng tên D1 đã đưa khẩu súng ngắn nhờ C cất giữ hộ, đến nay Cơ quan An ninh điều tra chưa xác định được danh tính, lai lịch. Cơ quan An ninh điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đề cập đến.
[3.2] Bà Trần Thị L, có căn nhà tại thôn N, xã P cho bị cáo là con đẻ ở, Bà hoàn toàn không biết C đã cất giấu khẩu súng tại nơi ở. Vì vậy, bà Trần Thị L không phải chịu trách nhiệm hình sự.
[3.3] Về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” của Nguyễn Văn C, cùng các đối tượng có liên quan, đã bị xét xử và nhận định tại Bản án số 18/2025/HS-ST ngày 09/5/2025. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đề cập đến.
[3.4] Ngày 25/02/2025, Cơ quan điều tra đã có tờ trình số 14/TTr-CAH, thể hiện: Nguyễn Văn C đã có hành vi tàng trữ 05 viên đạn theo kết quả giám định thuộc vũ khí thể thao. Vì C chưa bị xử phạt hành chính và chưa bị kết án về một trong các hành vi quy định tại Điều 306 của Bộ luật hình sự, nên chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép vũ khí thể thao”. Hành vi của C vi phạm điểm a khoản 5 Điều 11 Nghi định 144/2021/NĐ-CP của Chính phủ, thuộc thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh K. Ngoài ra, C có hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” vi phạm khoản 1 Điều 23 Nghi định 144/2021/NĐ-CP của Chính phủ, thuộc thẩm quyền xử phạt của Trưởng công an cấp huyện. Theo điểm b khoản 4 Điều 52 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2020 của Chính phủ, thì thẩm quyền xử phạt chung đối với hai hành vi trên thuộc Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh K. Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ liên quan đến các hành vi vi phạm trên và đề nghị xử lý theo thẩm quyền. Tại văn bản số 732/UBND-NC ngày 07/3/2025 của Ủy ban nhân dân tỉnh K, thể hiện đã tiếp nhận hồ sơ vi phạm nhưng cần xác minh, thu thập thêm tài liệu, chứng cứ, đến nay các hành vi vi phạm hành chính trên chưa có kết quả xử lý.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Không áp dụng tình tiết tăng nặng đối với bị cáo. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong suốt quá trình tham gia tố tụng từ điều tra – truy tố – xét xử thể hiện “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[5] Về áp dụng hình phạt:
[5.1] Áp dụng hình phạt chính: Bị cáo phạm tội ở mức độ nghiêm trọng, ý thức được hành vi nguy hiểm của mình, nhưng vì cả nể chỗ quen biết với đối tượng tên D1, nên đã cất giữ giúp khẩu súng, không có vụ lợi gì. Trước khi phạm tội bị cáo đã chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân nơi cư trú. Căn cứ vào nhân thân, mức độ phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, thấy cần phải áp dụng hình phạt cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo. Cần tổng hợp hình phạt của Bản án này với hình phạt tại Bản án số 18/2025/HS-ST ngày 09/5/2025, để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án, theo khoản 1 Điều 56 của Bộ luật hình sự.
[5.2] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo làm thợ sắt, chỉ là làm thuê, khi có việc khi không, thu nhập không ổn định; việc bị cáo cất giữ khẩu súng giúp người khác, không thu lợi gì nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, đánh giá và xử lý như sau:
[6.1] Vì khẩu súng ngắn bị cáo tàng trữ là vũ khí quân dụng, nên cần tịch thu, giao nộp cho Ban chỉ huy phòng thủ khu vực 2 - P, tỉnh Quảng Ngãi xử lý theo thẩm quyền.
[7]Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 304, điểm s khoản 1 Điều 51, các Điều 38, 50, khoản 1 Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Căn cứ khoản 1 điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 và danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;
Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Xử:
1.Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”;
Xử phạt Nguyễn Văn C 18 (mười tám) tháng tù; tổng hợp hình phạt 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù tại Bản án số 18/2025/HS-ST ngày 09/5/2025 của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum; buộc phải chấp hành hình phạt chung của hai Bản án là 09 (chín) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 25/12/2024).
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu, giao nộp 01 (một) khẩu súng dạng ổ xoay 06 (sáu) lỗ, thân súng màu trắng bạc, tay cầm màu xám thuộc vũ khí quân dụng, được niêm phong trong 01 (một) túi niêm phong “Mã số PS3 1903989”, “Tên mẫu vật: Súng của Nguyễn Văn C”, mặt ngoài có chữ ký ghi họ và tên gồm “Trương Thanh T, Nguyễn Hoàng L1, Hoàng Công H” và dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh K, cho Ban chỉ huy phòng thủ khu vực 2 - P, tỉnh Quảng Ngãi xử lý theo thẩm quyền.
Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 13- 6 -2025 giữa Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh K với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum.
3. Về án phí: Buộc Nguyễn Văn C phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm, để nộp ngân sách Nhà nước.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi của mình, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 25-6-2025).
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Thị Hảo |
Bản án số 23/2025/HS-ST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC HỒI, TỈNH KON TUM về hình sự (tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng)
- Số bản án: 23/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC HỒI, TỈNH KON TUM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xét xử phạm tội
