Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 23/2025/HSST

Ngày: 24-01-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Nguyệt;

- Thẩm phán: Bà Trần Thị Thu Phương.

- Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Danh Lơi;

Bà Nguyễn Thị Nga;

Ông Nguyễn Văn Lâm.

- Thư ký phiên toà: Ông Nghiêm Xuân Đạt -Thư ký TAND tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà: Bà Lê Thị H - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 01 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 239/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2025, đối với bị cáo:

Nguyễn Tuấn A. Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1975, tại: Xã M, huyện N, Thanh Hóa .Nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Nơi tạm trú: 23 Y, phường T, thành phố B, tỉnh Đắc Lắc.Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo:Không.Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12.Số CMND/Thẻ CCCD/Hộ chiếu: [...] cấp ngày 13 tháng 9 năm 2023; Nơi cấp: Cục C về TTXH. Tiền án: Không; tiền sự: Không. Con ông: Nguyễn Đình B; Con bà: Lê Thị M. Vợ: Nguyễn Thị Anh Đ; Có 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm: 2014;

Bị caó bị tạm giữ từ ngày 19/11/2023, chuyển tạm giam ngày 28/11/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Bị cáo có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo:

Luật sư Trần Đại X - Thuộc văn phòng L - Đoàn Luật sư tỉnh T; Địa chỉ: 2 đường T, phường H, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa (Có mặt).

Người bị hại:

  1. Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1963 ( Có mặt)

Địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2016, Nguyễn Tuấn A đăng ký thành lập Công ty cổ phần T, có địa chỉ công ty tại số G T, phường D, quận T, TP ., theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty cổ phần do Phòng đăng ký kinh doanh thuộc Sở K cấp, hoạt động với nhiều ngành nghề: đại lý bán vé máy bay, tàu hỏa, tàu thủy, ô tô; Giao nhận hàng hóa; D. Địa chỉ đăng ký công ty là nơi vợ chồng Nguyễn Tuấn A thuê nhà của bà Ngô Thị H2, sinh năm 1954, trú tại 2 Hậu Giang, phường D, quận T, TP .. Công ty trên của Nguyễn Tuấn A chỉ duy trì hoạt động được khoảng 03 tháng thì dừng. Đến tháng 6/2018, do không trả được tiền thuê nhà nên Nguyễn Tuấn A đã phải trả lại nhà cho bà Ngô Thị H2. Từ thời điểm này, tại đây không có bất kỳ hoạt động gì liên quan đến công ty trên.

Quá trình từ lúc thành lập đến năm 2018, công ty không mở tờ khai xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan thành phố H, công ty N1 và không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký, không khai báo với cơ quan thuế. Ngày 14/5/2019, Chi cục thuế quận T, TP . đã ra Thông báo số: 17784/TB-CCT-KTT2 về việc người nộp thuế không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký, nợ tiền thuế nộp vào ngân sách và các hóa đơn còn tồn đã phát hành nhưng chưa sử dụng đến các cơ quan chức năng có liên quan.

Trong thời gian thành lập công ty trên và sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh, bằng các thủ đoạn khác nhau, Nguyễn Tuấn A đã huy động, vay tiền của nhiều người sau đó không trả lại nên các cá nhân trên đã tố cáo hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” của Nguyễn Tuấn A đến Cơ quan CSĐT Công an thành phố H. Ngày 30/9/2019 Cơ quan CSĐT Công an thành phố H đã ra Quyết định phân công giải quyết nguồn tin về tội phạm đối với các tố giác trên.

Đến đầu năm 2020, do mất khả năng trả nợ, Nguyễn Tuấn A cùng vợ con lên tỉnh Đắc Lắc thuê nhà ở và sinh sống tại địa chỉ số nhà B Y, phường T, TP ., tỉnh Đắc Lắc để trốn tránh việc truy tìm của Cơ quan CSĐT Công an T và trốn tránh việc đòi nợ của các chủ nợ. Bản thân Nguyễn Tuấn A và vợ đều không có việc làm ổn định, không có thu nhập để có tiền trang trải cuộc sống và tiêu xài cá nhân. Nguyễn Tuấn A đã nghĩ ra cách về quê tại xã M, huyện N, Thanh Hóa tạo vỏ bọc là doanh nhân thành đạt sinh sống tại TP., công ty đang có hoạt động kinh doanh tốt nhằm tạo lòng tin để huy động tiền, lấy tiền tiêu xài cá nhân. Để thực hiện mục đích trên, Nguyễn Tuấn A đã thông qua chính quyền địa phương tiến hành các hoạt động thiện nguyện như hỗ trợ điều hòa, khẩu trang và ủng hộ các phong trào đoàn thể của địa phương xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa để gây dựng được hình ảnh tốt ở địa phương.

Quá trình gặp gỡ và tiếp xúc, Nguyễn Tuấn A đã tiếp cận được ông Nguyễn Văn H1 là anh em họ hàng xa, đang làm cán bộ tại UBND xã M. Nguyễn Tuấn A

đưa ra thông tin về việc thành lập Công ty cổ phần T, hiện công ty của mình đang làm ăn phát đạt ở nhiều lĩnh vực như vận tải, xuất nhập khẩu...và cho ông H1 xem nhiều hình ảnh về hoạt động của công ty. Do là người cùng quê, là họ hàng, và thấy Nguyễn Tuấn A về quê làm từ thiện, cũng như trong quá trình tiếp xúc được Nguyễn Tuấn A giới thiệu là giám đốc công ty nên ông H1 rất tin tưởng.

Khi tạo dựng được niềm tin với ông H1, Nguyễn Tuấn A tiếp tục đưa ra thông tin về việc Công ty cổ phần T đang làm ăn phát đạt nếu có vốn đầu tư vào thì Tuấn A sẽ chia sẻ lợi nhuận với ông H1, mục đích giúp đỡ người ở quê hương bớt khó khăn và hứa sẽ hoàn trả lại vốn và lãi khi có yêu cầu. Do tin tưởng nên ông H1 đã dùng tiền cá nhân và vay mượn tiền từ nhiều nguồn khác nhau chuyển cho Nguyễn Tuấn A. Sau khi lấy được tiền, Nguyễn Tuấn A lại đưa ra các lí do hiện nay đang trong thời gian dịch bệnh hàng hóa không vận chuyển lưu thông để bán được, hàng bị ngập lụt không bán được, phải lo hoàn thành thuế VAT, cần tiền mặt để lo vận chuyển, xử lý hóa chất, phải đi ngoại giao vay ngân hàng thế chấp hàng hóa, phải có tiền mặt để giải quyết chế độ lương công nhân, bến bãi nếu không phải bán rẻ hàng hóa, xả hàng... buộc ông H1 tiếp tục huy động, vay tiền của người khác để chuyển cho Nguyễn Tuấn A nếu không sẽ không có tiền để trả tiền đã huy động trước đó và nói rằng tình thế hiện tại chỉ là tạm thời, hứa với ông H1 là khi bán được hàng sẽ chia sẻ lợi nhuận cho ông H1 vì đã giúp đỡ công ty vượt qua khó khăn. Do tin tưởng là thật và cũng muốn lấy lại được tiền đã chuyển cho Tuấn A trước đó, ông H1 lại tiếp tục huy động tiền gửi cho Tuấn A với hi vọng Tuấn A sẽ sớm thu được tiền và được chia sẻ lợi nhuận.

Quá trình huy động tiền từ ông H1, để huy động được nhiều tiền Nguyễn Tuấn A viết nhiều giấy vay tiền với số tiền lớn hơn số tiền ông H1 chuyển, rồi chụp ảnh gửi qua Zalo cho ông H1, hứa sẽ trả bằng đúng số tiền đã viết giấy vay gửi qua Zalo. Kết quả điều tra, các giấy vay tiền mà Tuấn A viết gửi qua Zalo cho ông H1 có tổng số tiền lên đến 3, 5 tỷ đồng, tuy nhiên thực tế từ ngày 14/7/2020 đến ngày 14/11/2022, ông H1 trực tiếp chuyển hoặc nhờ người chuyển vào tài khoản 19029963191366 của Nguyễn Tuấn A tại Ngân hàng TMCP K1 tổng số tiền là 1.906.000.000đ (Một tỷ chín trăm linh sáu triệu đồng)

Ngoài ra, để tạo lòng tin với ông H1, thỉnh thoảng NguyễnTuấn Anh lại chuyển cho ông H1 số tiền nhỏ khoảng 05 triệu đồng nói là quà của công ty, sau đó lại huy động số tiền lớn hơn hoặc khi ông H1 nhiều lần đòi tiền Nguyễn Tuấn A chuyển lại một số lần với số tiền nhỏ từ 10 triệu đồng đến 30 triệu đồng, sau đó lại huy động lại với số tiền lớn hơn. Tổng số tiền Tuấn A chuyển lại cho ông H1 là 120.000.000đ (Một trăm hai mươi triệu đồng.

Sau khi nhận được số tiền của ông H1 chuyển đến, Nguyễn Tuấn A đã sử dụng tiêu xài cá nhân hết và không trả lại cho ông Nguyễn Văn H1 nên ngày

15/11/2023 ông H1 đã làm đơn tố cáo hành vi của Nguyễn Tuấn A đến cơ quan CSĐT Công an tỉnh T.

Ngày 19/11/2023 Nguyễn Tuấn A đến Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T đầu thú khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ của vụ án.

Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã tạm giữ một điện thoại di động Iphone 7 Plus màu đen đã qua sử dụng, seri: FCFTX1FZHG04, imei 355350085471365 gắn một thẻ sim điện thoại số 0903.191.xxx của Nguyễn Tuấn A. Vật chứng trên được chuyển đến Cơ quan thi hành án dân sự chờ xử lý.

Tại bản cáo trạng số 58/ CT-VKS-P3 ngày 05/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn Anh về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, trong phần luận tội đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự; đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Tuấn A từ 13 (Mười ba ) năm tù đến 14 ( Mười bốn ) năm tù.

Về hình phạt bổ sung: Trước khi phạm tội bị cáo là lao động tự do, không có nghề nghiệp và không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Số tiền bị cáo Nguyễn Tuấn A chiếm đoạt của bị hại là ông Nguyễn Văn H1 số tiền 1.906.000.000đ (Một tỷ chín trăm linh sáu triệu đồng), Nguyễn Tuấn A đã trả lại cho ông H1 120 triệu đồng, số tiền còn lại 1.786.000.000đ (Một tỷ bảy trăm tám mươi sáu triệu đồng), đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 589 BLDS buộc bị cáo Nguyễn Tuấn A phải có trách nhiệm bồi thường cho ông Nguyễn Văn H1 số tiền còn lại 1.786.000.000đ (Một tỷ bảy trăm tám mươi sáu triệu đồng).

Về vật chứng: Đối với 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus màu đen đã qua sử dụng, seri: FCFTX1FZHG04, imei 355350085471365 gắn một thẻ sim điện thoại số 0903.191.xxx thu của Nguyễn Tuấn A bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét sử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS, khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu sung nộp ngân sách nhà nước.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí HSST và án phí DS giá ngạch theo quy định pháp luật.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng. Bị cáo không có ý kiến bào chữa. Tại phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Luật sư bào chữa của bị cáo đồng ý với tội danh và điều luật mà VKSND tỉnh Thanh Hoá truy tố. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo. Bị cáo tự

nguyện đầu thú. Bị cáo đã khắc phục bồi thường cho bị hại 01 phần tiền là 120.000.000 đồng.trước khi phạm tội bị cáo tích cực ủng hộ quỹ khuyến học, quỹ hộ nghèo, ủng hộ dịch Covid tại địa phương, gia đình bị cáo có bố mẹ có công với cách mạng được tặng thưởng huân chương kháng chiến chống mỹ, gia đình bị cáo hiện đang thờ cúng chú ruột bị cáo là liệt sĩ Nguyễn Ngọc B1. Do vậy đề nghị HĐXX căn cứ điểm s,b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử bị cáo mức hình phạt thấp hơn mức hình phạt của Viện kiểm sát đề nghị.

Đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến tranh luận với luật sư bào chữa cho bị cáo.

Người bị hại tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải trả cho bị hại số tiền đã chiếm đoạt. Về hình phạt đề nghị hội đồng xét xử theo quy định pháp luật.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của điều tra viên, kiểm sát viên, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa, một lần nữa bị cáo Nguyễn Tuấn A khai nhận: Do động cơ mục đích tư lợi, cần tiền chi tiêu mục đích cá nhân Nguyễn Tuấn A đã tạo ra vỏ bọc là doanh nhân thành đạt, là giám đốc Công ty cổ phần T đang kinh doanh làm ăn hiệu quả (thực tế Công ty trên đã ngừng hoạt động từ năm 2018), từ đó tạo sự tin tưởng đối với ông Nguyễn Văn H1. Trong thời gian từ 14/7/2020 đến ngày 14/11/2022 tại huyện N, tỉnh Thanh Hóa, Nguyễn Tuấn A đã dùng thủ đoạn gian dối nói dối công ty đang làm ăn tốt, cần tiền đầu tư làm cho ông Nguyễn Văn H1 tin tưởng và chuyển cho Nguyễn Tuấn A số tiền là 1.906.000.000đ (Một tỷ chín trăm linh sáu triệu đồng), sau đó Tuấn A đã chiếm đoạt toàn bộ số tiền trên.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với biên bản làm việc, lời khai của người bị hại, người làm chứng, tang vật thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Tuấn A có đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tội danh và khung hình phạt được qui định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật hình sự.

Do vậy cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh T khởi tố bị cáo, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn A về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo qui định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[3]. Về tính chất vụ án: Bị cáo đã lợi dụng sự tin tưởng của bị hại dùng thủ đoạn gian dối, nói dối bị hại làm cho bị hại tin tưởng và chuyển tiền cho bị cáo. Sau khi nhận được tiền bị cáo đã chiếm đoạt toàn bộ số tiền của bị hại để chi tiêu cá nhân.

Hành vi của Nguyễn Tuấn A đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác, xâm phạm trật tự an toàn công cộng là hành vi nguy hiểm cho xã hội, do đó cần phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

Luật sư bào chữa cho bị cáo tại phiên toà có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo do bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 120.000.000 đồng. Thấy rằng số tiền bị cáo chiếm đoạt của bị hại là 1.906.000.000đ (Một tỷ chín trăm linh sáu triệu đồng), bị cáo mới bồi thường cho bị hại nhiều lần tổng 120.000.000 đồng số tiền bồi thường quá ít so với số tiền bị cáo chiếm đoạt của bị hại, do đó bị cáo chỉ được xem xét tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 điều 51 BLHS. Vì vậy đề nghị của luật sư áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS là chưa chính xác và không được chấp nhận.

[4]. Về nhân thân và trách nhiệm hình sự của bị cáo: Mặc dù bị cáo nhân thân chưa có tiền án tiền sự nhưng bị cáo phạm tội nhiều lần, số tiền chiếm đoạt 1.906.000.000đ (Một tỷ chín trăm linh sáu triệu đồng). Với tính chất vụ án, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, việc cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian là cần thiết, nhằm cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

[4.1]. Về tình tiết tăng nặng: Bị caó phải chịu tình tiết tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên”, quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS.

[4.2]. Về tình tiết giảm nhẹ:Trong quá trình điều tra, xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình, sau khi phạm tội bị cáo đã đến cơ quan công an đầu thú, bị cáo đã khắc phục bồi thường cho bị hại 01 phần tiền là 120.000.000 đồng, trước khi phạm tội bị cáo tích cực ủng hộ quỹ khuyến học, quỹ hộ nghèo, ủng hộ dịch Covid tại địa phương, gia đình bị cáo có bố mẹ có công với cách mạng được tặng thưởng huân chương kháng chiến chống mỹ, gia đình bị cáo hiện đang thờ cúng chú ruột bị cáo là liệt sĩ Nguyễn Ngọc B1 nên áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Trước khi phạm tội bị cáo là lao động tự do, không có nghề nghiệp và không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6]. Về trách nhiệm dân sự: Theo bị hại báo cáo số tiền bị cáo Nguyễn Tuấn A chiếm đoạt của bị hại là 1.906.000.000đ (Một tỷ chín trăm linh sáu triệu đồng). Hiện tại bị cáo đã trả cho bị hại 120.000.000 đồng .Tại phiên tòa bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường. Bị cáo cũng đồng ý bồi thường số tiền này cho bị hại. Nên căn cứ vào Điều 589 BLDS buộc bị cáo Nguyễn Tuấn A phải có trách nhiệm bồi thường cho ông Nguyễn Văn H1 số tiên 1.786.000.000đ (Một tỷ bảy trăm tám mươi sáu triệu đồng)

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật bị hại có đơn yêu cầu Cơ quan Thi hành án có quyết định thi hành án, bị cáo không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ khoản tiền phải bồi thường thì bị cáo phải chịu khoản tiền lãi chậm trả tương ứng với số tiền chưa thi hành theo lãi suất quy định tại điều 357 và Điều 468 BLDS.

[7] Về vật chứng: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen cũ đã qua sử dụng bị cáo dùng vào việc phạm tội nên áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 106 BLTTHS Tịch thu của bị cáo để sung nộp ngân sách nhà nước.

Hiện vật chứng trên đang được lưu giữ tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hoá

[8]. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, b khoản 1 Điều 23; Điều 27 Nghị quyết 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST và 65.580.000 đồng án phí DS.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 589; điều 357 và Điều 468 BLDS; khoản1, điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, b khoản 1 Điều 23; Điều 27 Nghị quyết 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tuấn A phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tuấn A 13 ( Mười ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày19/11/2023

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại ông Nguyễn Văn H1 số tiên 1.786.000.000đ (Một tỷ bảy trăm tám mươi sáu triệu đồng) .

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật bị hại có đơn yêu cầu, Cơ quan Thi hành án có quyết định thi hành án, bị cáo không thi hành hoặc thi hành không

đầy đủ khoản tiền phải bồi thường nêu trên thì bị cáo phải chịu khoản tiền lãi chậm trả tương ứng với số tiền chưa thi hành theo lãi suất quy định tại điều 357 và Điều 468 BLDS.

Người được thi hành án, người phải thi hành án có yêu cầu thi hành án, quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6,7,9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Về vật chứng: Tịch thu của bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen cũ đã qua sử dụng.

Hiện vật chứng trên đang được lưu giữ tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hoá theo biên bản giao nhận vật chứng số 37/2025/TV-CTHADS ngày 18/12/2024 giữa cơ quan CSĐT- Công an tỉnh T và Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Thanh Hoá.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 65.580.000 đồng án phí dân sự giá ngạch.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, bị hại. Người bào chữa cho bị cáo. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hoá (P2);
  • - Bị cáo; bị hại;
  • - Công an tỉnh Thanh Hóa (PC02);;
  • - Trại tạm giam công an tỉnh Thanh Hóa;
  • - Cục THADS tỉnh Thanh Hóa;
  • - Lưu hồ sơ vụ án; Lưu tòa HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà

Hoàng Thị Nguyệt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2025/HSST ngày 24/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 23/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tuấn A "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger